Bản án số 687/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 687/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 687/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 687/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: PHAN THANH T - PHAN T TUYẾT S
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Thuý Lành
Các Thẩm phán:
Bà Dương Thuý Hằng
Bà Phạm Thị Hồng Vân
- Thư ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Huỳnh Thị Mộng Thuý, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 1101/2025/TLPT-DS ngày
24 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 241/2025/DS-ST ngày 12-9-2025 Tòa án nhân
dân Khu vực 10- Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 233/2025/QĐ-PT ngày
27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Thành T, sinh năm 1958 (có mặt).
Địa chỉ: Số A, hẻm E, đường N, Khu phố G, Phường H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Phan Thành T: Bùi Thị H, sinh năm
1960.
Địa chỉ: Khu phố G, xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Bà Phan Thị Tuyết S, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, đường N, Khu phố G, Phường H, tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố G, xã T, tỉnh Tây Ninh.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 687/2026/DS-PT
Ngày: 20-5-2026
Về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
2. Bà Phan Kiều L, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, hẻm E, đường N, Khu phố G, Phường H, tỉnh Tây Ninh.
3. Ông Đặng Anh D, sinh năm 1966 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, đường N, Khu phố G, Phường H, tỉnh Tây Ninh.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Phan Thành T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như
tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn ông Phan Thành T H người đại diện theo
uỷ quyền của ông T trình bày:
Trước đây ông được cha mẹ cho 01 Phần đất thuộc thửa 470; Tờ bản đồ số
22, diện tích 358.5m
2
. Đất toạ lạc tại: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh cho cách
nay khoảng 30 năm nhưng đến năm 2009 mới đi đăng ký kê khai và được cấp giấy
chứng nhận QSDĐ số H02965 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Tây Ninh cấp
ngày 28/11/2009 cho ông Phan Thành T đứng tên. Khi mới cho đất thì ông cất
nhà lá ở trên đất. Đến khoảng năm 2005 ông có đi chạy xe và ở tại T đi đi về về, m
ông qua trên căn nhà của ông. Khoảng mấy chục năm trước S em ruột của
ông về cất nlàm chuồng ở phía sau đất của ông đuôi phần đất của
ông hiện nay đang tranh chấp. Do ông nghĩ anh em ruột nên cho cất nhà ở nhờ
khi nào ông cần sử dụng đất thì bà S phải trả lại đất cho ông, bà S cũng đồng ý như
vậy.
Sau đó, S cũng được mẹ ông cho 1 phần đất nằm ở phía sau đất của ông và
đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Khoảng năm 2009, bà S cất nhà tường trên đất
thì ông không nhà nên không biết để ngăn cản. Đến khi ông bán đất cho con
nuôi ông tên Nguyễn Ngọc A vào năm 2021 đo đạc lại thì ông mới biết đất bị S
lấn chiếm, diện tích đất chỉ còn lại 323,4m
2
. Nên ông chỉ bán cho Ngọc A diện tích
đất này thôi, còn lại thì đã bị bà S lấn chiếm hết.
Nay ra toà ông khởi kiện yêu cầu S trả lại cho ông 01 phần đất ngang 4,1m,
dài khoảng 9,3m qua đo đạc thực tế có diện tích 36,3m
2
, chiều ngang mặt trước giáp
đường dài 4,17m, chiều ngang mặt hậu dài 3.57m; chiều dài giáp đất Ngọc A 8.68m,
chiều i giáp đất sương 8.75m. Phần đất này hiện nay vẫn nằm trong giấy chứng
nhận QSDĐ số H02965 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Tây Ninh cấp ngày
28/11/2009 do ông đứng tên.
Bị đơn Phan Thị Tuyết S trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 24/4/2025:
Cha ông Phan Ngọc M mẹ bà là Phạm Thị H1, khi n sống tạo
lập được 01 phần đất có diện tích ngang 30m, dài 50m. Cha mẹ đã chia cho anh em
bà xong khi còn sống. Bao gồm: Ông Phan Hữu P 01 phần đất ngang 8m, dài 50m,
ông T 02 phần đất chiều ngang bao nhiêu tkhông biết, chiều dài khoảng 50m
(hết đất) và cũng được cha mẹ cho 1 phần đất ngang 06m, dài 22,40m, tổng
diện tích 133.4m2, thuộc thửa 776, tờ bản đồ số 22. Năm 2023 đã làm thủ tục
đăng biến động được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Giấy chứng nhận QSDĐ
số VP09049 cấp ngày 12/9/2023, cấp cho bà S đứng tên.
3
Trước đây khoảng năm 1990, ông T anh bà có cho và chồng bà cất nhà
nhờ trên đất. Sau đó, không nhớ ngày tháng năm đã xây dựng 01 căn nhà
tường cấp 4 chiều ngang 4,5m, dài hết đất, vợ chồng các con bà ở trên phần
đất này cho đến nay. Sau đó, ông T bán đất cho chị Ngọc A thì đã giáp ranh xong,
chị Ngọc A làm hàng rào kiên cố. Nay xác định phần đất chiều ngang 4,1m,
dài 9,3m có nguồn gốc là đất của ông T. Nhưng ông T đã cho bà phần đất này xong
nên không đồng ý trả lại cho ông T. Hiện nay vẫn chưa đăng khai để
được cấp giấy chứng nhận QSDĐ này.
- Bị đơn ông Đặng Anh D đã được triệu tập nhiều lần nhưng không đến phiên
tòa nên không có trình bày của ông.
Người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan chị Nguyễn Ngọc A trình bày tại biên
bản lấy lời khai ngày 08/11/2024:
Chị con riêng của ông T, gọi ông T là ba dượng. Chị nhận chuyển nhượng
đất của ông Phan Thành T 01 phần đất diện tích 358,5m
2
, trích tthửa 470, tờ
bản đồ số 22. Ngày 23/12/2020 tại Phòng công Chứng Nguyễn Gia T1 thì ông T có
chuyển nhượng cho chị phần đất này, theo Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số
công chứng: 7710, quyển 10/TP/CC-SCC/HĐGD.
Khi chị sang nhượng đất của ông T, chị không đo đạc lại đất, sau đó, địa
chính L làm xong đưa chị tên chứ chị không biết cả. Chị ông T cha
con nên ông T bán cho chị bao nhiêu cũng được, chị không có nói rõ ràng, khi mua
đất chị biết phần đất này ba chị bán cho chị ngắn hơn phần đất trên thực tế. Ba chị
nói chừa lại cho ba phần đuôi đất đlàm nhà thì chị đồng ý. Chị chbiết vậy thôi,
ngoài ra không biết đất của ông T đủ hay thiếu gì cả.
Ngày 23/12/2020, tại Phòng C khi tên xong Hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ với ông T, thì chị đi đăng khai với quan nhà nước thẩm quyền
để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, nhưng sau đó hồ bị sai, cơ quan trả về chị
phải đi làm lại. Đến ngày 17/3/2021 chị mới được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh
T cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CS06925, diện tích 323,4m
2
, thuộc thửa 470, tờ
bản đồ số 22. Đất toạ lạc tại: ấp G, L, thị H, tỉnh Tây Ninh. (có 146,3m
2
đất
thổ 177,1 đất ờn), chiều ngang trước 8m, chiều ngang sau 9.3m. Chiều
dài 37.40m.
Chị biết giấy chứng nhận QSDĐ của ba chị tên T diện tích 358,5m
2
,
chiều dài đất là 41.50m, ba chị bán cho chị chiều dài 37.40 m, thì chiều dài đất của
ba chị còn lại là 4.1 m và chiều ngang đất 9.3 m. Nhưng sau khi làm xong sổ đất của
tôi xong thì chờ hoài không thấy cơ quan trả lại giấy đỏ cho ba chị đối với phần đất
còn thừa. Sau này hỏi ra mới biết giấy chứng nhận QSDĐ số H02965/06 ngày
28/11/2009 của ông T thu hồi không còn đất nữa.
Theo chị thì phần đất của ba chị còn diện tích đất chiều dài 4.1m và chiều
ngang đất 9.3 m, tổng diện tích là 35,1 m
2
thì bà S đang sử dụng. Mong Toà án giải
quyết buộc bà S lấn chiếm đất phải trả lại cho ba chị ông Phan Thành T tổng diện
tích là 35,1m
2
, nếu không đủ diện tích để cấp giấy thì chị sẽ cho ba chị thêm đất để
đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Hiện nay Trên đất có căn nhà cấp 4, mặc
dù chị mua đất nhưng vẫn để cho ông T ở trên đất cho đến nay.
4
Người quyền lợi, nghĩa vu liên quan chị Phan Kiều L trình bày tại biên bản
lấy lời khai ngày 14/11/2024:
Chị con ruột của ông Phan Thành T, trước đây vào năm 2021 cha chị ông
T tặng cho chị 01 phần đất có diện tích 166m
2
, thuộc thửa 469, tờ bản đồ 22. Chị
cất ntường trên đất từ đó cho đến nay. Nay ông T tranh chấp đất với Phan
Thị Tuyết S thì chị không có ý gì kến gì, vì không liên quan đến chị.
Tại Bản án thẩm 241/2025/DS-ST ngày 12-9-2025 Tòa án nhân dân Khu
vực 10- Tây Ninh quyết định:
Căn cứ vào các Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, 169, 170 Luật
đất đai 2013; Điều 12; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Thành T đối
với bị đơn bà Phan Thị Tuyết S về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
2. Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Phan Thành T phải chịu 37.982.000 đồng (Ba mươi bảy triệu chín
trăm tám mươi hai nghìn đồng). Ghi nhận ông Phan Thành T đã nộp xong.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn ông Phan Thành T người cao tuổi nên không phải chịu tiền
án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn Bà Phan Thị Tuyết S không phải chịu tiền án phí dân
sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/9/2025, ông Phan Thành T nguyên đơn trong vụ án, đơn kháng
cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm: Sửa Bản án dân sự 241/2025/DS ST, ngày 12
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10- Tây Ninh theo hướng chấp
nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, không cung
cấp thêm chứng cứ mới.
Bị đơn vắng mặt, không ý kiến đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên
đơn.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên
tòa:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
5
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận phần đất tranh chấp cho bà Phan Th
Tuyết S. Bà S nghĩa vụ trả cho ông Phan Thành T giá trị phần đất tranh chấp theo
kết quả định giá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa; ý kiến Tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Phan Thành T nộp trong thời hạn luật định, vhình
thức nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng
vẫn vắng mặt, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan A, L đơn xin xét xử
vắng mặt, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tán tiến hành xét xử vắng
mặt các đương sự này.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Phan Thành T, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Tại cấp thẩm, nguyên đơn bị đơn đều thống nhất, phần đất tranh
chấp 36,3m
2
, nguồn gốc đất ông Phan Thành T được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, thuộc một phần thửa 470. Cấp thẩm nhận định, trước đây
khoảng năm 1990, ông T cho S cất nhà nhờ trên đất. Sau đó, S đã xây
dựng 01 căn nhà tường cấp 4 có chiều ngang 4,5m, dài hết đất, vợ chồng và các con
trên phần đất này cho đến nay. Khi ông T bán đất cho chị Ngọc A thì đã giáp
ranh xong, chị Ngọc A m hàng rào kiên cố. Do đó, sở xác định ông T đã cho
S phần đất này không phợp. Bởi lẽ, việc ông T cho phần đất tranh chấp
không được ông T thừa nhận. S không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho
việc ông T tặng cho phần đất này. Phần đất tranh chấp thuộc thửa 470 tờ bản đồ số
22, có nguồn gốc là ông T được tặng cho, trước đây đã được ông T kê khai đăng ký
và được cấp giấy CNQSDĐ vào năm 2009. Quá trình chuyển nhượng sang cho chị
Ngọc A, thửa số 470 đã thay đổi diện tích (giảm 35,1m
2
) nhưng Tòa án cấp
thẩm không văn bản gửi quan chức năng làm nội dung trên thiếu sót.
Nhưng thực tế hiện nay, phần đất trên (qua đo đạc diện tích 36,3m
2
) vẫn chưa ai
kê khai đăng ký.
Về quá trình sử dụng đất, S người trực tiếp sử dụng, căn nhà cấp 4
mái che, nền xi măng, trị giá tổng cộng tài sản trên đất là 19.550.000 đồng.
Như vậy, căn cứ vào nguồn gốc đất, quá trình khai đăng đều sở
xác định phần đất trên thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông T. Xét thấy, việc ông
Tâm G đất cho bà S không được lập thành văn bản, không nêu rõ thời hạn, nay ông
T yêu cầu đòi lại nên cần buộc bà S trả lại là có cơ sở. Tuy nhiên, trên phần đất của
ông T hiện nay nhà của S. Hơn nữa, để đảm bảo diện tích tối thiểu cấp giấy
CNQSDĐ, cần buộc bà S trả lại bằng giá trị QSDĐ.
6
[2.2] Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 28/11/2009 cho ông Phan
Thành T thể hiện, diện tích 358,5m
2
đất thuộc thửa 470, tờ bản đồ số 22, trong đó
146,3m
2
đất 212,2 m
2
đất vườn. Khi đăng biến động sang tên cho
Nguyễn Ngọc A, A đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 323,4m
2
,
trong đó 146,3m
2
đất ở. Như vậy, phần đất ở của ông T đã được chuyển nhượng hết
cho Ngọc A. Phần đất 36,3m
2
đất còn lại đất vườn. Áp dụng gđất vườn tại
Chứng thư thẩm định giá số 385/2025/080/CT của Công ty Cổ phần T2 4.373.000
đồng/m
2
x 36,3m
2
= 158.739.900 đồng. S trách nhiệm hoàn trả cho ông T
158.739.900 đồng.
[2.3] Bà S được quyền đăng ký quyền sử dụng phần đất 36,3m
2
.
[2.4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của ông T được chấp nhận nên bà S phải
chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Ông T đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên S nghĩa
vụ trả lại chi phí tố tụng 37.982.000 đồng cho ông T.
[3] Từ những phân tích trên, Toà án cấp thẩm đã đánh giá chứng cứ chưa
khách quan toàn diện; Kháng o của ông Phan Thành T sở nên Hội đồng
xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về đề nghị Hội đồng xét
xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Thành T, sửa bản án thẩm
cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí:
[5.1] Về án phí DSST: S phải chịu án phí DSST đối với số tiền phải trả
cho ông T.
[5.2] Án phí phúc thẩm dân sự:
Do kháng cáo của ông Phan Thành T được chấp nhận nên ông Phan Thành T
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Thành T.
Sửa Bản án dân sự thẩm s241/2025/DS-ST ngày 12-9-2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Thành T đối với bị
đơn bà Phan Thị Tuyết S về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc Phan Thị Tuyết S trả cho ông Phan Thành T số tiền 158.739.900
đồng (Một trăm năm mươi tám triệu, bảy trăm ba mươi chín nghìn, chín trăm đồng).
Phan Thị Tuyết S được quyền đăng quyền sử dụng đối với phần đất
tranh chấp 36,3m
2
(kèm theo sơ đồ thửa đất)
2. Về chi phí tố tụng:
7
Buộc Phan Thị Tuyết S phải hoàn trả cho ông Phan Thành T chi phí tố tụng
37.982.000 đồng (Ba mươi bảy triệu, chín trăm tám mươi hai nghìn đồng).
3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn Phan Thị Tuyết S phải chịu tiền án phí dân sự thẩm 7.936.995 đồng
(Bảy triệu, chín trăm ba mươi sáu nghìn, chín trăm chín mươi lăm đồng) sung công
quỹ nhà nước.
5. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Phan Thành T thuộc trường hợp người cao tuổi đơn xin miễn án phí
nên được miễn án phí phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi nh án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 Điều 9 của Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
của Luật Thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND Khu vực 10- Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tỉnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Thị Thuý Lành
Tải về
Bản án số 687/2026/DS-PT Bản án số 687/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 687/2026/DS-PT Bản án số 687/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất