Bản án số 1133/2026/DS-PT ngày 03/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1133/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1133/2026/DS-PT ngày 03/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1133/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1133/2026/DS-PT Bản án số 1133/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1133/2026/DS-PT Bản án số 1133/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số:1133/2026/DS-PT
Ngày: 03 - 6 - 2026
V/v tranh chấp kiện đòi tài sản
quyền sử dụng đất tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
- Thư phiên tòa: Thị Thuỳ - Thư Tòa án nhân dân Thành phố H
Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 5 03 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm s
616/2026/TLPT-DS ngày 30/3/2026 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản
quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 345/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2689/2026/QĐXXPT-DS ngày
22 tháng 04 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:ơng Nữ Bích T6, sinh năm 1984; trú tại: A khu phố
B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay A khu phố B, phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Thanh N, sinh năm
1980; trú tại: A M, tổ I, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí
Minh (nay là A M, tổ I, khu phố E, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Địa chỉ
liên lạc: 194 đường Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay 194
2
đường ĐX071 khu phố E, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh), người đại
diện theo y quyền, theo văn bản ủy quyền ngày 22/5/2023.
2. Bị đơn: ơng Nữ Băng T, sinh năm 1977; CCCD số:
************ cấp ngày 22/4/2021; trú tại: A khu phố B, phường B, thành phố
T, tỉnh Bình Dương (nay là A khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh)
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Trịnh Thị Thục A, sinh năm
2002, CCCD số: ************; địa chỉ: A, đường H, phường Đ, Thành phố Hồ
Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 27/01/2026).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, là
Luật Văn phòng Luật Nguyễn H Cộng sthuộc Đoàn Luật Thành
phố H.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1984; thường trú: A đường P, khu phố
L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay A đường P, khu phố L,
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh); chỗ ở: A khu phố B, phường B, thành phố
T, tỉnh Bình Dương (nay là A khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Bà Nguyễn Lương Mẫn N1, sinh năm 1996;
- Ông Nguyễn Hoàng N2, sinh năm 1998;
- Bà Nguyễn Hoàng Kim N3, sinh năm 2002;
- Ông Nguyễn Hoàng N4, sinh năm 2006.
Cùng trú tại: A khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay
là: A6E khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Ông Nguyễn Trung N5, sinh năm 1974; trú tại: 1 O court, S, tiểu bang
V, Ô-xtơ rây-Lia.
5. Người làm chứng:
- Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1954; trú tại A khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay A khu phố B, phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh).
- Ông Lương Quốc T2, sinh năm 1982; trú tại: A khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay A khu phố B, phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh).
- Ông Lương Quốc T3, sinh năm 1978; trú tại: A khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay A khu phố B, phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh).
- Bà Lương Nữ Diệu T4, sinh năm 1987; trú tại: A khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay A khu phố B, phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh).
3
Người kháng cáo: Nguyên đơn Lương Nữ Bích T6 và bị đơn bà Lương
Nữ Băng T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn ông Phan Thanh N nguyên đơn Lương Nữ Bích
T6 thống nhất trình bày:
Lương Nữ Bích T6 là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất số 332, tờ
bản đồ số 6, tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu
phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) và đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CH346640, số vào sổ cấp GCN: CS07697 do Sở tài nguyên
và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/5/2017.
Nguồn gốc của thửa đất do nhận chuyển nhượng của Lương Nữ
Băng T. chị em ruột với nhau nên sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, bà T không còn nhà để ở nên T6 đã để cho gia đình T ở nhờ bên
phần đất thuộc hành lang an toàn đường thủy (HLATĐT) tại căn nhà cấp 4, chiều
ngang 4,5m, dài 9,5m không cho bà T sử dụng diện tích đất còn lại của bà T6.
Quá trình sinh sống tại nhà đất nêu trên, gia đình bà T sản xuất bàn ghế gỗ và
sở sản xuất này đang gây ô nhiễm môi trường xung quanh, ảnh hưởng trực tiếp
đến gia đình bà T6 và các hộ lân cận.
Hiện tại gia đình T6 phải chịu ô nhiễm tiếng ồn từ máy cưa những
bụi bặm từ việc sản xuất của gia đình bà T. Mặt khác T còn xây dựng tường
rào chắn gây cản trở lối đi của T6 và các hộ lân cận mà không hỏi ý kiến của
T6. T6 đã nhiều lần yêu cầu T di dời tài sản trả lại nhà đất cho T6
và không được sử dụng phần đất của bà T6 để sản xuất gây ô nhiễm môi trường
nhưng bà T không đồng ý.
Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Lương Nữ Băng T
di dời tài sản để giao trả lại cho Lương Nữ ch T6 toàn bộ diện tích đất
114,1m
2
thuộc thửa đất số 332 tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại khu phố B, phường B,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định, sau khi nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, hai bên lập giấy thỏa thuận (không ghi thời gian) về việc vợ
chồng bà T6 đồng ý cho gia đình T lại bên phần hành lang đường thủy
(ngang 4,5m, dài 9,5m) vĩnh viễn không ai được quyền đòi lại. Nếu sau
này nnước nhu cầu thu hồi đất hành lang đường thủy thì vợ chồng T,
ông N5 sẽ trả lại cho nhà nước mà không có yêu cầu hay đòi hỏi gì. T6 cho
rằng có thỏa thuận này vì thời điểm chuyển nhượng đất, gia đình bà T khó khăn
không có ch ở, con cái đông và tình nghĩa chị em ruột nên thỏa thuận cho ở lại
trên đất hành lang đường thủy nhưng quá trình sinh sống hai bên mâu thuẫn
4
T6 không đồng ý cho gia đình T tiếp tục ở lại tại phần đất này. T6 yêu cầu
gia đình bà T dọn ra khỏi đất trả lại đất cho bà được quản lý, sử dụng và đồng ý
hỗ trợ chi phí di dời tài sản theo kết quả định giá.
Mặt khác, tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở ngày
12/5/2014 hai bên thỏa thuận sau khi bán xong bên A (bên chuyển nhượng)
được ở lại tại hành lang đường thủy nhưng khi bên B (bên nhận chuyển nhượng)
bán lại cho người khác thì bên A phải di dời, bên B sẽ không bồi thường tiền nhà
ở, phí di dời theo pháp luật, bên A không được thưa kiện, mc đích ghi như vậy
đnếu bà T6 chuyển nhượng đất cho người khác thì họ không đuổi gia đình
bà T ra khỏi đất.
T đã giao nhà đất cho T6 quản lý, sử dụng s hữu từ ngày
01/01/2016 đối với diện tích 206,3m
2
bao gồm cả diện tích đất hành lang bảo vệ
an toàn đường thủy đã tự chừa 4m ngang để làm đường đất để đi lại phía trước
nhà và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07697 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/5/2017.
Đối với 01m phía sau 02 căn nhà trong bản vẽ thể hiện thuộc đất của ông
Nguyễn Bình T5 là không đúng vì đã được cắm mốc xác định ranh đất thuộc về
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07697 đã giải quyết tại Bản án số
30/2014/DS-PT ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh.
Về kết quả định gnguyên đơn thống nhất. Đối với bản vẽ do bị đơn yêu
cầu đo đạc lại do Chi nhánh Công ty cổ phần T7 thực hiện, nguyên đơn không
đồng ý yêu cầu Tòa án sử dụng kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng
đất đai thành phố T (nay chi nhánh văn phòng Đ) làm căn cứ giải quyết
tranh chấp.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, nguyên đơn không đồng ý vì hai bên
đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nguyên đơn đã giao hết
600.000.000 đồng, thanh toán làm 02 đợt.
Đợt 1: Ngày 12/5/2014, bà T6 thanh toán cho T 440.000.000 đồng để
bà T thanh toán cho ngân hàng và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về do
trước đó bà T vay ngân hàng nhưng không khả năng trả nợ. Hai bên thỏa
thuận ghi vào trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở ngày
12/5/2014.
Đợt 2: Ngày 01/01/2016, T6 thanh toán 140.000.000 đồng cấn trừ
số tiền trước đó T vay T6 cộng lại 20.000.000 đồng nên tổng
160.000.000 đồng bà T xác nhận đã nhận đủ 160.000.000 đồng và tự ghi mặt
sau hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dng đất và nhà ở ngày 12/5/2014.
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm: Biên bản hòa giải; giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, giấy ủy quyền; Bản án số 30/2014/DS-PT ngày
5
23/01/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nở ngày 12/5/2014 v.v.
Theo đơn phản tố, quá trình tố tụng tại phiên tòa bị đơn Lương Nữ
Băng T trình bày:
Thửa đất 332, tờ bản đồ 6 (C1), diện tích 206,3m
2
tại khu phố B, phường
B, thành phố T, tỉnh Bình Dương là do bà Nguyễn Ngọc T1 tặng cho con
T và bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02714/BN do Ủy
ban nhân dân thị T cấp ngày 19/4/2012. Trên đất T xây dựng 02 căn
nhà cấp 4, trong đó 01 căn gia đình bà T6 đang ở là căn A6F và 01 căn hiện tại
gia đình bà T đang ở là căn A6E.
Do T nợ ngân hàng 250.000.000 đồng từ năm 2013, vay 05 năm tất
toán năm 2017. T6 có đưa cho T 300.000.000 đồng (bà T6 đưa cho bà T
02 lần, lần đầu ghi nhận thêm 140.000.000 đồng; lần 2 ghi nhận đ160.000.000
đồng là 300.000.000 đồng được ghi ở mặt sau tờ giấy chuyển nhượng quyền sử
dụng đất nhà chỉ một mình bà T tên. Mục đích T6 đưa tiền để
bà T thanh toán cho ngân hàng và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về do
trước đó bà T có vay bà T6 nhiều lần tiền để chi tiêu, đóng tiền học phí cho con
nên bà T6 cộng lại hết 140.000.000 đồng được ghi vào mặt sau của tờ hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhà ngày 12/5/2014 T6 cộng lại thành
440.000.000 đồng, 02 người làm chứng bà Lương Nữ Diệu T4 ông
Lương Quốc T3 ký tên, lăn tay làm chứng. T chuyển nhượng nhà đất cho bà
T6 giá 600.000.000 đồng, đã giao 440.000.000 đồng nên còn 160.000.000 đồng
T6 hứa giao vào ngày 01/01/2016 tại UBND xã B nhưng không giao.
Bà T đã ra Văn phòng C để ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà T6 ngày
22/4/2015, sau đó, bà T6 có yêu cầu bà T, ông N5 ra Văn phòng công chứng ký
hủy hợp đồng chuyển nhượng ngày 11/4/2017 lại hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 14/4/2017 về giá trong hợp đồng ghi 100.000.000 đồng
nhưng thực tế giá chuyển nhượng là 600.000.000 đồng. Bà T6 đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/5/2017 và đã quản sử dụng đất cùng
căn nhà A6F từ năm 2017 đến nay.
T đã sinh sống tại căn nhà A6E đã 11 năm (từ trước khi chuyển nhượng
nhà đất cho bà T6) bà T không chuyển nhượng phần nhà đất này. Do đó, việc
nguyên đơn cho rằng cho gia đình T ở nhờ trên đất hành lang đường thủy là
không đúng vì vậy bà T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xưởng mộc của gia đình bà T xây dựng vào năm 2020, không nằm trong
phần đất tranh chấp giữa bà T T6 nên T6 không có quyền yêu cầu gia
đình bà T phải di dời tài sản trả lại đất cho bà T6.
Về kết quả định giá, T không yêu cầu định giá lại và yêu cầu Tòa án sử
dụng kết quả bản vẽ do Công ty cổ phần T7 thực hiện làm căn cứ giải quyết tranh
chấp.
6
Đối với ông Nguyễn Trung N5, bà T xác định bà và ông N5 đã ly hôn từ
năm 2000 theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thuận tình
ly hôn số 381/QĐ-CNTL ngày 13/10/2000 của Tòa án nhân dân quận Bình
Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số
772/2025/UBND-XNTTHN ngày 18/7/2025 của UBND phường L, Thành phố
Hồ Chí Minh xác định T đã đăng kết hôn nhưng đã ly hôn theo Quyết định
số 381 nêu trên và hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai. Do đó, bà T xác định tài
sản đang tranh chấp là tài sản của cá nhân bà, không liên quan đến ông N5. Việc
ông N5 có ký tên trong hợp đồng chuyển nhượng với T6 với cách là người
chứng kiến.
Do T6 chưa thanh toán hết số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất
160.000.000 đồng nên bị đơn phản tố yêu cầu bà Lương Nữ Bích T6 phải hoàn
tất nghĩa vụ thanh toán phần còn lại tương đương với 27% giá tr căn nhà và đất
tại thời điểm làm đơn phản tố, số tiền 780.000.000 đồng.
Tài liệu chứng cứ bị đơn giao nộp gồm: Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/4/2017; hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 14/4/2017; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt
ngày 22/4/2025; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nngày
12/5/2014; giấy thỏa thuận; giấy chứng nhận hộ đăng kinh doanh, giấy chứng
nhận đăng thuế; hợp đồng tín dụng - khách hàng cá nhân, lịch trả nợ, giấy các
chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước, hộ khẩu
gia đình căn cước công dân của các con của T, quyết định công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự thuận tình ly hôn số 381/TL ngày 08/9/2000, giấy
xác nhận tình trạng hôn nhân, xác nhận thông tin cư trú .v.v.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Thanh L trình bày: Thống nhất với toàn bộ ý kiến trình bày và yêu
cầu của nguyên đơn bà Lương Nữ Bích T6 và không đồng ý với yêu cầu phản tố
của bị đơn.
Quá trình tố tụng, tại văn bản trình bày ý kiến ngày 09/9/2025 của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung N5 trình bày:
Ông N5 và T nguyên trước đây vợ chng nhưng đã ly hôn theo quyết
định số 381/QĐ-CNTL ngày 13/10/2000 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh,
Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết chia
tài sản. Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02714/BN do UBND thị
T cấp ngày 19/4/2012 thuộc thửa đất số 332, tờ bản đồ số 6 (C). Đây tài
sản riêng của bà T được mẹ ruột là bà T1 tặng riêng bà T. Ông N5 chỉ là người
phụ giúp T trông coi, quản sử dụng tài sản trên đất. Theo giấy xác nhận
tình trạng hôn nhân năm 2025, ông N5 và bà T đã ly hôn từ năm 2000 và không
đăng kết hôn lại. Ngoài ra, theo giấy xác nhận nơi trú do Công an cung
cấp thì ông N5 cũng không đăng ký thường trú, tạm trú tại địa chỉ này.
7
Việc ông N5 có tên trong hợp đồng công chứng năm 2017 là do bà Lương
Nữ Bích T6 yêu cầu ông ra UBND phường A1, quận B, Tp . để trích lục tình
trạng hôn nhân nhằm mục đích hoàn tất thủ tục công chứng sang tên. Ông N5
T làm theo đề nghị của bà T6 chứ bản chất đâytài sản riêng của bà T nên
quyền định đoạt tài sản là thuộc về bà T chứ không liên quan gì đến ông N5.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
N1, bà N3 và ông N4 trình bày: Thống nhất với toàn bộ ý kiến, yêu cầu phản
tố của bị đơn là bà Lương Nữ Băng T.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông N2 trình bày: Thống nhất với toàn bộ ý kiến, yêu cầu của bị đơn bà Lương
Nữ Băng T.
Đối xưởng mộc nhà tạm xây dựng nằm ngoài giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của T6 nên ông N2 yêu cầu được tiếp tục quản lý, sdụng và sản
xuất kinh doanh. Ông N2 làm xưởng mộc vào năm 2020, phường B vào kiểm
tra, xác nhận được Phòng tài chính kế hoạch thành phố T cấp giấy chứng nhận
hộ kinh doanh số 46F8046865 đăng lần đầu ngày 03/4/2023. Trường hợp nếu
phải trả lại đất cho nguyên đơn thì gia đình ông đồng ý di dời công trình đã xây
dựng trả lại đất cho nguyên đơn.
Quá trình tố tụng, người làm chứng bà Nguyễn Ngọc T1 trình bày: T1
là mẹ ruột của bà Lương Nữ Bích T6 và bà Lương Nữ Băng T.
Nguồn gốc nhà thửa đất số 332 diện tích 206,3m
2
tại khu phố B, phường
B, thành phố T, tỉnh Bình Dương của T1 tặng cho riêng Lương Nữ Băng
T năm 2012. Sau khi cho đất, T ông Nguyễn Trung N5 mới cất nhà trên
đất để sau đó chuyển nhượng cho T6. Hai bên lập hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở ngày 12/5/2014, không công chứng, chứng
thực theo quy định pháp luật. Vợ chồng T chuyển nhượng hết toàn bộ thửa
đất 332 diện tích 206,3m
2
và tài sản trên đất có 01 căn nhà bà T6 đang ở. Bà T1
đã đi cùng bà T6 và bà T lên ngân hàng, chứng kiến việc bà T6 vay 500.000.000
đồng đã chuyển cho T, về nhà T đưa lại cho T6 60.000.000 đồng.
Đối với số tiền 160.000.000 đồng thì được giao nhận tại nhà của bà T6 đang
hiện nay, bà T1 chứng kiến việc T6 giao cho T 140.000.000 đồng còn
20.000.000 đồng giữa bà T6 và bà T cấn trừ nợ với nhau nhưng bà T có tự viết
vào mặt sau thợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhà ngày
12/5/2014 đã nhận đủ số tiền 160.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng
toàn bộ diện tích đất, vợ chồng bà T6, ông L đã đồng ý cho vợ chồng bà Lương
Nữ Băng T, ông Nguyễn Trung N5 cất nhà chiều ngang 4,5m x dài 9,5m trên
hành lang đường thủy ở vĩnh viễn mà không ai được quyền đòi lại. Nếu sau này
nhà nước có nhu cầu thu hồi hành lang đường thủy thì vợ chồng bà T và ông N5
sẽ trả lại cho nhà nước mà không yêu cầu hay đòi hỏi gì cả. Bà T1 và con là ông
Lương Quốc T2 có ký tên làm chứng cho thỏa thuận này.
Quá trình tố tụng tại phiên tòa, người làm chứng ông Lương Quốc
8
T2 trình bày:
Ông T2 anh trai của bà Lương Nữ Bích T6 là em trai của bà Lương
Nữ Băng T. Vợ chồng Lương Nữ Băng T, ông Nguyễn Trung N5 Lương
Nữ Bích T6 đã thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở. Hai bên
lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhà ngày 12/5/2014,
không công chứng, chứng thực, diện tích chuyển nhượng 206,3m
2
, thuộc thửa
332 với giá 600.000.000 đồng. Đợt 1 ngày 12/5/2014 T6 thanh toán số tiền
440.000.000 đồng. Đợt 2 ngày 01/01/2016 T6 thanh toán cho bà T số tiền
160.000.000 đồng khi ra giấy tờ sang nhượng. Thời hạn giao nhà đất + nhà
ở là 01/01/2016. Hai bên còn thỏa thuận bênT6 (bên B) chịu trách nhiệm lập
thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trong thời gian ktừ ngày ký hợp
đồng này đến khi giao đất và nhà thì bên A (bên bà T, ông N5) có tiền sẽ chuộc
lại gồm tiền cọc đợt 1 cộng thêm 2% tiền lời. Sau khi bán xong, bên B cho bên
A ở lại tại hành lang đường thủy nhưng khi bên B bán lại cho người khác thì bên
A phải di dời (bên B sẽ bồi thường tiền nhà +chi phí di dời theo pháp luật) Bên
A không được thưa kiện. Ông T2 xác định ông làm chứng cho việc thỏa thuận
chuyển nhượng đất, nhà còn việc giao tiền giữa hai bên ông không chứng kiến.
Quá trình tố tụng, người làm chứng ông Lương Quốc T3 và bà Lương Nữ
Diệu T4 thống nhất trình bày: Ông T3 là anh trai của Lương Nữ Bích T6
là em trai của bà Lương Nữ Băng T, bà T4 em của bà T, bà T6. Vợ chồng bà
Lương Nữ Băng T Nguyễn Trung N5 với Lương Nữ Bích T6 đã thỏa thuận
chuyển nhượng quyền sdụng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất
và nhà ở ngày 12/5/2014 và không công chứng, chứng thực theo quy định pháp
luật. Hai bên thỏa thuận vợ chồng bà T chuyển nhượng cho bà T6 thửa đất 332,
diện tích chuyển nhượng 206,3m
2
với giá 600.000.000 đồng. Đợt 01 ngày
12/5/2014 bà T6 giao số tiền 440.000.000 đồng. Đợt 02 ngày 01/01/2016 bà T6
thanh toán cho bà T số tiền 160.000.000 đồng khi ra xã ký giấy tờ sang nhượng.
Thời hạn giao nhà đất + nhà ở là 01/01/2016. Hai bên còn thỏa thuận bên bà T6
(bên B) chịu trách nhiệm lập thủ tục chuyển nhượng quyền sdụng đất. Trong
thời gian kể từ ngày ký hợp đồng này đến khi giao đất và nhà thì bên A (bên bà
T, ông N5) có tiền sẽ chuộc lại gồm tiền cọc đợt 01 cộng thêm 2% tiền lời. Sau
khi bán xong bên B cho bên A ở lại tại hành lang đường thủy nhưng khi bên B
bán lại cho người khác thì bên A phải di dời (bên B sẽ bồi thường tiền nhà +
chi phí di dời theo pháp luật) Bên A không được thưa kiện.
Ông T3 làm chứng cho việc thỏa thuận chuyển nhượng đất, nhà còn việc
giao tiền giữa hai bên ông không chứng kiến.
T4 xác định là bà làm chứng cho việc thỏa thuận chuyển nhượng đất,
nhà còn việc giao tiền 440.000.000 đồng được biết là T6 và bà T ra ngân
hàng làm thủ tục tất toán khoản vay của T tại ngân hàng nên hai bên giao
nhận ở đấy bà không rõ. Còn số tiền 160.000.000 đồng giao nhận tại nhà bà T6
đang hiện nay, bà có chứng kiến việc bà T6 giao tiền cho bà T để bà T xây căn
nhà đang ở, bà T nhận xong ttay ghi ở mặt sau tờ hợp đồng ngày 12/5/2014
9
về việc nhận đủ 160.000.000 đồng thực tế giao số tiền 140.000.000 đồng
20.000.000 đồng là T6 với bà T cấn trừ nợ trước đó bà T nợ T6 nên bà T
đã ghi rõ việc đã nhận đủ số tiền 160.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự thẩm số 345/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lương Nữ
Bích T6 đối với bị đơn bà Lương Nữ Băng T việc tranh chấp kiện đòi tài sản là
quyền sử dụng đất.
Buộc Lương Nữ Băng T trách nhiệm di dời tài sản phần mái che
khung sắt, mái bạt nhựa, nền xi măng 36,7m
2
thuộc HLBVĐT (trong đó có 22,2
m
2
xây dựng trên đất nông nghiệp thuộc HLATĐT, 8,7m
2
mái che xây dựng trên
đất thuộc HLATBVĐT 2,4m
2
mái che xây dựng trên đất nông nghiệp)
5,2m
2
mái che lấn đường thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CH07697/BN do UBND thị xã T cấp ngày 11/5/2017 thuộc thửa đất số 332, tờ
bản đồ số 6 (C) tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay
khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) để trả lại đất cho bà Lương Nữ
Bích T6 được quản lý, sử dụng.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lương
Nữ Bích T6 về việc yêu cầu bà Lương Nữ Băng T phải di dời tài sản là căn nhà
diện tích 34.5m
2
nằm trên HLATBVĐT thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CH07697/BN do UBND thị T cấp ngày 11/5/2017 thuộc thửa đất số
332, tờ bản đồ số 6 (C) tại khu phố B, phường B, thành phố T, tnh Bình Dương
(nay khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Gia đình T được tiếp
tục sinh sống tại căn nhà trên cho đến khi quan nhà nước có thẩm quyền xử
lý, thu hồi đất theo quy định pháp luật về đất đai.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
3. Ghi nhận sự tự nguyện của Lương Nữ Bích T6 về việc hỗ trợ chi
phí di dời tài sản cho bà Lương Nữ Băng T số tiền 11.910.540 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự 2015.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Lương NBăng T về việc
yêu cầu bà Lương Nữ Bích T6 phải thanh toán số tiền 780.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và tuyên quyền
kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 06/01/2026, nguyên đơn Lương Nữ Bích T6 kháng cáo toàn bộ
bản án thẩm; ngày 08/01/2026 bị đơn Lương Nữ Băng T kháng cáo toàn
10
bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ginguyên yêu cầu khởi kiện
xác định kháng cáo một phần bản án thẩm tại mục 2 của quyết định bản án.
Bị đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm xem
xét chấp nhận kháng cáo, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản t của bị đơn.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện nguyên đơn bà Lương Nữ Thị ch T6 trình bày: Giữ nguyên nội
dung kháng cáo, kháng cáo một phần bản án dân sự thẩm đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn không được chấp nhận. Đại diện nguyên đơn cho rằng giấy
thỏa thuận giữa các bên vviệc cho gia đình Lương NBăng T được lại
vĩnh viễn trên phần đất thuộc hành lang an toàn đường thủy là giao dịch vi phạm
điều cấm của pháp luật, thuộc trường hợp vô hiệu theo quy định tại Điều 123 B
luật Dân sự năm 2015. Phần đất hành lang an toàn đường thủy không được phép
xây dựng công trình, nhà ở; việc bị đơn tiếp tục sử dụng làm nơi sản xuất mộc,
lấn chiếm hành lang kênh rạch, gây ô nhiễm môi trường tiếng ồn trái quy
định pháp luật. vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc T phải tháo dỡ, di dời toàn bộ nhà ở, i
sản và giao trả lại phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn.
Đại diện bđơn bà Lương Nữ Băng T trình bày: Giữ nguyên nội dung
kháng cáo và yêu cầu phản tố, bởi Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, đánh giá
đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; có vi phạm nghiêm trọng th
tục tố tụng và xác định chưa đúng quan hệ pháp luật tranh chấp n đề nghhủy
toàn bộ bản án thẩm để giải quyết lại. Bị đơn xác định giữa các bên lập
giấy thỏa thuận cho gia đình T được lại lâu dài trên phần đất hành lang
đường thy sau khi chuyển nhượng đất; căn nhà đã tồn tại từ trước khi cấp Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất cho nguyên đơn gia đình T sử dụng ổn định
trong thời gian dài nguyên đơn không ý kiến phản đối. Bị đơn cho rằng
giá chuyển nhượng thực tế 600.000.000 đồng nhưng nguyên đơn mới thanh
toán một phần; còn nợ 160.000.000 đồng nên yêu cầu phản tố buộc nguyên đơn
thanh toán số tiền tương ứng với giá trị còn thiếu theo giá trị tài sản tại thời điểm
giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Đề nghị
chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Luật cho rằng căn nhà của T được xây dựng tồn tại trước thời
điểm nguyên đơn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; việc căn nhà
nằm trong hành lang bảo vđường thủy nếu vi phạm thì thuộc trách nhiệm
xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phải là căn cứ để nguyên đơn
yêu cầu bị đơn phải di dời ngay.
Đối với giấy thỏa thuận giữa các bên, luật cho rằng đây sự thỏa thuận
tự nguyện, không trái đạo đức hội; các bên đã thực hiện trên thực tế trong thời
11
gian dài nên phải được tôn trọng. Nếu nguyên đơn cho rằng giao dịch vô hiệu thì
phải giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu theo quy định pháp luật.
Luật cũng cho rằng phần mái che bộ phận gắn liền với căn nhà, không
thể tách rời nên việc cấp sơ thẩm buộc tháo dỡ là chưa phù hợp.
Về ttụng, luật sư nhận định Tòa án cấp thẩm xác định chưa đúng quan
hệ tranh chấp; chưa làm đầy đủ yêu cầu phản tố; chưa đánh giá toàn diện
chứng cứ vviệc thanh toán tiền chuyển nhượng; chưa xác minh, đo đạc lại hiện
trạng khi bị đơn không đồng ý với bản vẽ đo đạc, dẫn đến ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Do đó, đề ngh hủy bản án sơ thẩm để giải quyết
lại theo thủ tục chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về ttụng, nhận thấy những người tiến hành tố tụng những người tham
gia tố tụng tại cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Việc xét xvắng mặt ông Nguyễn Trung N5 đúng quy định pháp luật.
Về nội dung, đại diện Viện kiểm sát cho rằng phần tài sản của bà T xây
dựng trên hành lang an toàn đường thủy không phù hợp với quy định pháp
luật; Viện kiểm sát trước đó đã có văn bản kiến nghị đối với nội dung này. Đối
với hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên, các đương sự đều thừa nhận giá
chuyển nhượng thực tế 600.000.000 đồng nhưng hợp đồng công chứng chỉ ghi
nhận 100.000.000 đồng, làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn; không chấp nhận kháng cáo của bđơn; sửa bản án thẩm
theo hướng buộc bà T di dời tài sản nằm trên hành lang an toàn đường thủy, giao
trả đất cho nguyên đơn kiến nghị truy thu nghĩa vụ thuế phát sinh từ việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giá chuyển nhượng thực tế giữa các bên.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra
tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát
viên, người đại diện hợp pháp của đương sự;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn và bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định; đơn kháng cáo
nội dung hình thức phù hợp với quy định tại Điều 273, Điều 276 Bộ luật
Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Trung N5 vắng mặt, ông N5 không kháng cáo không liên quan đến
kháng cáon căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Toà án xét xử
theo quy định.
[2] Về nội dung:
12
Vào năm 2014, nguyên đơn T6 nhận chuyển nhượng của bà T diện ch
đất 206,3m
2
thuộc thửa 332, tờ bản đsố 6, phường B, thành phố T được Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH
346640 ngày 11/5/2017. Do chị em ruột với nhau, sau khi nhận chuyển nhượng
hết phần đất trong sổ của T. T6 để cho T trên phần đất thuộc HLATĐT
(ngang 4,5m x dài 9,5m). Bà T sử dụng sản xuất gây ô nhiễm môi trường, T6
nhiều lần yêu cầu bị đơn di dời trả nhà và đất cho bà T6, bà T không đồng ý nên
khởi kiện yêu cầu bị đơn di dời tài sản, giao trả toàn bộ thửa đất 332, nguyên
đơn không đồng ý yêu cầu phản tố của bị đơn vì hai bên đã thực hiện xong hợp
đồng chuyển nhượng, T6 nhận đất nhà sử dụng từ năm 2015 tới nay
được cấp sổ năm 2017.
T không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, T6 không
chuyển nhượng phần đất nhiện nay bà T6 đang quản lý, sử dụng. T yêu
cầu phản tố buộc bà T6 thanh toán số tiền còn lại của hợp đồng chuyển nhượng
đất và nhà tương đương 27% giá trị là 780.000.000 đồng.
[2.1] Xét kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn thấy rằng:
Các đương sự đều thừa nhận ngày 12/5/2014 hai bên ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở diện tích 206,3m
2
thuộc thửa 332, tờ bản đồ
số 6; giá hai bên thoả thuận là 600.000.000 đồng nhưng khi ký hợp đồng chuyển
nhượng tại Văn phòng C1 ghi là 100.000.000 đồng. Sự thừa nhận của các đương
sự tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 BLTTDS. Sau khi
T6 thanh toán xong, T6 đã sử dụng nhà đất. Ngày 11/5/2017 T6 được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích nêu trên.
Sau khi T chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho bà T6 nhưng bà T vẫn
sinh sống tại căn nhà A6E trên phần đất hành lang đường thủy theo giấy thỏa
thuận (không ghi ngày tháng năm) được lập giữa vợ chồng bà T và vợ chồng bà
T6 với nội dung Vợ chồng Bích T6 Thanh L đồng ý cho gia đình anh chị
Băng T Trung Nhân lại bên phần đất hành lang đường thủy (ngang 4,5m
dài 9,5m) ở vĩnh viễn mà không ai được quyền đòi lại. Nếu sau này nhà nước
nhu cầu thu hồi hành lang đường thủy thì vợ chồng Băng T Trung N5 sẽ trả
lại cho nhà nước mà không có yêu cầu đòi hỏi gì cả”. Mặt khác tại Điều 5, hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhai bên đã thỏa thuận: thời
hạn giao đât + nhà ở: 01/01/2016.
Bên B chịu trách nhiệm lập thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Trong đó bên A có tiền sẽ chuộc lại gồm tiền đặt cọc đợt 1, cộng thêm 2%.
Sau khi bán xong bên B cho bên A ở lại trên hành lang đường thủy nhưng
khi bên B bán lại cho người khác thi bên A phải di dời (bên B sẽ bồi thường tiền
nhà ở + Phí di dời theo pháp luật) Bên A không được thưa kiện”.
Xét thấy việc hai bên lập giấy thoả thuận (do nguyên đơn và bị đơn là chị
em ruột) gia đình bđơn bà T chuyển nhượng nhà đất không còn nơi nào để sinh
sống, đối với toàn bộ công trình nhà xưởng, nhà ở nằm ngoài diện tích đất tranh
13
chấp bị đơn sử dụng thuộc vành đai an toàn đường thủy không được quan nhà
nước thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Do đó, hai bên
cam kết sau này nhà nước thu hồi thì bị đơn trả lại cho Nhà nước. Và gia đình bị
đơn sinh sống tại nhà đất trên sau khi chuyển nhượng cho nguyên đơn đến nay.
Do đó, mặc phần đất này thuộc hành lang bảo vệ đường thủy, không
thuộc diện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng thỏa thuận cho
ở nhờ của các bên chỉ mang tính chất ghi nhận việc sử dụng thực tế cho đến khi
Nhà nước thu hồi, không phải giao dịch chuyển quyền sử dụng đất trái pháp
luật như nguyên đơn trình bày.
Nguyên đơn cho rằng giấy thỏa thuận vô hiệu theo Điều 123 Bộ luật Dân
sự vì vi phạm điều cấm của luật, đồng thời cho rằng bị đơn sản xuất mộc gây ô
nhiễm môi trường, ô nhiễm tiếng ồn nên yêu cầu buộc di dời toàn btài sản. Tuy
nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ chứng minh bị đơn bị quan thẩm quyền xử vi phạm về
môi trường, tiếng ồn hoặc có quyết định buộc chấm dứt hoạt động sản xuất. Vì
vậy, không căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc buộc
bị đơn phải di dời căn ndiện tích 34,5m² nằm trên phần đất thuộc hành lang
bảo vệ đường thủy.
Việc gia đình bà T được sử dụng căn ntrên phần đất thuộc hành lang an
toàn đường thủy diện tích theo đo đạc thực tế 34,5m
2
thuộc quản của
quan nhà nước thẩm quyền xử lý. Đối với tài sản của T nằm trong giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà T6, bị đơn T phải di dời
toàn bộ tài sản đã xây dựng trên diện tích đất để trả lại đất cho bà T6 quản lý sử
dụng. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, T6 được cấp 206,3m
2
,
trong đó ODT 92,2m
2
, CLN 114m
2
, thửa đất 86,1m
2
CLN thuộc hành
lang bảo vệ đường thủy (HLATĐT). Hiện nay bà T đang quản lý, sử dụng diện
tích căn nhà 34,5m
2
nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc
HLBVĐT theo giấy thỏa thuận giữa hai bên nên T được tiếp tục sdụng. Đối
với các tài sản khác gồm: Mái che 36,7m
2
thuộc HLBVĐT trong đó 22,2m
2
xây dựng trên đất nông nghiệp thuộc HLATĐT, 8,7m
2
mái che xây dựng trên
đất thuộc hành lang an toàn bảo vệ đường thủy (HLATBVĐT) 2,4m
2
mái
che xây dựng trên đất nông nghiệp) đã trừ 5,2m
2
mái che lấn đường thuộc giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho T6, không được bà T6 cho phép xây
dựng nên gia đình bà T có trách nhiệm di dời tài sản để trả lại đất cho T6. Bà T6
tự nguyện hỗ trợ di dời tài sản cho bà T, số tiền 11.910.540 đồng cho bị đơn.
[2.2] Vcông trình nhà nhà xưởng, nhà ở nằm ngoài diện tích đất cấp cho
T6 mà gia đình bà T đang quản lý, sử dụng không ảnh hưởng đến quyền, lợi
ích hợp pháp của nguyên đơn nằm trên hành lang an toàn đường thủy thuộc
quản của nhà nước nên thuộc trách nhiệm xử của quan nhà nước thẩm
quyền, Tòa án không xem xét trong v án này.
14
[2.3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn, bà T cho rằng nguyên đơn còn nợ s
tiền chuyển nhượng đất 160.000.000 đồng T6 hứa giao vào ngày
01/01/2016 tại UBND B nhưng không giao nên bị đơn yêu cầu nguyên đơn
nghĩa vtiếp tục thanh toán số tiền 780.000.000 đồng tương ứng với 27% giá
trị nhà đất tại thời điểm phản tố.
[2.4] Quá trình tố tụng tại Tòa án cấp thẩm, T cung cấp Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở ngày 12/5/2014 không công chứng,
chứng thực và mặt sau không ghi nhận số tiền chuyển nhượng nên cho rằng việc
giao nhận số tiền 160.000.000 đồng chưa thực hiện. Tuy nhiên, nguyên đơn cũng
cung cấp bản hợp đồng tương tự nhưng mặt sau T đã ghi nhận việc giao nhận
tiền là “nhận thêm 140.000.000 đồng” và do trước đó bà T vay tiền của T6
nên hai bên thỏa thuận cấn trừ thêm stiền 20.000.000 đồng là tiền nợ của bà T,
nên bà T đã ghi “nhận đủ tiền 160.000.000 đồng”, việc bà T thừa nhận chữ viết
chữ tại mặt sau tờ hợp đồng T6 cung cấp của T hoàn toàn
phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ.
[2.5] Xét việc nguyên đơn thanh toán số tiền còn lại cho bị đơn sau khi
thanh toán xong thì nguyên đơn đã nhận nhà và đất sử dụng và được cấp sổ sinh
sống từ khi chuyển nhượng cho đến khi phát sinh tranh chấp, quá trình giải quyết
vụ án bị đơn mới yêu cầu nguyên đơn thanh toán số tiền còn lại là 780.000.000
đồng tương đương với 27% gtrị nđất tại thời điểm có đơn phản tố là không
có căn cứ chấp nhận.
[2.6] Đối với kháng cáo của bđơn cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng, xác định sai quan hệ tranh chấp, không thu thập đầy đủ
chứng cứ sai sót trong việc đo đạc, Hội đồng xét xử xét thấy: diện tích, hiện
trạng sử dụng đất đã được đo đạc, thẩm định tại chỗ; các đương sự được tiếp cận,
công khai chứng cứ và thực hiện đầy đủ quyền tố tụng. Những nội dung bị đơn
khiếu nại không làm thay đổi bản chất vụ án không phải vi phạm nghiêm
trọng dẫn đến việc phải hủy bản án sơ thẩm.
[2.7] Đối với Viện kiểm sát số 07/KN-VKS-DSC1 ngày 26/3/2026 của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh đề
nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L kiểm tra, giải quyết, thu hồi theo quy
định về việc truy thu thuế do các bên khai giá chuyển nhượng thấp hơn giá thực
tế, Hội đồng xét xử nhận thấy việc chuyển nhượng đã hoàn tất từ năm 2014, đã
được cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tc sang tên và cấp Giấy chứng nhận
từ năm 2017. Việc xem xét trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính (nếu có) thuộc
thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, không thuộc phạm vi
giải quyết của vụ án dân sự này.
[3] Từ những phân tích trên, nguyên đơn bị đơn kháng cáo nhưng không
cung cấp được chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận.
[4] Ý kiến của người bảo vệ cho bị đơn là không phù hợp.
15
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiếm sát nhân dân Thành phố H tại phiên tòa
nhận định là chưa phù hợp.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
người kháng cáo sẽ chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 92; Điu 148; khoản 1 Điều 308; Điều 313 B lut
T tng dân s năm 2015;
- Căn cứ các Điều 166, 170 B lut Dân s năm 2015;
- Căn cứ Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 ca Ủy ban thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu,
np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án.
Tuyên x:
1. Không chp nhn kháng cáo ca nguyên đơn Lương Nữ Th Bích
T6.
2. Không chp nhn kháng cáo ca b đơn bà Lương Nữ Băng T.
3. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 345/2025/DS-ST ngày
29/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
4. V án phí dân s phúc thm: Lương Nữ Bích T6, Lương N Băng
T mỗi người phi chịu 300.000 đồng tin án phí phúc thẩm, được khu tr vào
s tiền đã nộp theo Biên lai thu tm ng án phí, l phí s 0002968 ngày
10/01/2026 và Biên lai thu tm ng án phí, l phí s 0002731 ngày 09/01/2026
ti Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
16
Nơi nhận:
- Vin kim sát nhân dân TPHCM;
- TAND khu vc 16 - TPHCM;
- Phòng THADS khu vc 16 - TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân s .(14).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Nguyễn Trung Dũng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1133/2026/DS-PT Bản án số 1133/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1133/2026/DS-PT Bản án số 1133/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất