Bản án số 376/2026/DS-PT ngày 02/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 376/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 376/2026/DS-PT ngày 02/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 376/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Anh T2; giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 122/2025/DS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân khu vực 1 - Lâm Đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 376/2026/DS-PT Bản án số 376/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 376/2026/DS-PT Bản án số 376/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 376/2026/DS-PT
Ngày: 02-7-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Ông Đặng Ngọc Bình
Ông Nguyễn Thành Tâm
- Thư phiên toà: Mai Thị Trúc Giang Thư Tòa án, Toà án nhân
dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ngô Hoàng Thanh
Hải – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 02 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 104/2026/TLPT-DS ngày 04 tháng 3 năm
2026 về tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng”.
Do Bn án Dân s thm s 122/2025/DS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2025
ca Tòa án nhân dân khu vc 1 Lâm Đồng b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 362/2026/QĐ-PT ngày
19/5/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 299/2026/QĐ-PT ngày 08/6/2026
Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 59/2026/QĐPT-DS ngày 24/6/2026 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Mai Anh T2, sinh năm: 1987; trú tại số A, đường T,
Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Mai D, sinh năm: 1950, cư trú tại thôn P, xã Q,
tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 4410,
quyển số 04/2024 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày
18/12/2024), có mặt.
- Bị đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần H3. Trụ sở tại: số E, đường N,
phường L, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp:
2
- Ông Nguyễn Hoàng L, người đại diện theo pháp luật (Tổng Giám đốc),
vắng mặt.
- Ông Bùi Đức Q, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản y quyền số
12042/2023/UQ-TGĐ12 ngày 29/12/2023), vắng mặt.
Ông Q ủy quyền lại cho:
1. Ông Nguyễn Tiến T, sinh năm: 1987, có mặt;
2. Ông Ngô Văn Tiến H, sinh năm: 1998, có mặt;
3. Ông Nguyễn Lâm Huy T1, sinh năm: 1992, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: A, đường H, phường H, thành phĐà Nẵng (Văn bản y
quyền số 9231/2025/UQ-TGĐ12 ngày 20/8/2025).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Vũ Minh H1, sinh năm: 1984; cư trú tại số A, đường T, Phường X - Đ,
tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Mai D, sinh năm: 1950, cư trú tại thôn P, xã Q,
tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 4411,
quyển số 04/2024 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày
18/12/2024), có mặt.
2. Tổng Công ty cổ phần B. Địa chỉ: số I, phố T, phường C (phường D, quận
C cũ), Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp:
- Hoàng Thị Y, người đại diện theo pháp luật (Tổng Giám đốc), vắng
mặt.
- Ông Hồ Đình Q1, sinh năm: 1995; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản
ủy quyền số 57/GUQ – PTI ngày 11/02/2025), có mặt.
3. Công ty B1. Địa chỉ: Tầng G & I, tòa nhà L, số A B, đường V, phường X
(đường V, Quận C), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Hoàng H2 (Giám đốc), vắng mặt.
4. Công ty trách nhiệm hữu hạn B1. Địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà S, số C, đường
T, phường S (phường B, Quận A), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phương Tiến M, người đại diện theo pháp
luật (Tổng Giám đốc), vắng mặt.
- Ông Conor Martin O, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số
146.23/10.24/legal ngày 09/10/20247), vắng mặt.
Ông Conor M1 O’Neill ủy quyền lại cho:
3
1. Bà Hà Thị Quỳnh U, vắng mặt;
2. Ông Đỗ Hoàng L1, sinh năm: 1997, vắng mặt;
Cùng địa chỉ liên lạc: tầng A, Tòa nhà P, số H, đường H, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 162-29/11.24/legal ngày 29/11/2024).
5. Phòng Công chứng số 2 tỉnh K (trước đây Phòng C1 tỉnh Ninh Thuận),
địa chỉ: số B, đường L, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa (trước đây phường M, thành
phố P - T, tỉnh Ninh Thuận), vắng mặt.
Người kháng cáo: Bà Mai Anh T2 Nguyên đơn.
NI DUNG V ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 12/6/2024 của Mai Anh T2, lời trình
bày tại các bản tự khai trong quá trình tham gia tố tụng tại giai đoạn thẩm
của ông Mai D, người đại diện theo ủy quyền của bà T2, thì:
Mai Anh T2 vay của Ngân hàng thương mại cổ phần H3 (sau đây gọi
tắt là Ngân hàng H3, M2), cụ thể như sau:
1. Hợp đồng số 26.94.2021/HĐCV ngày 27/4/2021 số tiền 2.400.000.000đ.
Tại giấy nhận nợ lần thứ 1 ngày 28/4/2021 thể hiện: “Mức điều chỉnh lãi suất: bằng
lãi suất huy động khạn 12 tháng VND áp dụng cho khách hàng nhân được
công bố tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 3,5% tháng nhưng không thấp hơn lãi
suất cho vay tối thiểu được MSB quy định theo từng thời kì, tương ứng với đối
tượng khách hàng” và điều chỉnh 3 tháng/lần. Lãi suất ưu đãi 9,5%/năm kéo dài hết
tháng 10/2022 bắt đầu điều chỉnh lãi suất vay vào tháng 11/2022. Tuy nhiên,
ngày 26/8/2022 đã trả gốc 150.000.000đ (tương đương 10.000.000đ gốc/tháng
từ tháng 5/2021 đến tháng 7/2022). Do đó, tiền gốc còn lại 2.250.000.000đ. Lẽ
ra, Ngân hàng chỉ thu lãi 9,5%/năm 17.812.500đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng:
27.812.500đ. Tuy nhiên, Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 8 là 33.886.986đ. Tháng
9/2022: nợ còn lại: 2.240.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 9,5%/năm
17.733.333đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng: 27.733.33nhưng Ngân hàng thu gốc
lãi tháng 9: 33.780.822đ. Tháng 10/2022: dư nợ còn lại: 2.230.000.000đ, lẽ ra
Ngân hàng chỉ thu lãi 9,5%/năm là 17.654.166đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng:
27.654.166đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 10: 32.917.109đ.
Sau khi hết thời gian ưu đãi lãi suất, lãi suất sẽ điều chỉnh theo điều chỉnh của
giấy nhận nợ. Tháng 11/2022, lãi kỳ hạn 12 tháng 7%/năm, lãi suất cho vay tối
thiểu quy định tại thời này 10,1% nên lãi suất điều chỉnh sẽ
7%+3.5%=10,5%/năm, lãi suất này không thấp hơn lãi suất cho vay tại thời kỳ
(10,1%/năm) nên sẽ áp dụng mức lãi suất 10,5%/năm. Ngân hàng bắt buộc khách
hàng mua bảo hiểm nếu không mua sẽ tăng 3% lãi suất, tại thời điểm này bà không
mua bảo hiểm nên lãi suất là: 10,5%+3%=13,5%/năm lãi suất này áp dụng 3 tháng
(tháng 11, tháng 12, tháng 01/2023). Do đó, tháng 11/2022: nợ gốc còn lại:
4
2.220.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 13,5%/năm là 24.975.000đ, gốc:
10.000.000đ, tổng cộng: 34.975.000đ nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng 11:
39.036.384đ. Tháng 12/2022: Dư nợ gốc còn lại: 2.210.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng
chỉ thu lãi 13,5%/năm 24.862.500đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng: 34.862.500đ
nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 12: 40.170.323đ. Tháng 1/2023: Dư nợ gốc
còn lại: 2.200.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 13,5%/năm 24.750.000đ,
gốc: 10.000.000đ, tổng cộng: 34.750.000đ nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng
1/2023: 42.043.758đ.
Tại thời điểm tháng 2/2023, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho
khách hàng nhân 8,6%/năm. Lãi suất cho vay tối thiểu quy định tại thời
này 11,6%/năm nên lãi suất điều chỉnh sẽ là 8,6%+3,5%=12,1%/năm, lãi suất
này không thấp hơn lãi suất cho vay tại thời kỳ (11,6%/năm) nên sẽ áp dụng mức
lãi suất 12,1%/năm. Ngân hàng bắt buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu không mua
sẽ tăng 3% lãi suất, tại thời điểm này mua bảo hiểm nên lãi suất 12,1%/năm,
lãi suất này áp dụng 03 tháng (tháng 02, tháng 3, tháng 4/2023). Do đó, tháng
02/2023: nợ gốc còn lại: 2.190.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi
12,1%/năm 22.082.500đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng: 32.082.500đ nhưng
Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 2/2023: 37.636.000đ. Tháng 3/2023: dư nợ gốc còn
lại: 2.180.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 12,1%/năm 21.981.666đ, gốc:
10.000.000đ, tổng cộng: 31.981.666đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng
2/2023: 35.291.648đ. Tháng 4/2023: dư nợ gốc còn lại: 2.170.000.000đ, lẽ ra Ngân
hàng chỉ thu lãi 12,1%/năm 21.880.833đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng:
31.880.833đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 02/2023: 35.291.648đ.
Tại thời điểm tháng 5/2023, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho
khách hàng cá nhân là 7,6%/năm, lãi suất cho vay tối thiểu của quy định tại thời kì
này 11,1%. Vậy lãi suất điều chỉnh sẽ 7,6%+3,5%=11,1% lãi suất này không
thấp hơn lãi suất cho vay tại thời kỳ (11,1%) nên sẽ áp dụng mức lãi suất 11,1%.
Ngân hàng bắt buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu không mua sẽ tăng 3% lãi suất,
tại thời điểm này khách hàng mua bảo hiểm nên lãi suất tại thời điểm này
11,1%/năm, lãi suất này áp dụng 3 tháng (tháng 5, tháng 6, tháng 7/2023). Tháng
5/2023: Dư nợ gốc còn lại: 2.160.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 11,1%/năm
19.980.000đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng: 29.980.000đ nhưng Ngân hàng thu
gốc và lãi tháng 5/2023: 36.209.718đ. Tháng 6/2023: nợ gốc còn lại:
2.150.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 11,1%/năm là 19.887.500đ, gốc:
10.000.000đ, tổng cộng: 29.887.500đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng
6/2023: 36.748.230đ. Tháng 7/2023: nợ gốc còn lại: 2.140.000.000đ, lẽ ra
Ngân hàng chỉ thu lãi 11,1%/năm 19.795.000đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng:
29.795.000đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 7/2023: 35.727.907đ
Tại thời điểm tháng 8/2023, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho
khách hàng cá nhân là 6%/năm, lãi suất cho vay tối thiểu quy định tại thời kì này là
5
8,99% nên lãi suất điều chỉnh sẽ là 6%+3,5%=9,5%/năm, lãi suất này không thấp
hơn lãi suất cho vay tại thời kỳ (8,99%) nên sẽ áp dụng mức lãi suất 9,5%/năm.
Ngân hàng bắt buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu không mua sẽ tăng 3% lãi suất,
tại thời điểm này mua bảo hiểm nên lãi 9,5%/năm lãi suất này áp dụng 3 tháng
(tháng 8, tháng 9, tháng 10/2023): Tháng 8/2023: nợ gốc còn lại:
2.130.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 9,5%/năm 16.862.500đ, gốc:
10.000.000đ, tổng cộng: 26.862.500đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng
8/2023: 36.452.416đ. Tháng 9/2023: nợ gốc còn lại: 2.120.000.000đ, lẽ ra
Ngân hàng chỉ thu lãi 9,5%/năm là 16.783.333đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng:
26.783.333đ nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng 9/2023: 33.244.312đ. Tháng
10/2023: Dư nợ gốc còn lại: 2.110.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 9,5%/năm
16.704.166đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng: 26.783.333đ nhưng Ngân hàng thu
gốc và lãi tháng 10/2023: 32.392.985đ.
Tại thời điểm tháng 11/2023, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho
khách hàng cá nhân là 5,1%/năm, lãi suất cho vay tối thiểu quy định tại thời kì này
6,8% nên lãi suất điều chỉnh sẽ 5,1%+3,5%=8,6%/tháng, lãi suất này không
thấp hơn lãi suất cho vay tại thời kỳ (6,8%) nên sẽ áp dụng mức lãi suất 8,6%.
Ngân hàng bắt buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu không mua sẽ tăng 3% lãi suất,
tại thời điểm này mua bảo hiểm nên lãi suất tại thời điểm này: 8,6%/năm, lãi
suất này áp dụng 03 tháng (tháng 11, tháng 12/2023 tháng 01/2024). Tháng
11/2023: Dư nợ gốc còn lại: 2.100.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 8,6%/năm
15.050.000đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng: 26.783.333đ nhưng Ngân hàng thu
gốc lãi tháng 11/2023: 33.771.343đ. Tháng 12/2023: nợ gốc còn lại:
2.090.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 8,6%/năm 14.978.000đ, gốc:
10.000.000đ, tổng cộng: 24.978.000đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng
11/2023: 31.145.370đ. Tháng 01/2024: nợ gốc còn lại: 2.080.000.000đ, lẽ ra
Ngân hàng chỉ thu lãi 8,6%/năm là 14.906.666đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng:
24.906.666đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 11/2023: 31.027.137đ.
Tại thời điểm tháng 02/2024, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho
khách hàng nhân 4%/năm, lãi suất cho vay tối thiểu của quy định tại thời
này là 8% nên lãi suất điều chỉnh sẽ là 4%+3,5%=7,5%/tháng lãi suất này thấp hơn
lãi suất cho vay tại thời kỳ 8% nên sẽ áp dụng mức lãi suất 8%. Ngân hàng bắt
buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu không mua sẽ tăng 3% lãi suất, tại thời điểm
này bà không mua bảo hiểm nên lãi suất tại thời điểm này là 11%/năm, lãi suất này
áp dụng 03 tháng (tháng 02, tháng 3 và tháng 4/2024). Tháng 02/2024: nợ gốc
còn lại: 2.070.000.000đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 11%/năm là 18.975.000đ, gốc:
10.000.000đ, tổng cộng: 28.975.000đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng
02/2024: 30.940.740đ. Tháng 3/2024: n gốc còn lại: 2.060.000.000đ, lẽ ra
Ngân hàng chỉ thu lãi 11%/năm 18.883.333đ, gốc: 10.000.000đ, tổng cộng:
28.883.333đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 3/2024: 30.429.931đ.
6
2. Hợp đồng vay số 31.05/2021/HĐCV ngày 31/05/2021 số tiền
700.000.000đ. Căn cứ giấy nhận nợ lần thứ 1 ngày 31 tháng 5 năm 2021 thì "Mức
điều chỉnh lãi suất: bằng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng VND áp dụng cho
khách hàng nhân được công bố tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 3,5% tháng
nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được MSB quy định theo từng thời
kì, tương ứng với đối tượng khách hàng" điều chỉnh 3 tháng/lần. Hợp đồng vay
này năm 2021 và được ngân hàng cam kết hưởng lãi suất ưu đãi 9,5% kéo dài hết
tháng 11/2022 và bắt đầu điều chỉnh lãi suất vay vào tháng 11 năm 2022.
Tháng 6/2021 đến tháng 11/2022 lãi suất ưu đãi 9,5%, gốc hàng tháng phải trả
là 2.916.667đ. Tuy nhiên, ngày 26/8/2022 bà đã trả gốc 40.833.338đ (tương đương
2.916.667đ gốc/tháng từ tháng 6/2021 đến tháng 7/2022). Tháng 8/2024: nợ
gốc còn lại: 659.166.662đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 9,5%/năm 5.218.402đ,
gốc: 2.916.667đ, tổng cộng: 8.135.069đ nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng
8/2024: 9.914.669đ. Tháng 9/2022: nợ n lại: 656.249.995đ, lẽ ra Ngân hàng
chỉ thu lãi 9,5%/năm là 5.195.312đ, gốc: 2.916.667đ, tổng cộng: 8.111.979đ nhưng
Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 9/2024: 9.885.202đ. Tháng 10/2022: dư nợ còn lại:
653.333.328đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 9,5%/năm 5.172.222đ, gốc:
2.916.667đ, tổng cộng: 8.088.889đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 10/2022:
9.631.993đ. Tháng 11/2022: dư nợ còn lại: 650.416.661đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu
lãi 9,5%/năm 5.149.131đ, gốc: 2.916.667đ, tổng cộng: 8.088.889đ nhưng Ngân
hàng thu gốc và lãi tháng 11/2022: 9.631.993đ.
Sau khi hết thời gian ưu đãi lãi suất, lãi suất sẽ điều chỉnh theo điều chỉnh của
giấy nhận nợ. Tại thời điểm tháng 11/2022, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng áp
dụng cho khách hàng nhân 7%/năm, lãi suất cho vay tối thiểu quy định tại
thời kì này là 10,1%/tháng nên lãi suất điều chỉnh sẽ là 7%+3,5%=10,5%/tháng, lãi
suất này không thấp hơn lãi suất cho vay tại thời kỳ (10,1%) nên sẽ áp dụng mức
lãi suất 10,5%. Ngân hàng bắt buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu không mua sẽ
tăng 3% lãi suất, tại thời điểm này không mua bảo hiểm nên tăng 3% nên lãi
suất tại thời điểm này: 10,5%+3%=13,5%/năm, lãi suất này áp dụng 3 tháng (tháng
12/2022, tháng 01, tháng 02/2023). Tháng 12/2022: nợ gốc còn lại:
647.499.994đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 13,5%/năm 7.284.374đ, gốc:
2.916.667đ, tổng cộng: 10.201.041đ nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng
12/2022: 11.466.113đ. Tháng 01/2023: nợ gốc còn lại: 644.583.327đ, lẽ ra
Ngân hàng chỉ thu lãi 13,5%/năm 7.251.562đ, gốc: 2.916.667đ, tổng cộng:
10.168.229đ nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng 01/2023: 12.871.114đ. Tháng
2/2023: nợ gốc còn lại: 641.666.660đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 13,5%/năm
7.218.749đ, gốc: 2.916.667đ, tổng cộng: 10.135.416đ nhưng Ngân hàng thu gốc
và lãi tháng 02/2023: 11.084.293đ
Tại thời điểm tháng 02/2023, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho
khách hàng cá nhân là 8,6%/năm, lãi suất cho vay tối thiểu quy định tại thời kì này
7
11,6% nên vậy lãi suất điều chỉnh s8,6%+3,5%=12,1% lãi suất này không
thấp hơn lãi suất cho vay tại thời kỳ (11,6%) vậy sẽ áp dụng mức lãi suất
12,1%/năm. Ngân hàng bắt buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu không mua sẽ tăng
3% lãi suất, tại thời điểm này mua bảo hiểm nên lãi suất 12,1%/năm, lãi suất
này áp dụng 03 tháng (tháng 3, tháng 4, tháng 5/2023). Tháng 3/2023: nợ gốc
còn lại: 638.749.993đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 12,1%/năm 6.440.729đ, gốc:
2.916.667đ, tổng cộng: 9.357.396đ nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng 3/2023:
10.334.917đ. Tháng 4/2023: Dư nợ gốc còn lại: 635.833.326đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ
thu lãi 12,1%/năm 6.411.319đ, gốc: 2.916.667đ, tổng cộng: 9.327.986đ nhưng
Ngân hàng thu gốc lãi tháng 04/2023: 10.334.917đ. Tháng 5/2023: nợ gốc
còn lại: 632.916.659đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 12,1%/năm 6.381.909đ, gốc:
2.916.667đ, tổng cộng: 9.298.576đ nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng 5/2023:
10.616.667đ.
Tại thời điểm tháng 5/2023, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho
khách hàng cá nhân là 7,6%/năm, lãi suất cho vay tối thiểu quy định tại thời kì này
11,1% nên lãi suất điều chỉnh sẽ 7,6%+3,5%=11,1%/năm, lãi suất này không
thấp hơn lãi suất cho vay tại thời kỳ (11,1%) vậy sẽ áp dụng mức lãi suất
11,1%/năm. Ngân hàng bắt buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu không mua sẽ tăng
3% lãi suất, tại thời điểm này mua bảo hiểm nên lãi suất tại thời điểm này
11,1%/năm, lãi suất này áp dụng 03 tháng (tháng 6, tháng 7, tháng 8/2023). Tháng
6/2023: nợ gốc còn lại: 629.999.992đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 11,1%/năm
5.827.499đ, gốc: 2.916.667đ, tổng cộng: 8.744.166đ nhưng Ngân hàng thu gốc
và lãi tháng 6/2023: 10.758.417đ. Tháng 7/2023: Dư nợ gốc còn lại: 627.083.325đ,
lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 11,1%/năm, gốc: 2.916.667đ nhưng Ngân hàng thu gốc
và lãi tháng 7/2023: 10.455.666đ. Tháng 8/2023: Dư nợ gốc còn lại: 624.166.658đ,
lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 11,1%/năm 5.773.541đ, gốc: 2.916.667đ, tổng cộng:
8.690.208đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 8/2023: 10.668.584đ.
Tại thời điểm tháng 8/2023, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho
khách hàng cá nhân là 6%/năm, lãi suất cho vay tối thiểu quy định tại thời kì này là
8,99% nên lãi suất điều chỉnh sẽ là 6%+3,5%=9,5%/năm, lãi suất này không thấp
hơn lãi suất cho vay tại thời kỳ (8,99%) nên sẽ áp dụng mức lãi suất 9,5%/năm.
Ngân hàng bắt buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu không mua sẽ tăng 3% lãi suất,
tại thời điểm này mua bảo hiểm nên lãi suất tại thời điểm này 9,5%/năm, lãi
suất này áp dụng 03 tháng (tháng 9, tháng 10, tháng 11/2023). Tháng 9/2023:
nợ gốc còn lại: 621.249.991đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 9,5%/năm là 4.918.229đ,
gốc: 2.916.667đ, tổng cộng: 7.834.896đ nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng
9/2023: 9.929.369đ. Tháng 10/2023: nợ gốc còn lại: 618.333.324đ, lẽ ra Ngân
hàng chỉ thu lãi 9,5%/năm 4.895.138đ, gốc: 2.916.667đ, tổng cộng: 7.811.805đ
nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng 10/2023: 9.478.879đ. Tháng 11/2023:
nợ gốc còn lại: 615.416.657đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 9,5%/năm là 4.872.048đ,
8
gốc: 2.916.667đ, tổng cộng: 7.788.715đ nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng
11/2023: 9.882.962đ.
Tại thời điểm tháng 11/2023, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho
khách hàng cá nhân là 5,1%/năm, lãi suất cho vay tối thiểu quy định tại thời kì này
6,8% nên lãi suất điều chỉnh sẽ 5,1%+3,5%=8,6%/năm, lãi suất này không
thấp hơn lãi suất cho vay tại thời kỳ (6,8%) nên sẽ áp dụng mức lãi suất 8,6%/năm.
Ngân hàng bắt buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu không mua sẽ tăng 3% lãi suất,
tại thời điểm này mua bảo hiểm nên lãi suất tại thời điểm này 8,6%/năm lãi
suất này áp dụng 3 tháng (tháng 12/2023 tháng 01, tháng 02/2024). Tháng
12/2023: nợ gốc còn lại: 612.499.990đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 8,6%/năm
4.389.583đ, gốc: 2.916.667đ, tổng cộng: 7.306.250đ nhưng Ngân hàng thu gốc
lãi tháng 12/2023: 9.113.560đ. Tháng 01/2024: nợ gốc còn lại:
609.583.323đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 8,6%/năm 4.368.680đ, gốc:
2.916.667đ, tổng cộng: 7.285.347đ nhưng Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 01/2024:
9.079.060đ. Tháng 02/2024: Dư nợ gốc còn lại: 606.666.656đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ
thu lãi 8,6%/năm 5.561.111đ, gốc: 2.916.667đ, tổng cộng: 8.477.778đ nhưng
Ngân hàng thu gốc và lãi tháng 02/2024: 9.053.862đ.
Tại thời điểm tháng 2/2024, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho
khách hàng cá nhân là 4%/năm, lãi suất cho vay tối thiểu quy định tại thời kì này là
8% nên lãi suất điều chỉnh sẽ 4%+3,5%=7,5%/năm, lãi suất này thấp hơn lãi
suất cho vay tại thời kỳ (8%) vậy sẽ áp dụng mức lãi suất 8%. Ngân hàng bắt
buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu không mua sẽ tăng 3% lãi suất, tại thời điểm
này bà không mua bảo hiểm nên lãi suất tại thời điểm này là 11%/năm, lãi suất này
áp dụng 03 tháng (tháng 3, tháng 4 tháng 5/2024). Tháng 3/2024: nợ gốc
còn lại: 603.749.989đ, lẽ ra Ngân hàng chỉ thu lãi 11%/năm 5.534.374đ, gốc:
2.916.667đ, tổng cộng: 8.451.041đ nhưng Ngân hàng thu gốc lãi tháng 3/2024:
8.904.315đ. Đến tháng 4/2024 thì phát hiện Ngân hàng tính sai lãi của các hợp
đồng tín dụng.
3. Hợp đồng vay số 00737/2023/HĐCV/RV ngày 28/2/2023 số tiền
990.000.000đ. Ngân hàng cũng yêu cầu T2 mua bảo hiểm P bảo hiểm bưu
điện.
4. Hợp đồng cho vay số 111-00006792.04732/2023/HĐCV ngày 02/6/2023
thì bà T2 chưa được nhận số tiền vay.
Do các Hợp đồng vay số 26.94/2021/HĐCV ngày 27/4/2021; Hợp đồng vay
số 31.05/2021/HĐCV ngày 31/5/2021; Hợp đồng vay s00737/2023/HĐCV/RV
ngày 28/2/2023 vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại điểm c điểm b,
khoản 4 điều 10 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật
số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010) đó là: Can thiệp trái pháp luật vào việc lựa
chọn doanh nghiệp bảo hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chỉ định, yêu cầu, ép
9
buộc, ngăn cản tổ chức, nhân tham gia bảo hiểm. Do các hợp đồng trên nội
dung vi phạm điều cấm của luật. Đồng thời, không quy định nào của pháp luật
bắt buộc người vay vốn ngân hàng phải mua bảo hiểm khi vay tiền. Đối với phụ
lục hợp đồng cho vay xác lập: khách hàng bằng phụ lục này cam kết từ bỏ quyền
khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến việc điều chỉnh lãi suất cho vay của M2 phù
hợp với quy định phụ lục này thì theo quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho
vay: Tổ chức tín dụng khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu
vốn thị trường, nhu cầu vay vốn mức độ tín nhiệm của khách hàng nhưng phụ
lục hợp đồng MSB buộc khách hàng nếu không tái tục mua bảo hiểm đúng thời
hạn quy định của M2 thì áp dụng mức tăng lãi suất 3%/năm đối với tất cả các
khoản vay được bảo đảm bởi chính tài sản bảo đảm, việc điều chỉnh tăng lãi suất
3% do không tái tục mua bảo hiểm không phù hợp với Thông 39/2016/TT-
NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N. Đối với hợp đồng vay số 111-
00006792.04732/2023/HĐCV ngày 02/6/2023 vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng về
việc không thực hiện giải ngân đúng thời hạn, điều này trái với Thông
06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023 của Ngân hàng N. Do vậy, yêu cầu tuyên
bố các Hợp đồng vay số 26.94/2021/HĐCV ngày 27/4/2021; Hợp đồng vay số
31.05/2021/HĐCV ngày 31/5/2021; Hợp đồng vay số 00737/2023/HĐCV/RV
ngày 28/2/2023 Hợp đồng vay số 111-00006792.04732/2023/HĐCV ngày
02/6/2023 giữa bà Mai Anh T2 và Ngân hàng H3 là vô hiệu.
- Theo lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thì: Ngân
hàng thương mại cổ phần H3 - Chi nhánh L2 Mai Anh T2 hợp đồng
cho vay tiền. Vợ chồng ông Minh H1, Mai Anh T2 cũng văn bản đồng
thuận về việc cùng vay vốn cùng trả nợ cho Ngân hàng, các hợp đồng cho vay
cụ thể như sau:
+ Ngày 27/04/2021, Hợp đồng cho vay tiền s26.04/2021/HĐCV với số
tiền vay 2.400.000.000đ, thời hạn vay: 240 tháng, lãi suất cho vay thả nổi như
sau: 9,5%/năm (đến ngày 27/10/2022), sau đó điều chỉnh lãi suất 3 tháng/lần với
lãi suất tham chiếu được công bố tại thời điểm điều chỉnh (=) biên độ 3,5%/năm,
lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, phương thức trả nợ được thỏa thuận
tại giấy nhận nợ mỗi kỳ 10.000.000đ, được trả 01 tháng/lần vào ngày 26 hàng
tháng. Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông H1, T2 đã trả 350.000.000đ nên còn
nợ 2.050.000.00tiền gốc; lãi trong hạn tngày 28/4/2021 đến ngày 09/12/2025
là 1.193.996.674đ, lãi đã trả 775.346.165đ, còn nợ là 418.650.165đ; Lãi quá hạn
từ ngày 26/7/2021 đến ngày 09/12/2025 là 10.024.488đ, đã trả là 294.419đ, còn nợ
là 9.730.069đ.
+ Ngày 31/05/2021, kết Hợp đồng cho vay số 31.05/2021/HĐCV với số
tiền 700.000.000đ, thời hạn vay: 240 tháng, lãi suất cho vay thả nổi như sau:
9,5%/năm (đến ngày 29/11/2022), sau đó điều chỉnh lãi suất 3 tháng/lần với lãi
suất tham chiếu được công bố tại thời điểm điều chỉnh (=) biên độ 3,5%/năm, lãi
10
suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, phương thức trả nđược thỏa thuận tại
giấy nhận nợ mỗi kỳ 2.916.667đ, được trả 01 tháng/lần vào ngày 26 hàng tháng.
Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông H1, bà T2 đã trả 100.341.583đ nên còn nợ
599.658.417đ tiền gốc; lãi trong hạn từ ngày 31/5/2021 đến ngày 09/12/2025
342.416.058đ, lãi đã trả 219.904.982đ, còn lại là 122.511.076đ; lãi quá hạn từ ngày
26/7/2021 đến ngày 09/12/2025 là 2.845.242đ, lãi đã trả 102.727đ, còn n
2.742.515đ.
+ Ngày 27/02/2023, kết Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số
00737/2023/HĐCV/RB với số tiền vay 990.000.000đ, thời hạn vay: 120 tháng kể
từ ngày nhận nợ, thời hạn vay: 120 tháng, lãi suất cho vay thả nổi như sau:
13,75%/năm (đến ngày 28/02/2024), sau đó điều chỉnh lãi suất 3 tháng/lần với lãi
suất tham chiếu được công bố tại thời điểm điều chỉnh (=) biên độ 4,5%/năm, lãi
suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, phương thức trả nợ mỗi kỳ 8.250.000đ,
được trả 01 tháng/lần vào ngày 26 hàng tháng. Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông
H1, T2 đã trả 107.250.000đ nên còn nợ 882.750.000đ tiền gốc, lãi trong hạn từ
ngày 28/02/2023 đến ngày 09/12/2025 là 330.259.295đ, lãi đã trả là 138.589.938đ,
còn nợ 191.669.357đ; lãi quá hạn từ ngày 27/3/2023 đến ngày 09/12/2025
8.931.505đ, lãi đã trả là 226.568đ, còn nợ là 8.704.937đ.
+ Ngày 02/06/2023, kết Hợp đồng cho vay số 111-
00006792.04732/2023/HĐCV với số tiền vay 900.000.000đ, thời hạn vay: 120
tháng kể tngày nhận nợ. Số tiền được giải ngân thực tế theo giấy nhận nợ, như
sau:
+ Ngày 07/6/2023 giải ngân 192.000.000đ, lãi suất cho vay thả nổi như sau:
12,99%/năm (đến ngày 06/6/2024), sau đó điều chỉnh lãi suất 3 tháng/lần với lãi
suất tham chiếu được công bố tại thời điểm điều chỉnh (=) biên độ 4%/năm,
phương thức trả nợ được thỏa thuận tại giấy nhận nợ mỗi kỳ 1.600.000đ, được trả
01 tháng/lần vào ngày 06 hàng tháng. Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông H1,
T2 đã trả 14.825.558đ nên còn nợ 177.174.442đ tiền gốc, lãi trong hạn từ ngày
07/6/2023 đến ngày 09/12/2025 là 56.568.141đ, lãi đã trả 18.056.152đ, còn nợ
38.511.989đ; lãi quá hạn từ ngày 06/10/2023 đến ngày 09/12/2025 1.710.373đ,
đã trả là 15.507đ, còn nợ là 1.694.866đ.
+ Ngày 04/7/2023 giải ngân 72.000.000đ, lãi suất cho vay thả nổi như sau:
12,5%/năm (đến ngày 03/7/2024), sau đó điều chỉnh lãi suất 3 tháng/lần với lãi
suất tham chiếu được công bố tại thời điểm điều chỉnh (=) biên độ 4%/năm,
phương thức trả nợ được thỏa thuận tại giấy nhận nợ mỗi kỳ 600.000đ, được trả 01
tháng/lần vào ngày 06 hàng tháng. Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông H1, bà T2
đã trả 4.840.336đ nên còn nợ 67.159.664đ tiền gốc, lãi trong hạn tngày 4/7/2023
đến ngày 09/12/2025 là 20.426.605đ, đã trả 5.899.160đ, còn nợ là 14.527.445đ; lãi
11
quá hạn từ ngày 06/10/2023 đến ngày 09/12/2025 662.945đ, đã trả 5.698đ,
còn nợ là 657.247đ.
+ Ngày 02/8/2023 giải ngân 58.000.000đ, lãi suất cho vay thả nổi như sau:
9,99%/năm (đến ngày 01/8/2024), sau đó điều chỉnh lãi suất 3 tháng/lần với lãi
suất tham chiếu được công bố tại thời điểm điều chỉnh (=) biên độ 4%/năm,
phương thức trả nợ được thỏa thuận tại giấy nhận nợ mỗi kỳ 491.525đ, được trả 01
tháng/lần vào ngày 06 hàng tháng. Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông H1, bà T2
đã trả 3.440.675đ nên còn nợ 54.559.325đ tiền gốc, lãi trong hạn từ ngày
02/8/2023 đến ngày 09/12/2025 14.620.838đ, đã trả 3.365.802đ, còn
11.255.036đ, lãi quá hạn từ ngày 06/10/2023 đến ngày 09/12/2025 532.576đ, đã
trả là 3.700đ, còn nợ là 528.876đ.
+ Ngày 30/8/2023 giải ngân 578.000.000đ, lãi suất cho vay thả nổi như sau:
9,99%/năm (đến ngày 29/8/2024), sau đó điều chỉnh lãi suất 3 tháng/lần với lãi
suất tham chiếu được công bố tại thời điểm điều chỉnh (=) biên độ 4%/năm,
phương thức trả nợ được thỏa thuận tại giấy nhận nợ mỗi kỳ 4.940.171đ, được trả
01 tháng/lần vào ngày 06 hàng tháng. Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông H1,
T2 đã trả 29.641.026đ nên còn nợ 548.358.974đ tiền gốc, lãi trong hạn từ ngày
30/8/2023 đến ngày 09/12/2025 141.556.541đ, đã trả 29.361.243đ, còn nợ
112.195.298đ; lãi quá hạn từ ngày 06/10/2023 đến ngày 09/12/2025 là 5.334.446đ,
đã trả 37.183đ, còn nợ 5.297.263đ.
Để đảm bảo cho khoản vay nói trên, vợ chồng ông H1, T2 đã dùng tài sản
của mình để thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
26.04/2021/BĐ ngày 27/4/2021 Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 27.02 ngày
27/2/2023. Tài sản thế chấp quyền sdụng đất tại thửa đất số TM9, tờ bản đồ
số: Quy Hoạch, địa chỉ tại: thôn Á, L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (nay T,
tỉnh Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CV132072 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Ninh
Thuận cấp ngày 13/5/2020.
Đối với việc T2 cho rằng bị Ngân hàng ép mua bảo hiểm là không đúng
khách hàng quyền lựa chọn mua bảo hiểm hoặc không mua bảo hiểm, trường
hợp bảo hiểm thì được ưu đãi về lãi suất, trong thực tế thì thời gian T2
mua bảo hiểm để được nhận lãi suất ưu đãi, thời điểm T2 không mua bảo
hiểm. Do hợp đồng vay, hợp đồng thế chấp hợp đồng bảo hiểm đều sự giao
kết tự nguyện của các bên nên Ngân hàng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
T2. Nay, Ngân hàng yêu cầu vợ chồng ông H1, bà T2 trả s tiền gốc
4.379.660.822đ, lãi trong hạn là 909.320.365đ, lãi quá hạn 29.355.772đ, tổng số
tiền 5.318.336.959đ kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật ông H1,
T2 không trả số nợ trên thì Ngân hàng có quyền có quyền yêu cầu cơ quan thi hành
án dân sự kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
12
Ngoài ra, ngày 25/3/2021, T2 còn với Ngân hàng H3 hợp đồng phát
hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức th50.000.000đ. Tại thời điểm
Ngân hàng khởi kiện thì T2 còn nợ 51.428.43gốc lãi. Sau khi khởi kiện,
T2 đã trả toàn bộ stiền này nên Ngân hàng xin rút yêu cầu khởi kiện về phần
này.
- Ông Minh H1 xác định văn bản đồng thuận về việc vay vốn
cùng trả nợ cho Ngân hàng, ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của
T2.
- Theo lời trình bày của người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Cổ phần
B thì: Công ty B1 thực hiện hợp đồng bảo hiểm do mong muốn thực hiện của
khách hàng T2 nên Công ty đã cung cấp hợp đồng bảo hiểm, việc thực hiện
hợp đồng bảo hiểm sự tự nguyện của các bên. Các hợp đồng bảo hiểm số tiền
2.400.000.00được thực hiện tngày 28/4/2021 đến 28/4/2022 đã hết hiệu lực;
còn hợp đồng bảo hiểm 700.000.000đ thực hiện tngày 31/5/2021 đến 31/5/2022
đã hết hiệu lực. Tổng công ty Cổ phần B đề nghị giải quyết vụ án theo quy định
của pháp luật.
Tại Bản án số 122/2025/DS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2025; Tòa án nhân dân
khu vực 1 – Lâm Đồng đã xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Anh T2 đối với Ngân hàng
TMCP H3 về việc yêu cầu tuyên bố các Hợp đồng vay số 26.94/2021/HĐCV ngày
27/4/2021; Hợp đồng vay số 31.05/2021/HĐCV ngày 31/5/2021; Hợp đồng vay số
00737/2023/HĐCV/RV ngày 28/2/2023 Hợp đồng vay số 111-
00006792.04732/2023/HĐCV ngày 02/6/2023 giữa Mai Anh T2 Ngân hàng
TMCP H3 là vô hiệu.
2. Chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H3 với v
chồng ông Vũ Minh H1, bà Mai Anh T2.
Buộc vợ chồng ông Minh H1, bà Mai Anh T2 phải thanh toán cho Ngân
hàng TMCP H3 số tiền 5.318.336.959đ, trong đó nợ gốc 4.379.660.822đ, nợ
lãi trong hạn 909.320.365đ, nợ lãi quá hạn 29.355.772đ tính đến ngày 09/12/2025.
Trường hợp vợ chồng ông Minh H1, Mai Anh T2 không trả được số tiền nợ
thì Ngân hàng TMCP H3 quyền yêu cầu quan thi hành án dân sự biên,
phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số TM9,
tờ bản đồ số: Quy Hoạch tại thôn Á, xã L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (nay T,
tỉnh Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CV132072 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Ninh
Thuận cấp ngày 13/5/2020 (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
26.04/2021/BĐ ngày 27/4/2021 Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 27.02 ngày
27/2/2023).
13
3. Đình chỉ 1 phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H3 đối với số
tiền gốc 49.270.596đ tiền lãi 14.219.000đ của Hợp đồng phát hành sử dụng
thẻ tín dụng quốc tế ngày 25/3/2021 1 phần Hợp đồng cho vay s
31.05/2021/HĐCV ngày 31/5/2021.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo
trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Ngày 16/12/2025, Mai Anh T2 đơn kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ Bản
án thẩm do cấp thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đánh giá
chứng cứ chưa toàn diện, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn. Ngày 25/12/2025, T2 đơn kháng cáo bổ sung cho rằng Tòa án
cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tụng khi nhập vụ án Dân sự thụ số
319/2025/TLST-DS trong thời gian đang tạm đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự.
Tại phiên tòa,
Mai Anh T2 ông Mai D, người đại diện theo ủy quyền của T2, vẫn
giữ nguyên kháng cáo.
Ông Nguyễn Tiến T ông Ngô Văn Tiến H, người đại diện theo ủy quyền
của của Ngân hàng H3, không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, đnghị giữ
nguyên Bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử các
đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận
kháng cáo của bà Mai Anh T2, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp thẩm xác định
theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của Mai Anh T2; thủ tục
kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật
Tố tụng Dân sự nên đđiều kiện để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn về việc cho rằng Tòa án cấp thẩm vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì thấy rằng:
[2.1] Nguyên đơn cho rằng Tòa án cấp thẩm ban hành Quyết định nhập vụ
án số 05/2025/QĐNVA-DS ngày 08/6/2025 là không đúng quy định pháp luật, trái
với nội dung giải quyết khiếu nại của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, vi phạm
nghiêm trọng về tố tụng thì thấy rằng: giữa Mai Anh T2 Ngân hàng H3
tranh chấp và được Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Tòa án nhân dân khu
vực 1 Lâm Đồng) thụ bằng 02 v án: Vụ án Dân sự thẩm thụ số
14
200/2024/TLST-DS ngày 20/6/2024 thì T2 nguyên đơn; vụ án Dân sự
thẩm thụ số 319/2024/TLST-DS ngày 15/10/2024 tNgân hàng H3 nguyên
đơn. Các vụ án này đều nội dung tranh chấp liên quan đến các hợp đồng tín
dụng mà bà Mai Anh T2 ký kết với Ngân hàng H3. Như vậy, 02 vụ án trên có cùng
đối tượng tranh chấp là hợp đồng tín dụng, các yêu cầu khởi kiện của T2
Ngân hàng tính chất trừ nghĩa vụ lẫn nhau. Do đó, Tòa án cấp thẩm căn
cứ khoản 1 Điều 42 Bộ luật Tố tụng Dân sự để nhập vụ án để giải quyết, có căn
cứ và đúng pháp luật.
Mặt khác, trong qtrình giải quyết vụ án chính nguyên đơn yêu cầu đề
nghị Tòa án cấp thẩm thực hiện việc nhập 02 vụ án nêu trên. Ngày 18/02/2025,
Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt ban hành Quyết định giải quyết khiếu
nại số 12/TA-QĐGQKN không chấp nhận yêu cầu nhập vụ án của bà Mai Anh T2.
T2 khiếu nại lần 2, ngày 20/3/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành
Quyết định giải quyết khiếu nại số 23/2025/QĐ-GQKN giữ nguyên quyết định giải
quyết khiếu nại lần đầu của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt. Xét thấy,
các quyết định trên chỉ xem xét khiếu nại đối với hành vi tố tụng của người tiến
hành tố tụng. Việc xem xét nhập vụ án phụ thuộc vào việc đánh giá toàn diện hồ sơ
các vụ án đã được thụ và trên cơ sở quy định pháp luật, từ đó người tiến hành tố
tụng quyết định việc nhập vụ án ban hành quyết định nhập vụ án, đây được xác
định là quyết định tố tụng có hiệu lực để thực hiện.
[2.2] Theo nội dung đơn kháng cáo bsung ngày 24/12/2025, nguyên đơn
cho rằng Tòa án cấp thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tụng khi nhập vụ án dân
sự thụ số 319/2025/TLST-DS ngày 15/10/2024 trong thời gian đang tạm đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự. Xét thấy, ngày 15/4/2025 Tòa án cấp sơ thẩm ban hành
Quyết định số 60/2025/QĐST-DS vviệc tạm đình chỉ vụ án Dân sự thụ số
319/2025/TLST-DS, với do chờ kết quả giải quyết vụ án khác liên quan, căn
cứ theo điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vụ án liên quan
đây được xác định vụ án Dân sự thẩm thụ số 200/2024/TLST-DS ngày
20/6/2024, do Mai Anh T2 nguyên đơn. Như đã phân tích, các vụ án này
cùng đối tượng tranh chấp người tham gia tố tụng, Tòa án cấp thẩm quyết
định nhập vụ án để thuận tiện trong việc xem xét toàn bộ các yêu cầu của đương sự
trong cùng một vụ án hoàn toàn phù hợp; bên cạnh đó cấp thẩm đã ra Quyết
định tiếp tục giải quyết vụ án số 139/2025/QĐST-DS ngày 05/8/2025 đối với vụ án
dân sự thụ số 319/2025/TLST-DS; hơn nữa, việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án
không đồng nghĩa với việc Tòa án không có quyền ban hành các quyết định tố tụng
liên quan đến hoạt động giải quyết vụ án đang tạm đình chỉ.
[2.3] Từ những nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định nhập
vụ án số 05/2025/QĐNVA-DS căn cứ đúng pháp luật. Ngoài ra, Mai
Anh T2 còn đề nghị xem xét vấn đề Tòa án cấp thẩm ghi nhận lời khai người
đại diện chưa hợp pháp của nguyên đơn, cấp phúc thẩm nhận thấy việc lập biên
15
bản lấy lời khai của người tham gia tố tụng một trong các biện pháp thu thập
chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án, không phải là chứng cứ duy nhất để xem
xét, quyết định, kết luận bản chất để giải quyết vụ án. Nguyên đơn quyền thay
đổi lời khai, đồng thời cung cấp các tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh cho yêu
cầu của mình để được Tòa án xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử
cũng đã làm các nội dung liên quan đến vụ án; nguyên đơn cũng đã hỏi bị đơn
những vấn đề liên quan. Do vậy nguyên đơn kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ
thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tụng đối với nội dung này là không có cơ sở.
[2.4] Đối với ý kiến của nguyên đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không định
giá tài sản trên diện tích đất đang thế chấp thì thấy rằng; đây vụ án tranh chấp
hợp đồng tín dụng; Tòa án chỉ xem xét hiện trạng tài sản thế chấp nhằm xác định
sự thay đổi so với thời điểm các bên nhận thế chấp, ai người đang thực tế
quản lý, sử dụng để làm sgiải quyết vụ án; tài sản này các bên không tranh
chấp về giá trị, quyền sở hữu nên Tòa án không định giá là phù hợp. Việc xác định
giá trị tài sản thế chấp hoặc các tài sản phát sinh sau thời điểm thế chấp sẽ được
xem xét tại giai đoạn thi hành án nếu các bên có yêu cầu.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn về việc buộc Mai Anh T2 phải trả các
khoản nợ cho ngân hàng thì:
[3.1] Giữa Ngân hàng H3 Mai Anh T2 kết các Hợp đồng tín dụng,
bao gồm: Hợp đồng vay số 26.94/2021/HĐCV ngày 27/4/2021; Hợp đồng vay số
31.05/2021/HĐCV ngày 31/5/2021; Hợp đồng vay số 00737/2023/HĐCV/RV
ngày 28/2/2023 Hợp đồng vay số 111-00006792.04732/2023/HĐCV ngày
02/6/2023. Vợ chồng ông H1, bà T2 ký các văn bản đồng thuận về việc vay vốn và
cùng trả nợ cho Ngân hàng. Theo các giấy nhận nợ thì T2 đã nhận toàn bộ số
tiền của các hợp đồng vay trên và đã trả một phần tiền gốc và lãi. Đến nay, các bên
còn đang tranh chấp về lãi suất được áp dụng cho các kỳ điều chỉnh lãi suất. Xét
thấy, việc điều chỉnh lãi suất theo các kỳ trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên
trong các hợp đồng vay, phụ lục hợp đồng, giấy nhận nợ thì khi điều chỉnh lãi suất
theo knếu không tái tục bảo hiểm cộng thêm 3%. Do đó, theo sự thỏa thuận của
các bên các Quyết định số 7801/2022/QĐ-TGĐ1 ngày 14/10/2022, Quyết định
số 8258/2022/QĐ-TGĐ1 ngày 28/10/2022, Quyết định số 9406/2022/QĐ-TGĐ1
ngày 01/12/2022, Quyết định số 4205/2023/QĐ-TGĐ1 ngày 17/5/2023, Quyết
định số 7730/2023/QĐ-TGĐ1 ngày 18/8/2023, Quyết định số 1016/2024/QĐ-
TGĐ1 ngày 05/2/2024, Quyết định số 11388/2024/QĐ-TGĐ1 ngày 15/11/2024 thì:
1/ Hợp đồng cho vay số 26.04/2021/HĐCV ngày 27/04/2021 với số tiền
2.400.000.000đ. Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông H1, bà T2 đã trả
350.000.000đ nên còn nợ 2.050.000.000đ tiền gốc; lãi trong hạn từ ngày 28/4/2021
đến ngày 09/12/2025 1.193.996.674đ, lãi đã trả 775.346.165đ, còn nợ
418.650.165đ; i quá hạn từ ngày 26/7/2021 đến ngày 09/12/2025
16
1.0.024.488đ, đã trả là 294.419đ, còn nợ 9.730.069đ. Tổng cộng
2.478.380.233đ.
2/ Hợp đồng cho vay s 31.05/2021/HĐCV ngày 31/05/2021 với s tiền
700.000.000đ. Đến ngày 29/3/2024, vchồng ông H1, T2 đã trả 100.341.583đ
nên còn nợ 599.658.417đ tiền gốc; lãi trong hạn từ ngày 31/5/2021 đến ngày
09/12/2025 342.416.058đ, lãi đã trả 219.904.982đ, còn lại 122.511.076đ; lãi
quá hạn từ ngày 26/7/2021 đến ngày 09/12/2025 là 2.845.242đ, lãi đã trả 102.727đ,
còn nợ là 2.742.515đ. Tổng cộng là 724.912.008đ.
3/ Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số 00737/2023/HĐCV/RB ngày
27/02/2023 với số tiền vay 990.000.000đ. Đến ngày 29/3/2024, vchồng ông H1,
T2 đã trả 107.250.000đ nên còn nợ 882.750.000đ tiền gốc, lãi trong hạn từ ngày
28/02/2023 đến ngày 09/12/2025 330.259.295đ, lãi đã trả 138.589.938đ, còn
nợ 191.669.357đ; lãi quá hạn từ ngày 27/3/2023 đến ngày 09/12/2025
8.931.505đ, lãi đã trả 226.568đ, còn nợ 8.704.937đ. Tổng cộng
1.083.124.294đ.
4/ Hợp đồng cho vay số 111-00006792.04732/2023/HĐCV ngày 02/06/2023
với số tiền 900.000.000đ:
- Đối với số tiền 192.000.000đ. Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông H1, bà T2
đã trả 14.825.558đ nên còn nợ 177.174.442đ tiền gốc, lãi trong hạn từ ngày
07/6/2023 đến ngày 09/12/2025 là 56.568.141đ, lãi đã trả 18.056.152đ, còn nợ
38.511.989đ; lãi quá hạn từ ngày 06/10/2023 đến ngày 09/12/2025 1.710.373đ,
đã trả là 15.507đ, còn nợ là 1.694.866đ. Tổng cộng là 217.381.297đ.
- Đối với số tiền 72.000.000đ. Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông H1, T2
đã trả 4.840.336đ nên còn nợ 67.159.664đ tiền gốc, lãi trong hạn tngày 4/7/2023
đến ngày 09/12/2025 là 20.426.605đ, đã trả 5.899.160đ, còn nợ là 14.527.445đ; lãi
quá hạn từ ngày 06/10/2023 đến ngày 09/12/2025 662.945đ, đã trả 5.698đ,
còn nợ là 657.247đ. Tổng cộng là 82.344.356đ.
- Đối với số tiền 58.000.000đ. Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông H1, T2
đã trả 3.440.675đ nên còn nợ 54.559.325đ tiền gốc, lãi trong hạn từ ngày
02/8/2023 đến ngày 09/12/2025 14.620.838đ, đã trả 3.365.802đ, còn
11.255.036đ, lãi quá hạn từ ngày 06/10/2023 đến ngày 09/12/2025 532.576đ, đã
trả là 3.700đ, còn nợ là 528.876đ. Tổng cộng là 66.343.236đ.
- Đối với số tiền 578.000.000đ. Đến ngày 29/3/2024, vợ chồng ông H1, bà T2
đã trả 29.641.026đ nên còn nợ 548.358.974đ tiền gốc, lãi trong hạn từ ngày
30/8/2023 đến ngày 09/12/2025 141.556.541đ, đã trả 29.361.243đ, còn nợ
112.195.298đ; lãi quá hạn từ ngày 06/10/2023 đến ngày 09/12/2025 là 5.334.446đ,
đã trả 37.183đ, còn nợ 5.297.263đ. Tổng cộng là 665.851.535đ.
17
Như vậy, tổng số tiền vợ chồng ông H1, bà T2 phải thanh toán cho Ngân hàng
5.318.336.959đ, trong đó nợ gốc 4.379.660.822đ, nợ lãi trong hạn
909.320.365đ, nợ lãi quá hạn 29.355.772đ tính đến ngày 09/12/2025; các hợp đồng
vay trên được đảm bảo bằng Hợp đồng thế chấp quyền s dụng đất số
26.04/2021/BĐ ngày 27/4/2021 Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 27.02 ngày
27/2/2023, tài sản thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số TM9, tbản đsố
Quy Hoạch tại Thôn Á, L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (nay T, tỉnh Khánh
Hòa) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CV132072 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận (cũ)
cấp ngày 13/5/2020 cho vợ chồng ông H1, bà T2. Do đó, yêu cầu khởi kiện của
Ngân hàng H3 vviệc đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông H1, T2
phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ 5.318.336.959đ trong đó nợ gốc
4.379.660.822đ, nợ lãi trong hạn 909.320.365đ nợ lãi quá hạn 29.355.772đ
tính đến ngày 09/12/2025 sở. Trường hợp vợ chồng ông H1, T2 không
trả được số tiền còn nợ thì Ngân hàng H3 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có
thẩm quyền biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ đối với khối tài sản
vừa nêu.
[3.2] Việc T2 cho rằng Ngân hàng H3 bắt buộc mua bảo hiểm trong thời
gian vay đối với các Hợp đồng vay số 26.94/2021/HĐCV ngày 27/4/2021; Hợp
đồng vay số 31.05/2021/HĐCV ngày 31/5/2021; Hợp đồng vay số
00737/2023/HĐCV/RV ngày 28/2/2023 vì nếu không mua bảo hiểm sẽ không giải
ngân tăng lãi suất 3%/năm. Xét thấy, theo lời trình bày của T2 tại phiên tòa
thì khi vay Hợp đồng vay số 00737/2023/HĐCV/RV ngày 28/2/2023, Ngân hàng
H3 bắt buộc bà mua bảo hiểm P tái tục bảo hiểm cho số tiền vay
2.400.000.000đ. Qua kiểm tra tài liệu chứng cứ do T2 xuất trình thì Hợp đồng
bảo hiểm số 75066379 ngày 29/4/2021 (BL 07-71) bảo hiểm nhân thọ, toàn bộ
nội dung của hợp đồng bảo hiểm này không đcập đến số tiền vay 990.000.000đ
của Hợp đồng vay số 00737/2023/HĐCV/RV ngày 28/2/2023, đối với Hợp đồng
tái tục bảo hiểm cho số tiền vay 2.400.000.000đ cũng không liên quan đến số tiền
vay 990.000.000đ của Hợp đồng vay số 00737/2023/HĐCV/RV ngày 28/2/2023.
Ngân hàng cho rằng hai hợp đồng bảo hiểm T2 đề cập không liên quan đến
việc thực hiện số tiền vay 990.000.000đ theo Hợp đồng vay số
00737/2023/HĐCV/RV ngày 28/2/2023 xác định hợp đồng vay số
00737/2023/HĐCV/RV không hợp đồng bảo hiểm tiền vay. Đối với các Hợp
đồng vay số 26.94/2021/HĐCV ngày 27/4/2021; Hợp đồng vay số
31.05/2021/HĐCV ngày 31/5/2021 thì tại các hợp vay, phụ lục hợp đồng, giấy
nhận nợ, Quy định QĐ.BH.001 ngày 09/3/2020 của Ngân hàng H3 thể hiện trường
hợp khách hàng mua bảo hiểm được hưởng lãi suất ưu đãi nên bà T2 thể lựa
chọn mua hoặc không mua bảo hiểm. Tại các hợp vay, phụ lục hợp đồng, giấy
nhận nợ các bên thỏa thuận về việc mua/tái tục bảo hiểm lãi suất ưu đãi.
18
Trong thực tế khi thực hiện các hợp đồng vay trên, thời điểm T2 mua bảo
hiểm để được hưởng lãi suất ưu đãi là 3%/năm, có thời điểm bà T2 không mua bảo
hiểm chịu lãi suất thông thường, các hợp đồng này được xác lập trên sở tự
nguyện của các bên, mục đích nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm
của luật không trái đạo đức hội theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự,
hơn nữa tại phiên tòa hôm nay T2 cũng xác định tại thời vay thì trên địa bàn
thành phố Đ có nhiều Ngân hàng nhưng các Ngân hàng này thời gian giải ngân lâu
hoặc từ chối cho vay nên đã lựa chọn Ngân hàng H3, đây là sự lựa chọn của người
vay, do đó việc T2 cho rằng bị ép buộc phải mua bảo hiểm là không có căn cứ.
Ngoài ra, theo lời trình bày của người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty cổ
phần B thì việc phía bà T2 mua bảo hiểm là hoàn toàn tự nguyện; trong phạm vi và
thời hạn bảo hiểm thì khi skiện bảo hiểm xảy ra, khoản nợ vay của khách hàng
tham gia bảo hiểm sẽ được bên nhận bảo hiểm chi trả toàn bộ; do vậy việc nguyên
đơn tham gia mua bảo hiểm nói trên là có lợi cho nguyên đơn.
[3.3] Mai Anh T2 cho rằng Tòa án cấp thẩm căn cứ vào các giấy nhận
nợ không căn cứ vào hợp đồng tín dụng, để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Ngân hàng H3 không đúng quy định pháp luật. Căn cứ hồ vụ án thấy rằng,
việc xác định số tiền vay, xác định lãi suất, thời hạn vay đều căn cứ trên các giấy
nhận nợ chữ ký của người vay vốn. Quá trình thực hiện, bà T2 được giải ngân
theo các khoản tiền được ghi nhận trong giấy xác nhận nợ, thực hiện việc trả nợ
gốc nợ lãi cũng theo nội dung các giấy xác nhận nợ này không ý kiến
phản đối. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là chứng cứ để giải quyết vụ án
là phù hợp và đúng quy định pháp luật.
[3.4] Đối với việc thế chấp tài sản của nguyên đơn đối với bị đơn thì thấy
rằng; việc thế chấp nói trên được thực hiện đúng quy định của pháp luật; được
quan thẩm quyền làm thủ tục đăng biến động nên đã phát sinh hiệu lực;
vậy khối tài sản này được dùng để đảm bảo cho khoản nợ vay của vợ chồng ông
H1, bà T2 đối với Ngân hàng là phù hợp.
[4] Từ những nhận định trên, bà T2 đơn kháng cáo nhưng không xuất trình
được tài liệu, chứng cứ nào mới so với các tài liệu, chứng cứ đã được cấp sơ thẩm
thu thập để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nên không căn cứ để chấp
nhận kháng cáo của T2; cần giữ nguyên Bản án thẩm như đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát.
[5] Về chi phí tố tụng: quá trình giải quyết tại giai đoạn thẩm, Ngân hàng
đơn yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ với chi phí 4.500.000đ (đã tạm nộp
được cấp thẩm quyết toán xong); xét việc xem xét, thẩm định tại chỗ cần
thiết cho việc giải quyết vụ án; do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên
T2 phải chịu chi phí nói trên và có nghĩa vụ phải trả lại cho Ngân hàng số tiền này.
19
Buộc T2 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần H3 số tiền
4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
[5] Ván phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên T2 phải chịu án
phí Dân sự phúc thẩm đồng thời phải chịu án phí Dân sự thẩm theo quy định
của pháp luật. Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng thương mại cổ
phần H3 không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
[6] Các phần khác của Bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ các Điều 26, 27 khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của Mai Anh T2; giữ nguyên Bản án Dân sự
thẩm số 122/2025/DS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân khu vực
1 - Lâm Đồng.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Anh T2 đối với Ngân hàng
thương mại cổ phần H3 về việc yêu cầu tuyên bố các Hợp đồng vay số
26.94/2021/HĐCV ngày 27/4/2021; Hợp đồng vay s 31.05/2021/HĐCV ngày
31/5/2021; Hợp đồng vay số 00737/2023/HĐCV/RV ngày 28/2/2023 và Hợp đồng
vay số 111-00006792.04732/2023/HĐCV ngày 02/6/2023 giữa Mai Anh T2
Ngân hàng thương mại cổ phần H3 là vô hiệu.
2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần
H3 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với vợ chồng ông Minh H1,
bà Mai Anh T2.
Buộc vợ chồng ông Minh H1, bà Mai Anh T2 phải thanh toán cho Ngân
hàng thương mại cổ phần H3 số tiền 5.318.336.959đ (năm tỷ ba trăm mười tám
triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn chín trăm năm mươi chín đồng), trong đó nợ gốc
4.379.660.822đ (bốn tỷ ba trăm bảy mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi nghìn
tám trăm hai mươi hai đồng), nợ lãi trong hạn 909.320.365đ (chín trăm lẻ chín
triệu ba trăm hai mươi nghìn ba trăm sáu mươi lăm đồng), nợ lãi quá hạn
20
29.355.772đ (hai mươi chín triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm bảy mươi
hai đồng) tính đến ngày 09/12/2025.
Kể tngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo các hợp đồng vay số 26.94/2021/HĐCV ngày 27/4/2021; Hợp đồng vay số
31.05/2021/HĐCV ngày 31/5/2021; Hợp đồng vay số 00737/2023/HĐCV/RV
ngày 28/2/2023 Hợp đồng vay số 111-00006792.04732/2023/HĐCV ngày
02/6/2023 cho đến khi thi hành xong khoản tiền nợ gốc trên.
Trường hợp vợ chồng ông Minh H1, Mai Anh T2 không trả được số
tiền nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần H3 quyền yêu cầu quan thi hành
án Dân sự kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: quyền sử dụng đất tại
thửa đất số TM9, tờ bản đồ số: Quy Hoạch tại thôn Á, L, huyện T, tỉnh Ninh
Thuận (nay T, tỉnh Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CV132072 do Ủy ban nhân
dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 13/5/2020 (theo Hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất số 26.04/2021/BĐ ngày 27/4/2021 Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số
27.02 ngày 27/2/2023).
3. Vchi phí tố tụng: T2 phải chịu 4.500.000đ chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ.
Buộc T2 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần H3 số tiền
4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
4. Về án phí:
- Án phí thẩm: Vợ chồng ông Minh H1, Mai Anh T2 phải chịu
114.518.337đ án phí Dân sự sơ thẩm; được trừ vào số tiền 1.200.000đ tạm ứng án
phí Dân sự thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000918 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đà Lạt (nay là
Phòng Thi hành án Dân skhu vực 1 - Lâm Đồng). Vợ chồng ông H1, T2 còn
phải nộp 113.318.337đ án phí Dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng thương mại cổ phần H3 không phải chịu án phí Dân sự thẩm;
Ngân hàng được nhận lại số tiền 56.328.000đ tạm ứng án phí Dân sự thẩm đã
nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000406 ngày 14/10/2024
của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đà Lạt (nay Phòng Thi hành án Dân
sự khu vực 1 - Lâm Đồng).
- Án phí phúc thẩm: Buộc Mai Anh T2 phải chịu 300.000đ án phí Dân sự
phúc thẩm, được trừ số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự phúc thẩm đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án số 0000012 ngày 05/01/2026 của
Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng. Bà T2 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
5. Về nghĩa vụ thi hành án:
21
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân squyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự./.
6. Các phần khác của Bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng GĐ, Ktra, TTr & THA (01);
- TAND khu vực 1 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS khu vực 1 - Lâm Đồng
(01);
- Các đương sự (07);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 376/2026/DS-PT Bản án số 376/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 376/2026/DS-PT Bản án số 376/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất