Bản án số 38/2026/HS-PT ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh Quảng Ninh về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 38/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 38/2026/HS-PT ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh Quảng Ninh về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ninh
Số hiệu: 38/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vũ Hữu C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 38/2026/HS-PT Bản án số 38/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 38/2026/HS-PT Bản án số 38/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 38/2026/HS-PT
Ngày: 22/6/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái
Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thuý Hằng; ông Trần Quốc Nam
- Thư phiên tòa: Trần Thị Thu ờng - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Cúc Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2026/TLPT-HS ngày 11
tháng 5 năm 2026, đối với bị cáo Vũ Hữu C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản
án hình sự sơ thẩm số 55/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực
2 - Quảng Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Vũ Hữu C (tên gọi khác: không có), sinh ngày 26/5/1995, tại tỉnh
Quảng Ninh; Nơi cư trú: tổ dân phố B, phường V, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện nay: khu
Y, phường P, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12;
dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Hữu
T và Vũ Thị L; vợ: tên Vũ Thị Q; có hai con, con lớn sinh năm 2018 con nhỏ sinh
năm 2020; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày
24/9/2025 đến ngày 28/10/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn ‘Bảo lĩnh”
và tạm hoãn xuất cảnh đến ngày 01/3/2026 (có mặt).
- Bị hại: chị Phạm Thị H, sinh năm 1995; địa chỉ: khu phố V, phường L, tỉnh
Quảng Ninh (Đã chết).
Người đại diện bhại: ông Phạm Văn T1, sinh năm 1971; địa chỉ: khu phố V,
phường L, tỉnh Quảng Ninh (là bố đẻ của bị hại, có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/9/2025 Hữu C (có giấy phép lái xe ô hạng
C1) điều khiển xe ô tô tải thùng kín nhãn hiệu Teraco biển số 14C - 304.55 của C đến
2
đỗ xe trước cửa nhà bạn là anh Vũ Đức C1 khu phố B, phường L, tỉnh Quảng Ninh
rồi cùng anh C1 đi ra quán bia “Chim to 123” khu phố Đ, phường L, tỉnh Quảng
Ninh ngồi ăn, uống bia với anh Văn H1. Quá trình ngồi ăn uống, C nói với mọi
người “do phải điều khiển xe ô nên không uống bia” C gọi nước lọc Lavie
uống. Ăn uống xong thì anh C1 và anh H1 đi về trước, C ngồi lại nói chuyện với 03
người thanh niên (không lai lịch, địa chỉ) quen biết ttrước quán, sau đó C đi
nhờ một người thanh niên chở bằng xe về nhà anh C1 để C lấy xe ô tô. Đến
khoảng 22 giờ 05 phút cùng ngày, C điều khiển xe ô tô đi về nhà theo hướng phường
L đi phường P, tỉnh Quảng Ninh. Khi đi đến đoạn đường P, thuộc khu G, phường P
đã lấn sang phần đường của phương tiện đi ngược chiều, đâm vào xe mô tô nhãn hiệu
Honda Wave biển số 14F7 - 9460, do chị Phạm Thị H (sinh năm 1995, trú tại khu
phố V, phường L, tỉnh Quảng Ninh) điều khiển đi hướng ngược chiều. Hậu quả: chị
H tử vong tại chỗ do chấn thương sọ não kín, hai phương tiện bị hỏng. Sau khi
gây tai nạn, C đã điều khiển xe ô tô bỏ trốn khỏi hiện trường, đến ngày 24/9/2025, C
đến Cơ quan Công an đầu thú.
- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: hiện trường nơi xảy ra vụ tai
nạn trên đường P tiếp giáp với chân cầu vượt Phong Cốc. Mặt đường trải nhựa áp
phan rộng 7,6m, đường thẳng, tương đối bằng phẳng không bị che khuất tầm nhìn.
T2 đường có vạch sơn đứt đoạn màu vàng, chia thành hai phần đường hướng đi ngược
chiều nhau, phần đường bên phải theo hướng đi phường P rộng 2,9m. Các dấu vết,
phương tiện được đo về mép đường bên phải theo hướng phường L đi phường P.
+ Xe tô biển số 14F7 - 9460 đổ nghiêng bên phải, đầu xe quay về phía
phường L, trục bánh trước và trục bánh sau xe cách mép đường lần lượt là 2,57m
02m (ký hiệu số 01).
+ Về hướng phường Lvết mài trượt cao su trên đường trong diện kích thước
(KT) (0,5 x 0,06)m có hướng đi phường P. Điểm đầu vết cách mép đường 3,96m,
điểm cuối vết cách mép đường 4,12m (ký hiệu số 02).
+ Vùng vết cày xước đứt đoạn trong diện KT (10,1 x 0,32)m, hướng đi phường
P. Điểm đầu vết trùng với điểm cuối vết mài xước (02) cách mép đường 3,48m,
điểm cuối vết trùng với giá để chân trước bên phải xe mô biển số 14F7-9460
cách mép đường 2,2m (ký hiệu số 03).
+ Vùng mảnh vỡ nhựa KT (0,13 x 0,1)m nằm rải rác trên đường, trong đó mảnh
vỡ nhựa đầu tiên cách điểm đầu vùng vết (03) 1,51m cách mép đường 4,82m
(ký hiệu số 04).
+ Vết cày xước KT (1,3 x 0,02)m, hướng đi phường P. Điểm đầu vết cách mảnh
vỡ đầu tiên vùng mảnh vỡ (04) và cách mép đường lần lượt là 1,4m và 4,95m, điểm
cuối vết cách mép đường 5,52m (ký hiệu số 05).
+ Mảnh vỡ nhựa màu trắng có gắn đèn (nghi là mảnh vtvỏ xe ô tô) KT (0,74
x 0,65)m nằm trên bờ bó vỉa hè bên trái đường cách điểm cuối vết (05) là 7,25m (ký
hiệu số 06).
+ Vùng mảnh vỡ nhựa (nghi của xe ô tô) trong diện KT (1,2 x 0,4)cm cách mảnh
vỡ (06) và cách mép đường lần lượt là 2,7m và 6,9m (ký hiệu số 07).
3
+ Đám chất dịch màu nâu đỏ (nghi máu) trong diện KT (0,4 x 0,3)m cách
vùng mảnh vỡ (07) cách mép đường, cách trục lốp sau xe biển số 14F7-
9460 là 07m3,58m và 7,36m (ký hiệu số 08).
+ Rà soát tại đoạn đường thuộc khu Y, phường P phát hiện xe ô tô biển số 14C-
304.55 đang đỗ đường thấy tại nhà ông Đức S lắp 01 mắt camera hệ thống
camera an ninh lắp 02 mắt camera ghi lại hình ảnh, diễn biến vụ việc. Cơ quan điều
tra đã kiểm tra, thu giữ 01 tai nghe, 01 bao thuốc lá tại vị trí hốc bên trong cánh cửa
bên lái xe; 01 chìa khóa xe; 03 sợi dạng lông tóc tại vị trí ghế lái; các sợi dạng lông
tóc tại vị trí kính chắn gió phía trước đầu xe và niêm phong theo quy định.
- Tại bản Kết luận giám định số: 1600/KL - KTHS ngày 22/10/2025 của Phòng
K, Công an tỉnh Q kết luận: các sợi dạng lông, tóc thu tại vị trí kính chắn gió phía
trước đầu xe ô tô biển số 14C - 304.55 gửi giám định là tóc của chị Phạm Thị H. Các
sợi dạng lông, tóc thu trên ghế lái xe ô biển số 14C-304.55 gửi giám định tóc
của một người đàn ông không phải Vũ Hữu C; trên tai nghe, bao thuốc lá, chìa khóa
khởi động xe ô các dấu vết thu trên lăng, tay nắm cửa phía trong cánh cửa
lái, cần số, tay phanh có dấu vết ADN người, kiểu gen phân tích được không đủ yếu
tố truy nguyên cá thể.
- Tại các biên bản khám nghiệm phương tiện thể hiện:
+ Xe ô tải thùng kín nhãn hiệu Teraco biển số 14C - 304.55, xác định: kính
chắn gió phía trước bị vỡ theo hướng từ ngoài vào trong trong diện KT (80 x 50)cm,
tâm vết vỡ sâu 03cm cách mép kính chắn gió bên trái 54cm mép kính phía dưới
15cm. Nắp capô bị móp méo hướng từ trước về sau trong diện KT (80 x 30)cm.
Mặt ca lăng bị gãy vỡ, rời khỏi xe. Chốt gắn ba đờ sốc phía trước bên phải bị gãy. Ba
đờ sốc bên phải có đèn gầm bị gãy vỡ, bung bật khỏi xe trong diện KT (80 x 70)cm.
Toàn bộ phần khung kim loại phía trước của xe két làm mát bị móp méo theo
hướng từ ngoài vào trong; phần khung kim loại gắn biển số phía trước bị móp méo
hướng tngoài vào trong, phần tâm vết móp méo tại vị trí gắn biển số xe cách mặt
đất 35cm và cách cạnh bên trái ba đờ sốc 50cm.
+ Xe tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 14F - 9460, xác định: đầu cao su
phía trước ngoài bên tay phải bị mài trượt rách cao su theo hướng từ trước về sau
trong diện KT (04 x 03)cm. Điểm cuối tay phanh bên phải bị mài trượt hướng từ dưới
lên trên trong diện KT (02 x 1,5)cm. Cụm đèn chiếu sáng và đèn xin nhan phía trước
bị gãy, bung bật rời khỏi xe. Gương chiếu hậu bên trái bđẩy cong có hướng từ trái
sang phải; phần gáo gương bị gãy vỡ, rời khỏi xe. Mặt nphía trước của xe bị gãy vỡ
trong diện KT (15 x 20)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 65cm. Vành trước xe bị móp
méo, biến dạng có hướng từ ngoài vào trong trong diện KT (45 x 45)cm, phần lốp xe
rời khỏi vành xe. Phần vỏ lốc máy bằng kim loại bên phải bị gãy vỡ hướng từ
ngoài vào trong trong diện KT (10 x 10)cm. Giá để chân bên phải phía trước bị đẩy
xô lệch có hướng từ trước về sau, phần vỏ cao su bị rách.
- Cơ quan điều tra tiến hành rà soát, trích xuất thu giữ đoạn video (thời điểm từ
21 giờ 29 phút 20 giấy đến 21 giờ 29 phút 36 giây ngày 23/9/2025) từ camera lắp đặt
4
tại tại quán “Chim to 123” ghi lại diễn biến hình ảnh Vũ Hữu C cùng 03 người nam
giới khác ngồi ăn uống tại quán.
- Bản Kết luận giám định số 243/KL - KTHS ngày 27/01/2026 của Phòng K
Công an tỉnh Q kết luận nội dung hình ảnh trong đoạn video thu giữ từ camera tại
quán “Chim to 123” không bị cắt, ghép, chỉnh sửa.
- Bản Kết luận giám định tthi số: 192/KLGĐTT - TTPY ngày 03/10/2025 của
Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh Q kết luận: chị Phạm Thị H tử vong do chấn thương
sọ não kín vỡ vòm và nền sọ. Đa chấn thương phối hợp.
- Bản Kết luận giám định độc chất số 774/1087/25/KLGĐĐC - PYQG ngày
02/10/2025 của Viện pháp y Quốc gia Bộ y T3 kết luận: không tìm thấy E trong mẫu
máu của chị Phạm Thị H.
- Bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL - HĐĐGTS ngày 12/12/2025 của Hội
đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự phường P, tỉnh Quảng Ninh kết luận: xe
tô biển số 14F7 - 9460 bị hỏng thiệt hại 2.532.000đ (Hai triệu, năm trăm trăm
ba mươi hai đồng), xe ô biển số 14C - 304.55 bị hỏng thiệt hại 32.767.00(Ba
mươi hai triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
- Tại các phiếu kết qu xét nghiệm ngày 24/9/2025 Công văn số
186/BVVNTĐ ngày 19/01/2026 của Bệnh viện V - Thụy Điển - Uông xác định:
Hữu C âm tính với ma túy Ethanol (cồn) trong máu là 6.62mg/dl ây chỉ
số bình thường; không có căn cứ xác định chỉ số định lượng Ethanol trong máu trên
do sử dụng rượu, bia, chất cồn hay do nguyên nhân khác). Sự chuyển hóa
Ethanol trong máu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như địa của từng người, số lượng
thời gian sử dụng cho đến khi xét nghiệm nên không sở để trả lời về việc tạo
ra nồng độ Ethanol trong máu của mỗi người khi sử dụng rượu, bia như thế nào.
Quá trình điều tra, bị cáo Hữu C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như
trên. Ngoài ra còn khai, trước khi xảy ra tai nạn, trong lúc ăn uống, do nể nang, C có
uống nhấp môi một ít bia hơi Hạ Long; khi điều khiển xe ô đi đến đoạn đường
xuống chân cầu vượt P, C đi với vận tốc khoảng 50 - 60km/giờ, do đi làm về muộn
và buồn ngủ đã lấn sang phần đường của phương tiện đi ngược chiều đâm vào xe mô
biển số 14F7 - 9460 (sau này biết người điều khiển chị Phạm Thị H) đi ngược
chiều. Sau khi gây tai nạn do sợ chịu trách nhiệm, C không dừng ô lại điều khiển
xe về đến đoạn đường thuộc khu Y, phường P thì xe bị chết máy, C để xe lại rồi bắt
taxi ra phường C, tỉnh Quảng Ninh thuê nhà nghỉ, ngày 24/9/2025 C đến quan
điều tra đầu thú.
Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo Vũ Hữu C đã bồi thường cho anh Phạm
Văn D đại diện gia đình bị hại chị Phạm ThH, tổng số tiền 380.000.000đ, đại diện
gia đình bị hại không yêu cầu thêm xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Bản án hình sự thẩm số 55/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 2 - Quảng Ninh đã n cứ điểm c khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1
Điều 51, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bcáo bị
cáo Hữu C 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam
trước đó (từ ngày 24/9/2025 đến ngày 28/10/2025), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi
5
thi hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền
kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 12/4/2026, bị cáo Vũ Hữu C làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
và cho được hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày lý do kháng
cáo xin được giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn
cứ: điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm e, khoản 1, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình
sự: chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hữu C; sửa bản án hình sự thẩm số
55/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh về hình
phạt đối với bịo. Căn cứ: điểm c, khoản 2, Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2
Điều 51; khoản 1, Điều 54; khoản 1, khoản 2 khoản 5, Điều 65 của Bộ luật Hình
sự; xphạt bị cáo Hữu C 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30
tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ”.
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo Hữu C làm trong hạn luật định
nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh: qtrình điều tra, tại phiên tòa thẩm tại phiên tòa phúc
thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã
tuy tố; sau khi xét xử thẩm bị cáo không kháng cáo kêu oan, chỉ kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt; Viện kiểm sát không kháng nghị về tội danh đối với bị cáo. Do
đó Hội đồng xét xử xác định hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Hữu C bị Toà án cấp sơ
thẩm xét xử về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm
c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo:
Theo nội dung đơn kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hữu C
kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và cho được hưởng án treo với các
do: Gia đình bị o gia đình truyền thống cách mạng, có bố Vũ Hữu T được
nhà nước trao tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhì vì đã có thành tích trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước; mẹ là bà Vũ Thị L được trao tặng Giấy chứng nhận
tham gia Dân công Hoả tuyến do Bộ cấp ngày 25/4/2019, đây tình tiết mới giai
đoạn thẩm bị cáo chưa cung cấp; sau khi phạm tội bị cáo đã tích cực chủ động cùng
gia đình khắc phục hậu quả, tnguyện bồi thường đầy đủ, kịp thời toàn bộ thiệt hại
về vật chất cũng như tinh thần cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại tiếp tục có
đơn xin giảm nhẹ hình phạt tại giai đoạn xét xử phúc thẩm.
6
Đây một số tình tiết mới phát sinh trong giai đoạn xét xử xử phúc thẩm, vì vậy
căn cứ tiếp tục áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, là lao
động chính trong gia đình, hiện bị cáo đang trực tiếp nuôi con nhỏ cần sự chăm sóc
của bố, đồng thời vợ bị cáo hiện đang mắc bệnh (K tuyến giáp), sức khoẻ yếu, khả
năng lao động bị hạn chế; nếu bị cáo phải đi thi hành án phạt theo quyết định của
bản án thẩm thì gia đình sẽ rất khó khăn. Bản thân bị cáo nơi trú ràng,
nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự. Hội đồng xét xử xét thấy căn căn cứ chấp
nhận kháng cáo của bị cáo, cải biện pháp thi hành giữ nguyên hình phạt tù và cho bị
cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo sự răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm
qua đó thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Quan điểm
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa đã phân tích, đánh giá về
tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo và đề nghị chấp nhận kháng
cáo của bị cáo là phù hợp và có căn cứ.
Từ sự phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo
xin hưởng án treo của bị cáo Hữu C; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 55/2026/HS-
ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh về phần hình phạt.
[4] Về án phí: do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm e, khoản 1, Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự: chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hữu C; sửa bản án hình sự
thẩm số 55/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng
Ninh về hình phạt đối với bị cáo Vũ Hữu C.
Căn cứ: điểm c, khoản 2, Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51;
khoản 1, Điều 54; khoản 1, khoản 2 và khoản 5, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Hữu C 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian
thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo Vũ Hữu C cho Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Quảng Ninh nơi bị
cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian ththách; gia đình bị cáo trách
nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện
theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người
được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án thể quyết
7
định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho
hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo
Vũ Hữu C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- CQCSĐT, CQTHAHS - Công an tỉnh
Quảng Ninh;
- VKSND khu vực 2, TAND khu vực 2-QN;
- THADS tỉnh Quảng Ninh;
- Phòng HSNV Công an tỉnh QN;
- Bị cáo; đại diện bị hại;
- Lưu hồ sơ; VP.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 38/2026/HS-PT Bản án số 38/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 38/2026/HS-PT Bản án số 38/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất