Bản án số 431/2026/DS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 431/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 431/2026/DS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 431/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 431/2026/DS-PT Bản án số 431/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 431/2026/DS-PT Bản án số 431/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 431/2026/DS-PT
Ngày: 11- 9 - 2026
“V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị My My.
Các Thẩm phán:Ông Y Phi Kbuôr
Bà Lưu Thị Thu Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nữ Hoàng Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Phan Văn Công -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 204/2026/TLPT-DS ngày 15 tháng 7
năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số:
13/2026/DS-ST ngày 15-19/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7- Đ bị kháng
cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 390/2026/QĐ-PT ngày
03/8/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 424/2026/QĐ-PT ngày 19/8/2026, giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1952 và bà Đỗ Thị N, sinh năm
1956.
Cùng địa chỉ: Thôn I E, xã E, tỉnh Đắk Lắk – Đều có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình C, sinh
năm 1981
Địa chỉ: Số C, đường N, phường E, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Phạm Xuân L, sinh năm 1957 và bà Huỳnh Thị T, sinh năm: 1963.
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk – Đều có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị N1
Địa chỉ: Số B đường L, thôn P, xã K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
2.2. Ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3.
Cùng địa chỉ: Thôn V, xã P, tỉnh Gia Lai – Đều vắng mặt.
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của UBND huyện E: Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh
Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Anh V – C/v: Chủ tịch.
Địa chỉ: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
4.Người làm chứng:
4.1 Ông Vũ Văn T1.
Địa chỉ: Thôn I E, xã E, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
4.2 Bà Nguyễn Thị Thanh H.
Địa chỉ: Thôn I E, xã E, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
4.3 Ông Nguyễn Bá T2, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Thôn I E, xã E, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
4.4 Ông Bùi Văn Y, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: Thôn I E, xã E, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.
*Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ và bà Đỗ Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên
đơn ông Nguyễn Minh Đ, bà Đỗ Thị N và người đai diện theo ủy quyền trình bày:
Tôi xác định, diện tích của thửa đất số 04, tờ bản đồ số 34 có nguồn gốc nhận
chuyển nhượng một phần diện tích đất mặt bên dưới của ông Phạm Xuân L và một
phần diện diện tích đất phía trên đường T là mua của ông T3 (không biết họ tên đầy
đủ và địa chỉ hiện nay), vợ chồng mua khoảng năm 1997. Thời điểm nhận chuyển
nhượng các bên chỉ xác định khoảng đất mua bán, không xác định được diện tích, số
đo tứ cận diện tích đất nhận chuyển nhượng, cho đến nay ranh giới về phía đất có
tranh chấp là không có sự thay đổi. Ranh giới giữa đất của gia đình ông N2, bà N3
với đất của ông Đ, bà N là không có ranh giới, đối với con đường hiện trạng hiện nay
giáp ranh đất nhà ông N2, bà N3 được hình thành từ năm 1997, con đường này là do
gia đình chúng tôi cho gia đình ông L, bà T mượn đất làm đường đi xuống rẫy của
ông L, bà T. Thời điểm cho mượn thì không làm giấy tờ gì, các bên chỉ nói miệng
với nhau.
Về phần diện tích đất mà hiện nay nguyên đơn cho rằng ông N2, bà N3 lấn
chiếm 1099.1 m
2
gia đình tôi không canh tác từ trước đến nay và gia đình ông N2, bà
N3 cũng không canh tác từ lâu, đất này hiện nay bỏ hoang, không có ai canh tác. Lý
do nguyên đơn đi khởi kiện là do đất đã được nhà nước cấp vào giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà N nhưng ông N2, bà N3 đã tự ý đi kê khai cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, nên cấp trồng lấn lên phần diện tích đã được cấp
trong bìa nhà chúng tôi.
Đối với ông L, bà T có đất phía dưới nên mượn phần diện tích đất là con
đường đi theo hiện trạng hiện nay của gia đình làm đường đi từ năm 2003, nên tôi đề
nghị trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là con đường đi theo hiện trạng theo kết quả
3
đo vẽ trong quá trình giải quyết vụ án là 340.7m2. Do đó, yêu cầu bị đơn ông L, bà
T4 có trách nhiệm trả lại.
Về chi phí tố tụng đề nghi giải quyết theo quy định của pháp luật.
*Nguyên đơn bà Đỗ Thị N trình bày: Tôi xác định chồng tôi là ông Nguyễn
Minh Đ trình bày là đúng, tôi hoàn toàn đồng ý với lời trình bày này và đề nghị tòa
giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Phạm Xuân L và bà
Huỳnh Thị T, người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn là bà Lê Thị N1 trình bày:
Đối với phần diện tích đất là con đường đất từ năm 1997 có bán một phần đất
cho ông Đ bà N khoảng 5000m
2
với giá 01 chỉ vàng, khẳng định con đường hình
thành từ năm 1995, là con đường duy nhất đi vào thửa đất của ông bà nên việc
chuyển nhượng đất cho nguyên đơn không bao gồm phần đất là con đường đi và
cũng là con đường dân sinh của nhiều hộ có đất bên trong sử dụng.
Về phần đất của gia đình ông Ngô bà N4, sau khi khai hoang thì ông L bà T có
cho em là ông Ngô bà N4 một phần diện tích đất là 8585m
2
, đất thuộc thửa số 2a, 4c,
tờ bản đồ số 34. Sau đó, ông Ngô bà N4 đi kê khai cấp GCNQSDĐ, tại thửa đất số 4c
có thể hiện trên sơ đồ là con đường đi xuống đất nhà ông L bà T.
Do đó, việc khởi kiện của nguyên đơn là không đúng, nên không đồng ý với
nội dung khởi kiện. Đối với việc nguyên đơn cho rằng ông L bà T có mượn đất làm
đường đi là không đúng, con đường này thực tế có hình thành từ năm 1995, hiện
trang cho đến nay không thay đổi, nên không đồng ý với lời trình bày này. Ngoài ra
không yêu cầu gì thêm.
*Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Đình N2 trình
bày:
Đối với thửa đất số 4c, tờ bản đồ số 34 gia đình tôi canh tác từ năm 1995 cho
đến nay, có nguồn gốc từ ông Phạm Xuân L, bà Huỳnh Thị T là anh chị của vợ
chồng tôi. Từ năm 1995 vợ chồng chúng tôi đã trồng toàn bộ cà phê trên diện tích đất
tặng cho, đến năm 2000 do giá cà phê rẻ, không đủ nước tưới để canh tác, làm ăn
không hiệu quả nên vợ chồng chúng tôi đã chuyển về Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai)
sinh sống cho đến nay, nhưng gia đình tôi vẫn quản lý toàn bộ diện tích đất này,
thỉnh thoảng có cho một số hộ dân sống xung quanh trồng các loại cây ngắn ngày
như N2, M và không trồng cây lâu năm. Tôi xác định ranh giới đất nhà tôi với đất
của nhà ông Đ, bà N là cách nhau 01 con đường rộng khoản 3m, dài hết đất tính từ
tỉnh lộ 19. Từ thời điểm năm 1995 khi nhận đất đã có con đường, các hộ dân có đất
bên trong sử dụng làm đường đi vào rẫy của họ, không ai tranh chấp, cho đến nay
vẫn còn con đường này và gia đình tôi không sử dụng. Từ thời điểm canh tác cho đến
nay ông Đ, bà N không có ý kiến tranh chấp đối với đất của gia đình chúng tôi đang
sử dụng cũng như tranh chấp về con đường do các hộ dân sử dụng làm đường đi và
hiện trạng sử dụng đất cũng không thay đổi cho đến nay. Từ thời điểm chúng tôi về
Bình Định sống có một vài năm cho các hộ dân sống xung quanh trồng một số loại
cây ngắn ngày nhưng canh tác cũng trong phạm vi đất của gia đình chúng tôi, và đất
4
giữa hai gia đình cách nhau 01 con đường đất nên việc ông Đ, bà N cho rằng chúng
tôi lấn chiếm đất của ông bà là không đúng, tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện.
*Bị đơn bà Phạm Thị N3 trình bày: Diện tích đất nguyên đơn đang tranh
chấp là tài sản chung của vợ chồng tôi có được là do ông Phạm Xuân L (anh trai), bà
Huỳnh Thị T (chị dâu) cho năm 1995 và đến năm 2006 vợ chồng chúng tôi được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tôi đồng ý với lời trình bày của chồng tôi là
ông Lê Đình N2 và không có ý kiến bổ sung gì thêm.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện E trình
bày: Về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê
Đình N2 và bà Phạm Thị N3.
Ngày 21/11/2005, ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3, thường trú tại thôn H,
xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk có Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại
thửa đất số 22A và thửa đất số 4C, tờ bản đồ số 34 với diện tích 8.585m' đất (400m
đất ở tại nông thôn, 8.185m} đất LNK), có nguồn gốc sử dụng đất: Khai hoang năm
1995.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3. UBND xã E (nay là UBND xã E) có thông báo
số 01/TB-UB, ngày 21/11/2005 về việc Công khai hồ sơ đăng ký đất tại Trụ sở
UBND xã E và Hội trường thôn I, xã E (kèm theo danh sách công khai, trong đó có
ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3). Thời gian công khai 15 ngày kể từ ngày ký
Thông báo.
Ngày 12/01/2006, UBND xã E (Nay là UBND xã E) xác nhận về nguồn gốc sử
dụng đất, tình trạng tranh chấp, khiếu nại về đất đai, phù hợp quy hoạch sử dụng đất
đối với thửa đất số 22a và thửa đất số 4c, tờ bản đồ số 34 với tổng diện tích 8.585m?
(kèm theo biên bản xác minh thực địa ngày 11/01/2006).
Đồng thời có Tờ trình số 03/TT-UB, ngày 12/01/2006 về việc đề nghị cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho 02 hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện cấp giấy
(trong đó có ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3)
Căn cứ hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Đình
N2 và bà Phạm Thị N3. Nguồn gốc sử dụng đất được UBND xã E xác nhận và đề
nghị tại Tờ trình số 03/TT-UB, ngày 12/01/2006. Ngày 03/3/2006, Phòng T5 có
phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính số 85 đến Chi cục
thuế huyện E (nay là Chi cục thuế khu vực E- M'Đrắk) để xác định nghĩa vụ tài chính
về đất đai.
Sau khi ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3 thực hiện nghĩa vụ tài chính theo
quy định. Ngày 10/3/2006, Phòng T5 đề nghị UBND huyện cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3 với tổng diện tích
8.585m2 đất (400m' đất ở tại nông thôn, 8.185m đất LNK), thuộc thửa số 22A và
thửa đất số 4C, tờ bản đồ số 34, vị trí tại Thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là
Thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk). Ngày 13/3/2006, ông Lê Đình N2 và bà Phạm
5
Thị N3 được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ
532161.
Trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai đối với việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3,
UBND xã E, Phòng T5, UBND huyện không nhận được đơn khiếu nại, tranh chấp
cũng như các ý kiến, kiến nghị của bất kỳ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào.
Trên cơ sở hồ sơ, tài liệu có liên quan do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai
huyện E cung cấp. UBND huyện E khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3 là đúng, đủ trình tự thủ tục quy
định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành.
2. Về hồ sơ, trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Phạm Xuân L và bà Huỳnh Thị T.
Ngày 21/11/2005, ông Phạm Xuân L và bà Huỳnh Thị T, thường trú tại thôn I,
xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk với đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại
thửa đất số 23 và thửa đất số 22b, tờ bản đồ số 34 với tổng diện tích 37.305m2 đất;
mục đích sử dụng: đất LNK, có nguồn gốc sử dụng đất: Khai phá năm 1995.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
ông Phạm Xuân L và bà Huỳnh Thị T. UBND xã E (nay là UBND xã E) có thông
báo số 01/TB-UB, ngày 21/11/2005 về việc Công khai hồ sơ đăng ký đất tại Trụ sở
UBND xã E và Hội trường thôn I, xã E (kèm theo danh sách công khai, trong đó có
ông Phạm Xuân L và bà Huỳnh Thị T.
Ngày 12/01/2006, UBND xã E (Nay là UBND xã E) xác nhận về nguồn gốc sử
dụng đất, tình trạng tranh chấp, khiếu nại về đất đai, phù hợp quy hoạch sử dụng đất
đối với thửa đất số 23, 22b, tờ bản đồ số 34 với tổng diện tích 37.305m2 (kèm theo
biên bản xác minh thực địa ngày 11/01/2006). Đồng thời có Tờ trình số 03/TT-UB,
ngày 12/01/2006 về việc đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 02 hộ
gia đình, cá nhân đủ điều kiện cấp giấy (trong đó có ông Phạm Xuân L và bà Huỳnh
Thị T).
Căn cứ hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm
Xuân L và bà Huỳnh Thị T. Nguồn gốc sử dụng đất được UBND xã E xác nhận và
đề nghị tại Tờ trình số 03/TT-UB, ngày 12/01/2006. Ngày 03/3/2006, Phòng T5 có
phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính số 86 đến Chi cục
thuế huyện E (nay là Chi cục thuế Khu vực E' Đrắk) để xác định nghĩa vụ tài chính
về đất đai.
Sau khi ông Phạm Xuân L và bà Huỳnh Thị T thực hiện nghĩa vụ tài chính
theo quy định. Ngày 10/3/2006, Phòng T5 đề nghị UBND huyện cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Xuân L và ba Huỳnh Thị T với tổng diện tích
37.375m2 đất LNK, thuộc thửa số 23, 22b; tờ bản đồ số 34, vị trí tại Thôn I, xã E,
huyện E, tỉnh Đăk Lak (nay là thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk). Ngày 13/3/2006,
ông Phạm Xuân L và bà Huỳnh Thị T được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AĐ 532160.
6
3. Quan điểm của UBND huyện đối với yêu cầu của nguyên đơn. Trong quá
trình thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai đối với việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lần đầu cho ông Phạm Xuân L và bà Huỳnh Thị T, UBND xã E,
Phòng T5, UBND huyện không nhận được đơn khiếu nại, tranh chấp cũng như các ý
kiến, kiến nghị của bất kỳ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
Trên cơ sở các hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3; ông Phạm Xuân L và bà Huỳnh
Thị T và bản đồ địa chính đo đạc năm 1998 được Sở T6 kiểm tra nghiệm thu. Ủy ban
nhân dân huyện N6 thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 532160
cho ông Phạm Xuân L và bà Huỳnh Thị T và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AĐ 532161 cho ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3 là đúng trình tự, thủ tục và
đúng quy định của pháp luật. Đề nghị tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp
luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 15-19/5/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 91, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Minh Đ và bà Đỗ Thị N đối với yêu cầu: Buộc ông Phạm Xuân L, bà Huỳnh Thị T
trả lại phần diện tích con đường đi theo hiện trạng là 340.7m
2
. Buộc ông Lê Đình N2,
bà Phạm Thị N3 trả lại diện tích đất lấn chiếm 1099.1m
2
, là một phần đất nằm trong
thửa đất số 4c, tờ bản đồ số 34 đứng tên của ông Ngô bà N4.
Ông Nguyễn Minh Đ, bà Đỗ Thị N, ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3 có
trách nhiệm liên hệ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động
quyền sử dụng đất cho đúng với hiện trạng sử dụng đất.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền
kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 28/5/2026, nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ và bà Lê Thị N5 có đơn
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội
dung kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ
7
luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Minh
Đ và bà Lê Thị N5. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 15-
19/05/2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo nguyên đơn làm trong hạn luật định và thuộc
trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét, giải quyết
theo trình tự phúc thẩm.
Các bị đơn ông Lê Đình N2, bà Phạm Thị N3, người đại diện theo ủy quyền
của bị đơn bà Lê Thị N1, UBND xã E là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
nhưng đều vắng mặt. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo đúng theo
quy định cua pháp luật.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ và bà
Đỗ Thị N:
[2.1] Đối với yêu cầu buộc bị đơn ông L, bà T trả lại phần diện tích con đường
đi theo hiện trạng là 340.7m
2
.
Nguyên đơn khai nhận, diện tích thửa đất số 04, tờ bản đồ số 34 của nguyên
đơn có nguồn gốc nhận chuyển nhượng một phần diện tích đất mặt bên dưới của ông
Phạm Xuân L và một phần diện diện tích đất phía trên đường T là mua của ông T3
(không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ hiện nay), vợ chồng mua khoảng năm 1997.
Thời điểm nhận chuyển nhượng các bên chỉ xác định khoảng đất mua bán, không xác
định được diện tích, số đo tứ cận diện tích đất nhận chuyển nhượng, cho đến nay
ranh giới về phía đất có tranh chấp là không có sự thay đổi. Ranh giới giữa đất của
gia đình ông N2, bà N1 với đất của ông Đ bà N là không có ranh giới, con đường
hiện trạng hiện nay giáp ranh đất nhà ông N2, bà N1 được hình thành từ năm 1997.
Ngày 18/12/2003, ông Nguyễn Minh Đ và bà Đỗ Thị N được UBND huyện E cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V789191; thửa đất số 04, tờ bản đồ số 34,
diện tích 8775 m
2
đất màu tại thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Ông Đ, bà N trình
bày gia đình ông, bà cho gia đình ông L, bà T mượn đất làm đường đi xuống rẫy của
ông L, bà T từ năm 2003, thời điểm cho mượn thì không làm giấy tờ gì, các bên chỉ
nói miệng với nhau.
Mặc dù trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho nguyên đơn thì cạnh
giáp ranh đối với thửa đất số 4C không thể hiện con đường đi. Tuy nhiên theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N2, bà N1 thì cạnh giáp ranh giữa thửa
đất số 4C và thửa đất số 4 của nguyên đơn có thể hiện con đường đi. Theo kết quả
xác minh tại địa phương xác định con đường tranh chấp có thể hiện trên tờ bản đồ số
34, được phê duyệt vào tháng 12/1998, con đường nằm giữa đất của ông Đ, bà N với
đất của ông N2, bà N1. Đây là con đường công, làm lối đi chung cho các hộ dân
trong đó có gia đình ông L, bà T sử dụng, con đường này thuộc quyền quản lý của
8
chính quyền địa phương. Ngoài ra, nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu
chứng cứ chứng minh cho việc nguyên đơn cho bị đơn ông L, bà T mượn đất để dùng
làm lối đi vào rẫy và không được ông L bà T thừa nhận. Do đó, không có căn cứ để
chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên.
[2.2] Đối với yêu cầu buộc ông N2, bà N1 trả lại diện tích lấn chiếm 1099,1
m
2
, nằm trong phần diện tích đất thuộc thửa đất số 4c, tờ bản đồ số 34 đứng tên của
ông N2, bà N1.
Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn xác định thời
điểm nguyên đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên chỉ xác định
khoảng đất mua bán, không đo đạc nên không xác định được diện tích, số đo tứ cận
diện tích đất nhận chuyển nhượng, cho đến nay ranh giới về phía đất có tranh chấp là
không có sự thay đổi.
Đối với thửa đất số 4c, tờ bản đồ 34 cấp cho ông N2, bà N1 có nguồn gốc từ
ông L, bà T (là anh chị của ông N2, bà N1) khai hoang trước năm 1995, sau đó tặng
cho đất cho em mình là ông N2, bà N1 canh tác từ năm 1995 cho đến nay. Đến ngày
13/03/2006 ông N2, bà N1 được Ủy ban nhân dân cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất trên.
Theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương thì thời điểm cấp đất cho
ông Đ, bà N và ông N2, bà N1 thì diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
được cấp là căn cứ vào đơn kê khai cấp đất của người sử dụng đất và số liệu của thửa
đất được thể hiện trên tờ bản đồ số 34 đã được phê duyệt của từng thửa đất có diện
tích cụ thể vào tháng 12/1998. Đồng thời một phần có sự chênh lệch trong quá trình
cấp đất tại thời điểm cấp máy móc trang thiết bị còn hạn chế nên có thể có sự sai sót
nhưng về tứ cận các bên sử dụng không có sự thay đổi từ thời điểm cấp cho đến nay.
Theo kết quả đo vẽ, lồng ghép hiện trạng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
trong quá trình giải quyết vụ án: Đối với đất của ông Đ, bà N theo hiện trạng sử dụng
là 8222 m
2
(GCNQSDĐ: 8775m
2
); đối với diện tích đất của ông N2, bà N1 theo hiện
trạng sử dụng là 2289.2 m
2
(GCNQSDĐ: 3320m
2
). Như vậy, cả hai thửa đất sử dụng
theo hiện trạng đều không đủ diện tích so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
được cấp. Do đó, việc nguyên đơn cho rằng diện tích đất nguyên đơn đang quản lý sử
dụng ít hơn với diện tích đất được cấp là do bị ông ông N2, bà N1 lấn chiếm và yêu
cầu ông N2, bà N1 trả lại diện tích đất lấn chiếm 1099,1 m
2
là chưa đủ căn cứ nên
không có cơ sở để chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên.
Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử Không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ và bà Đỗ Thị N
là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo
của nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ và bà Đỗ Thị N. Cần giữ nguyên Bản án dân sự
sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 15-19/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 –Đ
là phù hợp.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Minh Đ và bà Đỗ Thị N được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
9
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ và bà
Đỗ Thị N;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2026/DS-ST ngày 15-19/05/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk.
[2] Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Minh Đ và bà Đỗ Thị N đối với yêu cầu: Buộc ông Phạm Xuân L, bà Huỳnh Thị T
trả lại phần diện tích con đường đi theo hiện trạng là 340.7m
2
. Buộc ông Lê Đình N2,
bà Phạm Thị N3 trả lại diện tích đất lấn chiếm 1099.1m
2
, là một phần đất nằm trong
thửa đất số 4c, tờ bản đồ số 34 đứng tên của ông N2, bà N3.
Ông Nguyễn Minh Đ, bà Đỗ Thị N, ông Lê Đình N2 và bà Phạm Thị N3 có
trách nhiệm liên hệ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho đúng với diện tích hiện trạng sử dụng đất theo quy định
của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Minh Đ, bà Đỗ Thị N phải chịu toàn bộ chi
phí tố tụng đã nộp 14.000.000 đồng đã nộp tại cấp sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:
Ông Nguyễn Minh Đ và bà Đỗ Thị N là người cao tuổi thuộc trường hợp
được miễn nộp án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TANDTC; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 7;
- THADS tỉnh Đắk Lắk; (Đã ký)
- Phòng THADS khu vực 7;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị My My
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 431/2026/DS-PT Bản án số 431/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 431/2026/DS-PT Bản án số 431/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất