Bản án số 72/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 72/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 72/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 72/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị Đ. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 72/2026/DS-PT Bản án số 72/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 72/2026/DS-PT Bản án số 72/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 72/2026/DS-PT
Ngày: 28 - 5 - 2026.
V/v: Tranh chấp kiện đòi tài
sản là quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Hoàng Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông: Hoàng Văn Giang.
Bà: Lý Thị Thúy.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân
dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Lương
Dương Tùng Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2026/TLPT-DS ngày 02 tháng
02 năm 2026 về việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 91/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 53/2026/QĐPT-DS
ngày 02 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị C, sinh năm: 1966. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ I, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
- Bị đơn:Đặng Thị Đ, sinh năm: 1973. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường L, tỉnh Thái Nguyên.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Lưu Bình D -
Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.
Địa chỉ: Số A, ngõ E, đường X, tổ B, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Bùi Duy M, sinh năm: 1958. Vắng mặt.
+ Bà Dương Thị H, sinh năm: 1957. Vắng mặt.
2
+ Bà Bùi Thị N, sinh năm: 1963. Vắng mặt.
+ Ông Vũ Văn H1, sinh năm: 1963. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ H, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
+ Ông Nguyễn Đức M1, sinh năm: 1968. Có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Diễm M2, sinh năm: 1993. Có mt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường L, tỉnh Thái Nguyên.
- Người làm chứng:
4.1. Bà Đặng Thị T, sinh năm 1963. Có mặt.
4.2. Bà Đặng Thị T1, sinh năm 1976. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ A G, phường L, tỉnh Thái Nguyên.
5. Người kháng cáo: Bị đơn bà Đặng Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Năm 2019 C mua 01 thửa đất số AD 798530, diện tích 744m
2
đất
chuyên trồng lúa nước, thửa số 196, tờ bản đồ số 8, giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mang tên ông Bùi Duy M Dương Thị H, vị trí đất thuộc phường
H (nay là Phan Đình P), tỉnh Thái Nguyên của vợ chồng bà Bùi Thị N ông
Vũ Văn H1, số tiền giao dịch là 1 tỷ đồng xuất phát từ việc vay nợ giữa bà và vợ
chồng N, bà có cho vợ chồng N, H1 vay số tiền 1.038.000.000 đồng, ông bà H1,
N mới trả cho được 38.000.000 đồng, số tiền 1 tcòn lại thoả thuận chuyển
sang thành tiền mua bán chuyển nhượng thửa đất 196, tờ bản đồ số 8 diện tích
744m
2
. Do C không hộ khẩu tại nông thôn, thời điểm năm 2019 do Luật
Đất đai quy định người không hộ khẩu nông thôn t không được nhận
chuyển nhượng mua bán đất nông nghiệp, nên nhờ chị Đặng Thị Đ em
gái ruột của bà, khẩu nông nghiệp đứng tên hộ C trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Chị Đ đồng ý đứng tên hộ nên ngày 11/5/2021 C cùng
chị Đ ra Văn phòng công chứng Dương Thị Kim C1 cùng N ông M, bà H,
các con của ông M là bà H3, T2 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất đối với diện tích 744m
2
đất chuyên trồng lúa nước, thửa số 196, tờ bản đồ số
8. Sự việc nhờ đứng tên làm thủ tục chuyển nhượng và đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho Đ, ông bà M, H, bà N, ông H1 đều biết
làm chứng cho bà. Do chưa có điều kiện bà đợi xem ai nhu cầu mua
nên chưa làm thtục sang tên bìa được, nên tháng 7 năm 2024 thì C mới
làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trước khi đi làm thủ tục
bảo chị Đ viết cho giấy xác nhận về việc chị Đ đứng tên hộ thửa đất
trên cho bà. Chị Đ đồng ý và đã viết giấy xác nhận vào ngày 10/7/2024 với nội
dung xác nhận đứng tên hộ chị C thửa đất 744m² chị C mua của ông M, H.
Ngày 08/8/2024 chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố T đã cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất 277, tờ bản đồ 08, diện tích 744m
2
3
mang tên Đặng Thị Đ. Toàn bộ giấy tờ, bìa đỏ và đất hiện do quản lý, sử
dụng, bà Đ không biết gì về giấy tờ đất và thửa đất đó nằm ở đâu.
Khi Luật Đất đai năm 2024 hiệu lực pháp luật được biết những
người khẩu thành phố cũng được nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp thì
trao đổi với chị Đ, yêu cầu chị Đ làm thủ tục chuyển nhượng sang tên lại cho
bà thì chị Đ viện nhiều lý do này, lý do khác không chuyển trả cho bà. Do là chị
em trong gia đình nên bà C đã mời tất cả các anh chị em ruột mẹ đhọp
gia đình về vấn đnày, yêu cầu chị Đ phải thực hiện theo cam kết nhưng chị Đ
không đồng ý, các anh chị em trong gia đình yêu cầu chị Đ thực hiện thì chị Đ
hứa rất nhiều lần sẽ trả lại đất cho bà, nhưng khi yêu cầu chị Đ ra văn
phòng công chứng để làm thủ tục chuyển nhượng lại thì chị Đ không ra, do
đòi phải trả cho chị Đ 170 triệu, do không tiền nên nói chỉ lo
được 70 triệu để hỗ trợ cho chị Đ để chị Đ làm thủ tục chuyển nhượng trả lại đất
cho bà, nhưng chị Đ không đồng ý, thậm chí còn nghe con gái đòi 500 triệu.
Do không thỏa thuận được nên đã gửi đơn đề nghị hòa giải tranh chấp đất tại
UBND phường H, tuy nhiên chị Đ đều vắng mặt, nên hòa giải không thành. Nay
bà làm đơn ra Tòa án yêu cầu giải quyết, buộc chị Đ phải trả lại tài sản quyền
sử dụng đất thửa đất thuộc thửa 227, tờ bản đồ số 08, diện tích 744m² cho
quản lý, sử dụng.
Về việc chị Đ trình bày góp tiền 700 triệu để mua diện tích đất trên
không đúng, không có việc chuyển tiền và không có giấy tờ gì xác nhận là chị Đ
chuyển cho bà số tiền trên, việc bà nhờ chị Đ đứng tên ông H1, bà N, ông M, bà
H đều biết làm chứng cho bà, còn cả ghi âm cuộc hội thoại giữa
Đ, các cuộc họp gia đình các anh chị em đều biết họp gia đình để giải
quyết về việc này, Đ cũng đã thừa nhận sự việc này. Do vậy, không nhất
trí với yêu cầu của bà Đ, yêu cầu Đ phải chuyển trả lại quyền sử dụng đất cho
diện tích 744 m
2
thuộc tờ bản đồ số 8, thửa đất 196 (nay là thửa 227) quản
lý, sử dụng.
Bị đơn trình bà Đặng Thị Đ trình bày:
Bà là em gái ruột của bà Đặng Thị C, hai chị em không có mâu thuẫn, thù
oán gì, cuối năm 2018 có kinh doanh và thu được tiền lãi về bàn với chị C
chung nhau mua đất ruộng gần khu vực đường B để sau này chuyển đổi sang thổ
chị C nhất trí. Sau khi tìm hiểu chị C nói mảnh đất rộng khoảng hơn 2
sào ruộng, hbìa đbán giá 1,1 tỷ đồng, chị C bảo cùng đi xem.
Đan B không đi được bảo chị C "em hoàn toàn tin tưởng chị, chị cứ đứng ra
giao dịch, xem đất hợp thì mua, chị thạo hơn em, vgiá thỏa thuận họ 01
tỷ xem được không? Khoảng 2 hôm sau không nhớ ngày, vẫn cuối tháng
12/2018 chị C nói họ đồng ý bán giá 01 tỷ, nhưng nói thêm chủ đất bán
cho mình một người, còn bìa đỏ của người khác vì họ mua bán chưa sang tên.
Đ bảo chị C làm thế nào an toàn không mất tiền thì chị làm. Đồng thời
thỏa thuận góp 700 trăm triệu đồng, chị C góp 300 triệu. C bảo phải mất nửa
tháng mới thu xếp được tiền, sau đó thu xếp tiền. Ngày 14/01/2019 đưa
cho chị C 700 triệu tiền mặt, không giấy tờ để chị C đi trả tiền đất,
không biết chị C mua của ai, trả tiền mặt hay chuyển khoản thậm chí cũng
không xem đất vì hoàn toàn tin tưởng chị C. Số tiền này là của cá nhân bà không
4
liên quan đến chồng bà. Sau đó khoảng hơn tháng, hỏi mua bán xong chưa,
chị C nói chủ đất tên trong bìa họ chưa hẹn được lịch hợp đồng,
bảo làm thế nào thì làm mất tiền chết đấy. Sau đó rất nhiều lần thúc dục
chị C nhưng chị C đều khất lần.
Rất nhiều lần thúc giục chị C, đến khoảng tháng 5/2021 chị C bảo đã
hẹn được chủ đất, em ra đấy ký hợp đồng và cho em đứng tên không lúc bảo chị
lừa lọc gì vợ chồng mày, bà Đ nhất trí. không nhớ ngày tháng nhưng khoảng
tháng 5/2021 chị C ra Văn phòng C2, phường H công chứng hợp đồng
mua đất, lúc này mới biết người bán ông M, vợ là H (bà không nhớ họ), bà
bên mua, thửa đất diện tích 744 m
2
thuộc tờ bản đồ số 8, thửa đất 196, giá
mua bán ghi hợp đồng 30 triệu đồng, thực tế không ai chuyển đồng nào hôm
đấy. Sau đó chị C thuê người làm dịch vsang tên bìa đỏ tên chị C đã
cầm a đỏ. Nay chị C khởi kiện cho rằng tiền mua đất của chị C, chỉ nhờ
đứng tên không tham gia mua bán sai sự thật, góp 700 triệu như
trên. Chị C kiện yêu cầu làm thtục chuyển trả quyền sử dụng đất không
nhất trí và đề nghị Tòa án xem xét nếu chị C lấy đất, đồng ý nhưng phải định
giá và trả cho bà tương ứng 70% tiền mảnh đất đã bỏ ra mua.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn H1, Bùi Thị N
trình bày: Ngày 20/1/2019 vợ chồng ông Văn H1 Bùi Thị N nhất trí
bán cho cho bà Đặng Thị C thửa đất số 227, tờ bản đồ 08 diện tích 744m
2
số tiền
bán 1 tỷ đồng, vợ chồng ông đã nhận đủ số tiền trên bàn giao đầy đủ giấy
tờ liên quan đến mảnh đất trên cho C để C làm thủ tục sang tên bìa đỏ
mảnh đất trên.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị H, ông Bùi Văn
M3 trình bày: Vợ chồng ông mảnh đất ruộng diện tích 744m
2
, tbản đồ
số 8, thửa đất 196 thuộc tổ G, phường H, thành phố T. Năm 2010 vợ chồng ông
M3, bà H có bán đất cho ông K địa chỉ ở huyện V, tỉnh Thái Nguyên, nhưng vẫn
chưa làm thủ tục sang tên, giấy tên, giấy tờ quyền sử dụng đất vẫn mang tên vợ
chồng ông M3, H. Năm 2018 thì được biết ông K đã chuyển nhượng lại cho
vợ chồng Bùi Thị N, ông Văn H1. Đến năm 2019 thì bà N, ông H1
chuyển nhượng lại cho Đặng Thị C. Sau đó N nhờ vợ chồng ông M3,
H ra văn phòng C2 để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sdụng đất, nhưng
do C không hộ khẩu nông nghiệp nên C nhờ bà Đặng Thị Đ em
gái đứng tên hộ C. Khoảng tháng 5/2021 vợ chồng ông M3, H cùng 02
con ông chị H3 và chị T1 ra văn phòng công chứng để làm thtục
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tại Văn phòng công chứng mặt
C Đ, nội dung sự việc C trao đổi nhờ Đ em gái đứng tên hộ
thửa đất Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với vchồng ông
đúng sự thật, nên gia đình ông Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất với Đ. Sau khi hợp đồng, vợ chồng ôngđã chuyển toàn bộ
giấy tờ liên quan đến thửa đất có diện tích 744m² cho bà C giữ. Sau đó nội dung
như thế nào thì vợ chồng ông bà không biết và không còn liên quan nữa. Nay có
việc tranh chấp giữa bà C Đ, vợ chồng ông xác nhận biết nội dung
N, ông H1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho C và bà N, C
nhờ vợ chồng ông làm thủ tục sang tên do giấy chứng nhận quyền sử dụng
5
đất vẫn mang tên vợ chồng ông bà, biết việc C nhờ Đ đứng ra Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với vợ chồng ông M3 H thực tế vợ
chồng ông không biết Đ ai khi ra Hợp đồng với biết. Ông M3 H
cam đoan lời khai của vợ chồng ông là hoàn toàn đúng sự thật và xác nhận
nguồn gốc đất trên của bố mẹ đẻ của ông M3 cho vợ chồng ông bà, giấy tờ
đều do bà C làm thủ tục và giữ, bà Đ không được cầm giấy tờ gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức M1 trình bày:
Ông Đặng Thị Đan kết H2 năm 1993 chung sống với nhau 01 con
chung Nguyễn Thị Diễm M2, sinh năm 1993. Do trong quá trình chung sống
nhiều mâu thuẫn nên đã ly thân nhau từ năm 2022 đến nay, hiện nay Đ
đang sống cùng với mẹ đẻ, con gái đã đi lấy chồng ông chỉ một mình. Nay
có tranh chấp giữa bà Đ với chị gái Đặng Thị C về thửa đất diện tích 744m², ông
quan điểm khi chung sống Đ người nắm giữ toàn bộ kinh tế trong gia
đình, khi ly thân đã mang đi khoảng 1 tỷ đồng là tài sản chung của vợ chồng ông
làm ra, việc bà Đ bỏ khoản tiền 700 triệu đồng ra đmua chung đất với bà C thì
ông hoàn toàn không biết gì, bà Đ cũng không nói gì với ông, vợ chồng từ khi ly
thân không qua lại cũng không nói chuyện với nhau, bản thân ông cũng không
qua lại liên hệ gì với gia đình nhà Đ. Đến khoảng cuối năm 2024 đầu năm
2025 thì bà C có đến nhà ông nói với ông ký giấy để trả đất cho bà C, ông có nói
" đất cát như thế nào phải rõ ràng với nhau thì tôi mới ký". Sau này, con gái ông
nói chuyện lại với ông về việc tranh chấp đất giữa Đ và C thì ông mới
được biết Đ đã bỏ khoản tiền 700 triệu để chung mua vớiC thửa đất giá 1
tỷ đồng. Ông xác định khoản tiền 700 triệu đồng Đ bỏ tiền ra mua chung
tài sản chung của vchồng ông, Đ tý sử dụng tiền chung không hỏi ý
kiến ông. Nay việc tranh chấp đất giữa C Đ tại Toà án, quan điểm
của ông xác định thửa đất trên của vchồng ông đã bỏ khoản tiền 700 triệu
đồng mua chung cùng C, nếu C lấy đất thì phải trả vchồng ông số tiền
700 triệu đồng, nếu trả đất cho Đ sử dụng thì ông Đ sẽ trả lại cho C
300 triệu đồng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Diễm M2 trình
bày: Mẹ chị Đặng Thị Đ chung tiền với chị gái Đặng Thị C mua
chung thửa đất số 277, tờ bản đồ s8 diện tích 744m², chị được biết mẹ chị đã
bỏ ra 700 triệu đồng, bà C bỏ ra 300 triệu đồng để chung nhau mua thửa đất này.
Thời điểm chung nhau mua đất Hợp đồng chuyển nhượng và mẹ chị được
cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho mẹ chị, chị không hề được biết. Mẹ
chị cũng không nói chuyện với bố chị ông Nguyễn Đức M1 được biết. Do
bố mẹ chị đã sống ly thân nhau từ năm 2022 đến nay nên việc mẹ chị chung tiền
với bà C, giao dịch mua bán thửa đất trên chị và bố chị không được biết. Đối với
khoản tiền 700 triệu mẹ chị góp mua đất chị xác định chị không đóng góp
chung khoản tiền nào vào, tiền này tiền chung của bố mẹ chị, mặc mẹ chị
đã giấu không bchị biết nhưng đây tiền chung của bố mẹ chị nên chị đề
nghị Toà án giải quyết bảo vệ quyền lợi cho bố mẹ chị, đề nghị công nhận quyền
sử dụng đất thửa đất số 227, tờ bản đồ số 8, diện tích 744m
2
thuộc quyền sử
dụng của bố mẹ chị bà Đ và ông M1.
6
Người làm chứng bà Đặng Thị T và bà Đặng Thị T1 trình bày:T
T1 là chị em ruột của bà C và bà Đ, được biết năm 2019 bà C có mua 01 thửa
ruộng diện tích 744m² mua của vợ chồng bà N, ông H1 số tiền mua thỏa
thuận 1 tỷ, T, T1 nghe nói đất này chưa sang n N, bìa đỏ vẫn đứng
tên ông M3 và bà H anh ruột và chị dâu của bà N, H1 do C không có hộ khẩu
nông nghiệp nên C nhờ em gái Đ hkhẩu nông nghiệp đứng tên
hộ giấy chứng nhận quyền sử dụng, các anh chị em trong gia đình đều biết và bà
Đ cũng đồng ý đứng tên hộ C thửa đất trên. Việc làm thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất T, T1 không được biết đến khi xây ra mâu thuẫn
giữa bà C Đ về việc bà C yêu cầu Đ làm thủ tục chuyển nhượng lại tên
cho C Luật Đất đai mới cho phép C được đứng tên đất nông nghiệp từ
tháng 9/2024. Gia đình đã rất nhiều lần họp gia đình về vấn đề này, Đ cũng
thừa nhận là thửa đất diện ch 744m² trên thực chất là của C bỏ tiền ra mua
hứa sẽ làm thủ tục chuyển trả lại sang tên cho bà C. Tuy nhiên, đến thời
điểm hiện tại Đ vẫn cố tình không thực hiện chuyển nhượng lại đất cho bà C.
Nay chị T, chị T1 xác nhận nội dung trình bày như trên đúng, đề nghị Đ
phải thực hiện đúng như cam kết trả lại quyền sử dụng đất cho bà C sử dụng.
Sau khi thụ vụ án, Toà án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ
theo quy định của pháp luật: Cụ thể các hồ cấp quyền chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của Đặng Thị Đ được lưu trữ tại các quan chuyên môn
và tiến hành thẩm định, đo đạc và định giá tài sản theo quy định.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 91/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã quyết định:
Áp dụng điều 26; 35; 39; 143; 146; 147; 157, 165; 227; 228; 273 Bộ luật
Tố tụng Dân sự, Điều 91, 92, 93, 166, 221, 223, 678 Bộ luật Dân sự 2015; Các
Điều 100; 188; 202; 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản và sử dụng án phí lphí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị C đối với bà
Đặng Thị Đ về việc tranh chấp quyền sử dụng đất thửa số 227, tờ bản đồ số 08,
diện tích 744m² tại phường P, tỉnh Thái Nguyên.
2. Buộc Đặng Thị Đ phải trả lại cho Đặng Thị C quyền sdụng
thửa đất số 227, tờ bản đồ số 8, diện tích 744m
2
đất chuyên trồng lúa, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DP 233160 do chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai
thành phố T cấp ngày 08/8/2024 mang tên Đặng Thị Đ toạ lạc tại phường P,
tỉnh Thái Nguyên (vị trí, ranh giới, kích thước theo đồ hiện trạng kèm theo
bản án).
3. Đặng Thị Đ nghĩa vụ thực hiện thủ tục chuyển nhượng, sang tên
quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho Đặng Thị C tại quan thẩm
quyền theo quy định pháp luật về đất đai.
7
Trường hợp bà Đặng Thị Đ không thực hiện, bà Đặng Thị C có quyền liên
hệ quan nhà nước thẩm quyền để được xem xét cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với thửa đất như nêu trên theo quy định pháp luật.
4. Về chi phí tố tụng: C tự nguyện nộp toàn bộ stiền thẩm định, đo
đạc và định giá tài sản là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).
5. Về án phí: Buộc Đặng Thị Đ phải chịu án phí dân sự thẩm nộp
ngân sách nhà nước số tiền 4.464.000₫ (Bốn triệu bốn trăm sáu mươi bốn
nghìn đồng).
Hoàn trả bà Đặng Thị C tiền tạm ứng án phí 300.000
đ
(Ba trăm nghìn
đồng) đã nộp theo biên lai thi tiền tạm ứng án phí số 0001020 ngày 06/5/2025
tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên (nay thuộc phòng thi hành
án khu vực 1 - Thái Nguyên).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm n tuyên quyền kháng cáo của các đương sự
theo quy định của pháp luật.
Ngày 11 tháng 10 năm 2025, bị đơn bà Đặng Thị Đ kháng cáo toàn bộ
bản án dân sự sơ thẩm đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn không nhất trí với kháng cáo của bị đơn đề nghị giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
- Bị đơn Đặng Thị Đ không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản
án sơ thẩm theo hướng công nhận việc bà ĐC chung mua thửa đất 196, tờ
bản đồ số 8, diện tích 744 m
2
địa chỉ tại phường H là tài sản chung theo
phần, bà Đ góp 700 triệu đồng; buộc C lấy đất thì phải trả cho Đ 700 triệu
đồng. Các căn cứ Đ đưa ra đó là: Đ góp 700 triệu đồng với C để
mua thửa đất 196, tờ bản đồ số 8, diện tích 744 m
2
; C không đưa ra được
chứng cứ nào chứng minh việc nhờ Đ đứng tên giúp trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; việc Đ viết giấy xác nhận cho C để tránh việc mâu
thuẫn vợ chồng dẫn đến ly hôn vì đây là tài sản riêng của bà Đ. yêu cầu C
trả cho số tiền 700.000.000 đồng, nếu không trả được 700.000.000 đồng thì
trả cho bà một nửa số tiền trên.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn nhất trí ntrình
bày của bị đơn, ý kiến của bị đơn hoàn toàn căn cứ đnghị Hội đồng xét
xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông M1, bà M2 nhất trí với trình
bày của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Nguyên phát biểu: Việc tuân theo
pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết ván, đảm bảo đúng quy định của
pháp luật.
8
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu
vực 1 - Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết ván, Toà án cấp
thẩm đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh
chấp, người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập, tiếp cận, công khai chứng cứ,
hoà giải, trình tự thủ tục tại phiên toà sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Đơn kháng cáo của bị đơn làm đúng theo các quy định của pháp luật nên
được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Bùi Duy M, ơng Thị H, Bùi Thị N, ông Văn H1 vắng mặt mặc
đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Những người tham gia tố tụng đại diện
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ án.
Hội đồng xét xthấy rằng những người vắng mặt đã đã lời khai, bản tự khai
trong hồ của vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng
đến việc giải quyết, xét xử của Toà án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 296
của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hàng xét xử vắng mặt họ.
[2] Về nội dung: Xét toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn Đặng Thị
Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
2.1. Về nguồn gốc, quá trình quản tài sản quyền sử dụng đất: Thửa
đất số 196 (nay thửa đất số 227), tờ bản đồ số 8, diện tích 744 m
2
đất chuyên
trồng lúa có địa chỉ tại phường P, tỉnh Thái Nguyên là của ông Bùi Duy M và
Dương Thị H được bố mẹ tặng cho. Thửa đất này ông M, H đã chuyển
nhượng cho ông Nguyễn Văn K, sau đó ông K lại chuyển nhượng cho Bùi
Thị N ông Văn H1 nhưng vẫn chưa làm thủ tục chuyển nhượng tại
quan thẩm quyền. Đến năm 2019 N lại chuyển nhượng thửa đất trên cho
Đặng Thị C. Sau đó, do bà C không có hộ khẩu làm ruộng nên đã nhờ bà Đ
em gái đứng tên hộ. Ngày 11/5/2021 ông Bùi Duy M, Dương Thị H cùng các
con Bùi Thị Thanh H3, Bùi Thị Huyền T2 Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất với Đặng Thị Đ thửa đất số 227, tờ bản đồ số 8, diện tích 744m
2
đất chuyên trồng lúa. Ngày 08/8/2024 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho bà Đặng Thị Đ.
2.2. Phía Đ kháng cáo không thừa nhận việc C nhờ đứng tên hộ
trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà cho rằng thửa đất đó bà có đóng góp
700.000.000 đồng cùng với C để mua đất. Tuy nhiên, chỉ lời trình bày của
Đ Đ không tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh việc Đ góp tiền
với C mua thửa đất nêu trên. Mặt khác, ngày 07/4/2024 Đ lập giấy xác
9
nhận với nội dung thừa nhận việc đứng tên hộ quyền sử dụng đất 744 m
2
cho
Đặng Thị C và việc viết giấy này là hoàn toàn tự nguyện.
Nguyên đơn Đặng Thị C không thừa nhận việc Đặng Thị Đ góp số
tiền 700.000.000 đồng để mua thửa đất số 227, tờ bản đồ số 8, diện tích 744m
2
như Đ đã trình bày chnhờ Đ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
Những người làm chứng bà Đặng Thị T, bà Đặng Thị T1 là các chị em
ruột với bà C, bà Đ khẳng định việc bà C nhờ bà Đ đứng tên thửa đất 196 (nay là
thửa 227), gia đình đã họp nhiều lần để giải quyết vấn đề này, bà Đ có thừa nhận
đứng tên hộ và yêu cầu trả bà 170 triệu đồng thì bà mới sang tên cho.
Như vậy, việc C đòi lại quyền sử dụng đất 744m
2
, thửa 227, tờ bản đồ
số 8 từ Đ hoàn toàn căn cứ. Việc Đ kháng cáo yêu cầu C phải trả
cho Đ số tiền 700.000.000 đồng, nếu không trả được số tiền 700.000.000
đồng thì trả cho bà Đ một nửa số tiền trên là không có căn cứ chấp nhận.
Phần trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn
như đã phân tích ở trên không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
2.3. Như vậy, Toà án cấp thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện, khách
quan toàn bộ các chứng cứ đgiải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Bị
đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ mới để
chứng minh yêu cầu kháng cáo là căn cứ pháp luật. Do vậy, yêu cầu kháng
cáo của bị đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, cần bác
kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc thi
hành bản án Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tuyên lại phần quyết định của bản
án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được Hội đồng xét
xử phúc thẩm chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sphúc thẩm
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 148, Điều 293, khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Đặng Thị Đ. Giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm số: 91/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, cụ thể:
10
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị C đối với
Đặng Thị Đ về việc tranh chấp kiện đòi tài sản quyền sử dụng đất thửa số
227, tờ bản đồ số 08, diện tích 744m² tại phường P, tỉnh Thái Nguyên.
1.2. Buộc Đặng Thị Đ phải trả lại cho Đặng Thị C quyền sử dụng
thửa đất số 227, tờ bản đồ số 8, diện tích 744m
2
đất chuyên trồng lúa, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DP 233160 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai
thành phố T cấp ngày 08/8/2024 mang tên Đặng Thị Đ toạ lạc tại phường P,
tỉnh Thái Nguyên (Vị trí, ranh giới, kích thước theo đồ hiện trạng kèm theo
bản án).
1.3. Đặng Thị C quyền thực hiện các thủ tục đăng ký biến động đất
đai, các thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại quan thẩm
quyền theo quy định pháp luật về đất đai.
1.4. Về chi phí tố tụng: Bà C tự nguyện nộp toàn bsố tiền thẩm định, đo
đạc định giá tài sản 10.000.000₫ (Mười triệu đồng). Xác định C đã nộp
xong.
1.5. Về án phí dân sthẩm: Buộc Đặng Thị Đ phải chịu án phí dân
sự thẩm nộp ngân sách nhà nước số tiền 4.464.000₫ (Bốn triệu bốn trăm
sáu mươi bốn nghìn đồng).
Hoàn trả Đặng Thị C tiền tạm ứng án phí 300.000
đ
(Ba trăm nghìn
đồng) đã nộp theo biên lai thi tiền tạm ứng án phí số 0001020 ngày 06/5/2025
tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên (nay thuộc Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 1 - Thái Nguyên).
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Đặng Thị Đ phải chịu 300.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền
300.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩmĐặng Thị Đ
đã nộp theo biên lai số 0001698 ngày 22/10/2025 tại Thi hành án Dân sự tỉnh
Thái Nguyên. Xác nhận bà Đ đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án dân sự thẩm không kháng cáo,
không bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự”
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 1 - Thái Nguyên;
- Các đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
11
- Phòng THA khu vực 1 - Thái Nguyên;
- THA Dân sự tỉnh Thái Nguyên;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
Hoàng Anh Tuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 72/2026/DS-PT Bản án số 72/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 72/2026/DS-PT Bản án số 72/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất