Bản án số 537/2026/DS-PT ngày 02/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 537/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 537/2026/DS-PT ngày 02/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 537/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 537/2026/DS-PT Bản án số 537/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 537/2026/DS-PT Bản án số 537/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 537/2026/DS-PT
Ngày: 02/6/2026.
V/v tranh chấp đòi lại quyền sử dụng
đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Định.
Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Hùng.
Bà Nguyễn Thị Thùy Trang.
- Thư phiên tòa: Trần Thị Thu Trang - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02/6/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý s529/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng 4 năm
2026 về việc: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 132/2025/DS-ST, ngày 20 tháng 10 năm 2025
của Tòa án nhân dân 4 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 580/2026/QĐ-PT ngày
13 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Huỳnh Thị L, sinh m 1952. Nơi trú: Ấp T, T,
thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
Người đại diện theo y quyền của nguyên đơn: Nguyễn Văn Ú, sinh năm
1992. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1969. Nơi trú: Ấp T, T,
huyện C, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Hoàng Minh T, sinh năm
1988. Địa chỉ ấp T, xã C, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1979. (Vắng mặt).
3.2. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1983. (Vắng mặt).
3.3. Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1992. (Có mặt).
2
Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
3.4. Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1987. Địa chỉ khu vực P, phường T,
thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền ông M, ông N, ông Ú: Nguyễn Văn Ú, sinh
năm 1992. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
3.5. Bà Nguyễn Thị Thu M1, sinh năm 1973. (Có mặt).
3.6. Cháu Nguyễn Quốc H, sinh năm 2013. (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
3.7. Bà Trần Thị S, sinh năm 1932, chết ngày 21/9/2024.
Người kế thừa quyền, nghĩa v bà Trần Thị S, gồm:
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1960. (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1964. (Có mặt).
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1969. (Có mặt).
Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Nguyễn Thị N2, sinh năm 1966. Nơi trú: Ấp T, T, thành phố
Cần Thơ. (Vắng mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Lệ .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án, quyết định bản
án sơ thẩm và nội dung kháng cáo được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn trình bày: Phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa 1137
phía chồng L ông Nguyễn Văn H1 được cấp giấy đất từ năm 1990 cho
đến nay, di chúc ông C và bà S lập năm 1995 không phù hợp quy định pháp luật,
bởi lẽ thửa đất này thuộc quyền sử dụng của ông Bé H1. Tuy nhiên, cho đến hiện
tại thì ông C, S tặng cho đất cho các con theo đúng nội dung di chúc năm 1995.
Như vậy, cha mẹ cũng chia phần cho các con trong đó ông Nguyễn Văn D, ông
D không nuôi dưỡng cha mẹ mà do ông Bé H1 nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông D chỉ
nuôi dưỡng cha mẹ già từ năm 2012 cho đến nay. Đối với phần đất hơn 200m
2
còn lại theo tờ di chúc năm 1995 thì vợ chồng ông C đã chuyển nhượng đất cho
người khác. Riêng phần đất tranh chấp phần đất của vợ chồng ông H1. Từ
đó, bà L nhận thấy yêu cầu độc lập của S không phù hợp và nên bà Huỳnh Thị
L yêu cầu ông D trả lại nhà phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế diện tích
292,1m
2
.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn D đồng thời người kế thừa quyền, nghĩa vụ
của bà Trần Thị S có đại diện theo ủy quyền trình bày: Cha mẹ ông Nguyễn Văn
D là ông Nguyễn Văn CTrần Thị S các người con gồm ông Nguyễn Văn
D, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Văn N1. Lúc
sinh thời cha mẹ ông D tạo lập nhiều đất và đến năm 1995 vợ, chồng ông C, bà S
3
lập di chúc cho các con gồm ông H1, ông D, T2, N2 ông N1 mỗi
người hơn 5 công đất ruộng, phần đất thổ nhà cũng chia cho 03 người con
trai ông D, ông H1 ông N1. Riêng phần diện tích còn lại khoảng hơn
200m
2
vợ, chồng ông C, S sinh sống, sau này ai phụng dưỡng sẽ giao lại cho
người đó. Năm 2017, ông Nguyễn Văn H1 chết, năm 2021 ông Nguyễn Văn
C chết thì gia đình chôn ông C trên phần đất vợ, chồng ông C sinh sống từ trước
cho đến nay thì phía chị dâu là Huỳnh Thị L và các con L ngăn cản không
cho chôn cất trên phần đất hơn 200m
2
này, sau khi chính quyền địa phương can
thiệp thì ông C mới được chôn cất. Ông Nguyễn Văn D chăm sóc phụng dưỡng
cha mẹ từ năm 2007 cho đến nay nên ông khởi kiện yêu cầu công nhận phần đất
theo đo đạc thực tế 292,1m
2
để làm thủ thờ phụng dưỡng mẹ già. Tuy nhiên, ông
D thấy rằng phần đất này của cha, mẹ S còn sống đang sinh sống trên
thửa đất này nên ông rút yêu cầu khởi kiện để bà Trần Thị S có thay đổi, bổ sung
yêu cầu độc lập yêu cầu bà Huỳnh Thị Lcác con ông Bé H1 gồm Nguyễn Văn
Ú, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Thùy T3 trả lại phần đất diện tích
292,1m
2
(phần B, phần E) công nhận lối đi chung diện tích 107,7m
2
. Ngày
21/9/2024 bà Trần Thị S chết, phía ông D với tư cách kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng của S thống nhất theo yêu cầu độc lập của S. Tại phiên toà, thay đổi,
bổ sung cụ thể yêu cầu:
- Yêu cầu Huỳnh Thị L và các con ông H1 gồm Nguyễn Văn Ú,
Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Thùy T3 trả lại phần đất diện tích
217,9m
2
(phần diện tích B).
- Yêu cu công nhn phần đất din tích 74,2m
2
(phn din tích E) thuc
quyn s dụng đất chung.
- Yêu cu ng nhận lối đi chung diện tích 107,7m
2
. (Phần diện tích C, F)
* Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của Trần Thị S Nguyễn Thị T2,
ông Nguyễn Văn N1 trình bày: Hai ông con ruột Trần Thị S ông
Nguyễn Văn C, trước năm 1970 cha mẹ khai hoang phần đất thổ diện tích
khoảng 1.200m
2
trong đó có phần đất tranh chấp. Năm 1989, Nhà nước có chính
sách khai để cấp giấy đất, tuy nhiên cha mẹ khó khăn đi làm xa nên nhờ ông
Nguyễn Văn Bé H1 (chồng bà L) kê khai hộ và sau đó ông Bé H1 đại diện hộ gia
đình đứng tên quyền sử dụng đất. Ngày 23/3/1995 cha mẹ làm di chúc chia
mỗi người con đất ruộng để canh tác, còn phần đất thổ làm phủ thờ với tâm
nguyện khi nào cha mẹ mất thì giao lại cho người nào ở chung và nuôi dưỡng khi
qua đời. Năm 2016, khi cha còn sống đã phát hiện phần đất thổ cư do ông Bé H1
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cha có đến UBND xã trình báo
ông H1 cam kết giao lại phần đất này cho cha mẹ, khi chưa thực hiện thì
năm 2017 ông H1 chết. Bà L là vợ và các con anh B H1 nhiều lần đuổi cha mẹ
ra khỏi nhà để chiếm đoạt phần đất cha, mẹ đang ở. Ngày 17/9/2020 cha có đơn
yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai với L, tuy nhiên thời điểm này cha lâm
bệnh nặng nên ông D đi thay, sau đó thì cha mất. Sau này, mẹ là bà Trần Thị S
yêu cầu độc lập yêu cầu L các con trả lại phần đất diện tích 217,9m
2
và giao
lại cho ông D quản lý, sử dụng là đúng với tâm nguyện của cha, mẹ.
4
* Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng bà Nguyễn Thị N2 vắng mặt. Tuy
nhiên, quá trình giải quyết vụ án N2 trình bày: xác định không ý kiến
hay yêu cầu gì trong vụ án và xin miễn tham gia tố tụng.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu M1 trình bày:
Thống nhất theo ý kiến trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của ông
Nguyễn Văn D, không trình bày gì thêm.
* Tại Bản án sơ thẩm số 132/2025/DS-ST, ngày 20 tháng 10 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ đã quyết định:
1. Không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn bà Hunh Th L v
vic yêu cu b đơn ông Nguyễn Văn D tr li phần đất tranh chp din tích
292,1m
2
và căn nhà trên đất.
2. Đình chỉ gii quyết yêu cu khi kin ca ông Nguyễn Văn D do rút yêu
cu.
3. Chp nhn yêu cầu độc lp ca bà Trn Th S người kế tha quyn,
nghĩa vụ t tng ông Nguyn Văn D, ông Nguyễn Văn N1, Nguyn Th T2,
Nguyn Th N2 đối vi Hunh Th L các đồng tha kế ca ông Nguyễn Văn
Bé H1 (chết) gm anh Nguyễn Văn Ú, anh Nguyễn Văn N, anh Nguyễn Văn M,
chị Nguyễn Thị Thùy T3.
Buộc Hunh Th L các đồng tha kế ca ông Nguyễn Văn H1
gm anh Nguyễn Văn Ú, anh Nguyễn Văn N, anh Nguyễn Văn M, chị Nguyễn
Thị Thùy T3 trả lại quyền sdụng đất diện tích 217,9m
2
cho Trần Thị S
hàng thừa kế gồm ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thị T2,
Nguyễn Thị N2 hàng thừa kế của ông Nguyễn Văn H1. Giao phần đất
diện tích 217,9m
2
và căn nhà trên đất cho ông D đại diện quản lý, sử dụng.
Công nhn phần đất din tích 74,2m
2
(phn din tích E) thuc quyn s
dụng đất chung gia hàng tha kế Trn Th S, ông Nguyễn Văn C vi h gia
đình bà Hunh Th L .
Công nhn phần đất din tích 107,7m
2
(gm phn din tích C, din tích F)
là lối đi chung.
Kiến nghị quan Nhà nước thẩm quyền thu hồi một phần diện tích
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02244 cấp ngày 03/6/2014 do ông
Nguyễn Văn H1 đại diện hộ gia đình đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Vị trí, kích thước phần đất giao cho ông Nguyễn Văn D đại diện quản lý,
sử dụng theo bản trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên Môi
trường thành phố C lập ngày 03/02/2023.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về án phí dân sự thẩm, chi phí tố
tụng và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
* Ngày 29/10/2025, người đại diện theo y quyền của nguyên đơn bà
Huỳnh Thị L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự
5
thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện giữ nguyên kháng cáo, bị đơn giữ nguyên ý kiến,
người kế thừa quyền nghĩa vụ của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trần Thị S giữ nguyên yêu cầu độc lập. Các đương sự không tự thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ chấp
hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm tại phiên tòa phúc thẩm.
Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo và
cho rằng kháng cáo của nguyên đơn không sở chấp nhận đề nghị áp
dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giữ nguyên Bản án dân sự
sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án, được thẩm tra các
chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị
của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Người kháng cáo, nội dung hình thức đơn kháng cáo,
thời hạn kháng cáo của nguyên đơn là đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272
Điều 273 Bộ luật Ttụng dân sự năm 2015, kháng cáo hợp lệ và đúng theo
luật định nên vụ án được xét xtheo trình tự phúc thẩm đối với nội dung kháng
cáo và các vấn đề có liên quan đến việc kháng cáo.
[2]. Vsự mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thị N2 đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 tham gia phiên toà nhưng vắng mặt. Hội đồng xét x
căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt
đối với những người trên.
[3]. Xét kháng cáo của nguyên đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng
theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện mặt dù trước đây Tòa án cấp sơ
thẩm xác định ông D vẫn là nguyên đơn trong khi ông D đã rút đơn khởi kiện, bị
đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình, như vậy bị đơn trở thành nguyên
đơn nguyên đơn trở thành bị đơn theo khoản 1 Điều 245 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015, sau đó đến ngày 15/9/2025 Tòa án nhân dân Khu vực 4 Cần Thơ
đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và xác định lại nguyên đơn bà Huỳnh Thị L,
bị đơn ông Nguyễn Văn D, nhưng bản án sơ thẩm không nhận định về việc thay
đổi địa vị tố tụng là thiếu sót nhưng cũng đã xem xét, đánh gchứng cứ về yêu
cầu của bà L, do đó không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của L.
[4]. Ngày 07/9/2023 bà Trần Thị S có đơn yêu cầu độc lập và được Tòa án
cấp thẩm thụ đúng quy trình tố tụng, thấy rằng theo quy định của pháp luật tố
tụng không bắt buộc đương sự lớn tuổi phải khám sức khỏe để chứng minh năng
lực khi đi khởi kiện. Tuổi tác đơn thuần không phải căn cứ tước đi quyền tự
mình tham gia tố tụng, miễn là người đó đủ 18 tuổi, như vậy việc nguyên đơn cho
6
rằng phải xem xét nhận thức năng lực hành vi dân sự của Trần Thị S để xác
định cách tố tụng không căn cứ. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ u
cầu độc lập của bà S đến ngày 21/9/2024, việc nguyên đơn cho rằng sau khi bà S
chết phải chấm dứt quyền nghĩa vụ theo quy định điểm a khoản 1 Điều 217 của
Bộ luật Tố tụng dân sự là không chính xác, bởi vì Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu
cầu độc lập của S đúng quy trình tố tụng. Theo quy định của pháp luật hiện
hành, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng khi đương sự chết bắt buộc phải
người còn sống người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng phải trách nhiệm
tham gia tố tụng để tiếp tục giải quyết vụ án thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong
phạm vi di sản do người chết để lại, đối với những người con của ông Nguyễn
Văn Bé H1 là thừa kế thế vị khi có yêu cầu chia thừa kế. Tại khoản 1 Điều 5 của
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định Đương sự quyền quyết định việc khởi kiện,
yêu cầu Tòa án thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ giải
quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự chỉ giải
quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”. Do đó việc nguyên đơn cho
rằng S không văn bản pháp nào chứng minh chủ thể tài sản nên chưa
quyền về tài sản cho nên Tòa án cấp thẩm đưa những người con còn sống
của bà S vào tham gia tố tụng là trái quy định là không có căn cứ. Như vậy sau
S chết, Tòa án cấp thẩm đã xác người những người con của S gồm ông
Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị N2
những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của S đúng theo quy định
tại khỏan 1 Điều 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5]. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, các đương sự đều thừa
nhận nguồn gốc đang tranh chấp của ông Nguyễn Văn C, Trần Thị S. Năm
1995, vợ chồng ông C lập tờ di chúc cho mỗi người con trong đó ông Bé H1,
ông D, T2, N2, ông N1 mỗi người hơn 05 công đất ruộng, riêng con trai mỗi
người một nền thổ trong đó ông H1. Mặc dù, tờ di chúc về hình thức
không đúng, đất cũng do ông H1 đại diện hộ đứng tên, nhưng nguyên đơn
cũng như các đương sự khác thừa nhận cho đến hiện tại các người con vẫn s
dụng đất mà ông C, bà S tặng cho theo đúng nội dung di chúc năm 1995, ngoài ra
trong tờ di chúc ngày 23/3/1995 ông Bé H1 cũng tên vào di chúc đều này thể
hiện phần đất là của ông C và bà S. Mặt khác, tại biên bản hòa giải tranh chấp đất
đai ngày 19/5/2021 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C trước đây bà L thống nhất
tách phần đất tranh chấp này cho vợ, chồng C theo hiện trạng và lối đi công cộng
như bản trích đo địa chính số 59 ngày 09/01/2023 của Trung tâm K thuộc Sở Tài
nguyên và Môi trường thành phố C. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận
yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
[6]. Tại khoản 1 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định Nhà nước
khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp
đất đai thông qua hòa giải sở”. Tại biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày
19/5/2021 của Ủy ban nhân dân xã T thể hiện các bên tranh chấp là ông Nguyễn
Văn D và bà Huỳnh Thị L, sau đó ông D khởi kiện L và L có yêu cầu phản tố,
như vậy tranh chấp này đã được hòa giải cơ sở.
7
[7]. Đối với điều kiện tách thửa, thấy rằng tại khoản 2 Điều 5 Quy định
chuyển tiếp của Quyết định số 44/QĐ-UBND ngày 11/12/2025 của Ủy ban nhân
dân thành phố C có quy định Trường hợp tách thửa đất, hợp thửa đất đã được
giải quyết theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân
dân cấp có thẩm quyền công nhận; thực hiện quyết định hành chính giải quyết
tranh chấp, khiếu nại về đất đai; bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân
trước ngày Luật Đất đai số 31/2024/QH15 hiệu lực thi hành thì việc tách thửa
đất, hợp thửa đất thực hiện theo kết quả giải quyết đó”. Như vậy theo Quyết
định số 44/QĐ-UBND ngày 11/12/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố C quy
định diện tích đất ở của toàn bộ các phường diện tích tối thiểu là 40m
2
, diện tích
đất trồng cây lâu năm toàn bộ các phường 150m
2
. Do đó kháng cáo của nguyên
đơn cho rằng quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm về điều kiện tách thửa
là không có căn cứ.
[8]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng đối
với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc hủy toàn bộ Bản án dân sự
thẩm là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
[9]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên sở, nên Hội đồng xét xử phúc
thẩm chấp nhận.
[10]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn án phí theo quy
định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn khoản 1 Điều 29 ca Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-
12-2016 ca Ủy ban Thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu,
np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án.
1. Không chp nhn kháng cáo của nguyên đơn Hunh Th L v vic
hủy Bản án dân sự sơ thẩm. Gi nguyên Bn án dân s sơ thẩm số 132/2025/DS-
ST, ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 Cần Thơ.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Hunh Th L đưc min án
phí theo quy định.
3. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân s(sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người
phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,
7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa
đổi, bổ sung năm 2014).
8
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND Khu vực 4- Cần Thơ;
- VKSND Khu vực 4-Cần Thơ;
- Phòng THADS Khu vực 4-Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu VP, TDS, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Quốc Định
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 537/2026/DS-PT Bản án số 537/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 537/2026/DS-PT Bản án số 537/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất