Bản án số 284/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 284/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 284/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 284/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 284/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về thừa kế tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 284/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nay nguyên đơn ông T yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ H2, cụ T5 để lại theo quy định pháp luật như sau |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 284/2026/DS-PT
Ngày: 31-3-2026
V/v “Tranh chấp dân sự về
chia thừa kế và QSD đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Li
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Danh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Thanh Mến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03/3/2026 và ngày 31/3/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Đng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
684/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp dân sự về
chia thừa kế và QSD đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đng Tháp bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2026/QĐ-PT ngày
05 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thành T, sinh năm 1968 (có mặt);
Địa chỉ: ấp M, xã M, tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Thành T: Ông Cao Minh T1;
sinh năm 1970 (có mặt); Địa chỉ: Số B, khóm S, phường S, tỉnh Đng Tháp và
anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 1991 (có mặt); Địa chỉ: Số F, khóm T, phường S,
tỉnh Đng Tháp (theo Hp đng ủy quyền ngày 22/5/2024).
2. B đơn: Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1976 (có mặt);
Địa chỉ: Số G, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thanh N1: Chị Lại Phan Xuân
Đ, sinh năm 1985 (có mặt); Địa chỉ: Số B, Lê Thị R, khóm C, phường S, tỉnh
Đng Tháp (theo Hp đng ủy quyền ngày 24/11/2025).
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư H Thị Xuân
H và Luật sư Võ Thị T2 - Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Nguyễn Văn M, sinh năm 1951;
Địa chỉ: Số A, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp.
3.2. Nguyễn Văn G, sinh năm 1952 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp C, xã Đ, tỉnh Đng Tháp.
3.3. Nguyễn Kim C, sinh năm 1958 (có mặt);
Địa chỉ: Số H, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp.
3.4. Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Số H, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp.
3.5. Nguyễn Ngọc E, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Số H, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp.
3.6. Nguyễn Hùng S, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Số G, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp.
3.7. Nguyễn Thị Ngọc T3, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Số B, khóm K, phường S, tỉnh Đng Tháp.
3.8. Nguyễn Văn C1, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Số H, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp.
3.9. Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Số H, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc A, ông
Nguyễn Ngọc E, ông Nguyễn Hùng S, ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị Ngọc
T3: Ông Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1970 (có mặt); Địa chỉ: Số H, khóm T,
phường S, tỉnh Đng Tháp (theo Hp đng ủy quyền ngày 22/5/2024).
3.10. Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Số B, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Văn Ú: Chị Nguyễn Thị Diễm
N2, sinh năm 1996 (có mặt); Địa chỉ: Số B, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp
(theo Hp đng ủy quyền ngày 20/5/2024).
3.11. Trần Văn H1, sinh năm 1970 (có mặt);
Địa chỉ: Số H, N, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp.
3.12. Trần Mai Ngọc N3, sinh năm 2003 (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử
vắng mặt);
3.13. Trần Mai Ngọc D, sinh năm 2009;
Người đại diện theo pháp luật của Trần Mai Ngọc D: Bà Nguyễn Thị
Thanh N1 (mẹ của D, có mặt);
Cùng địa chỉ: Số G, khóm T, phường S, tỉnh Đng Tháp.
3.14. Phòng C4 tỉnh Đng Tháp;
3
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn P - Trưởng Phòng;
Địa chỉ: Số D, N, phường S, tỉnh Đng Tháp (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét
xử vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh N1 là bị đơn.
NỘI DUNG V ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Thành T ủy quyền cho ông Cao Minh T1, anh
Nguyễn Hữu N đại diện trình bày: Cụ Lê Thị H2, sinh năm 1932 (chết ngày
22/10/2018), cụ Nguyễn Văn T5, sinh năm 1929 (chết ngày 25/12/2011). Cụ H2
và cụ T5 chung sống có 12 người con gm: Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn G,
Nguyễn Kim C, Nguyễn Ngọc A, Nguyễn Ngọc E, Nguyễn Hùng S, Nguyễn Thị
Ngọc T3, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Văn Ú, Nguyễn Thị
Thanh N1 và Nguyễn Thành T. Ngoài ra không còn người con riêng, con nuôi
nào khác.
Cụ H2 và cụ T5 có tạo lập đưc phần đất diện tích 12.374m
2
gm thửa
2264, diện tích 7500m
2
; thửa 1489, diện tích 2617m
2
; thửa 1500, diện tích
1170m
2
và thửa 1149, diện tích 1087m
2
, đưc Ủy ban nhân dân (UBND) thành
phố S (nay là phường S) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất cho Lê
Thị H2 vào ngày 24/7/1993; Tài sản gắn liền với đất là căn nhà tọa lạc tại số G,
khóm T, phường S do v chng cụ H2 và cụ T5 xây dựng trước năm 1975.
Ngày 01/10/2006, cụ H2 lập hp đng chuyển nhưng (tặng cho)
1.173,6m
2
(hết thửa 1149 và một phần thửa 1500, diện tích 86,6m
2
) cho các con
gm: ông C1 diện tích 279,3m
2
(đất thổ); bà N1 diện tích 226,6m
2
(đất thổ); ông
S diện tích 242,8m
2
(đất thổ); ông T4 diện tích 424,9m
2
(đất thổ). Diện tích còn
lại 11.200,4m
2
(gm thửa 2264, diện tích 7.500m
2
; thửa 1489, diện tích 2.617m
2
;
một phần thửa 1500, diện tích 1.083,4m
2
).
Ngày 07/9/2007, cụ H2 lập hp đng chuyển nhưng (tặng cho) ông E diện
tích 5.000m
2
đất lúa, thuộc một phần thửa 2264. Diện tích còn lại là 6.200,4m
2
(gm thửa 2264, diện tích 2.500m
2
; thửa 1489, diện tích 2.617m
2
; một phần thửa
1500, diện tích 1.083,4m
2
).
Năm 2012 cụ H2 lập di chúc để lại cho bà N1 toàn bộ phần đất còn lại
6.200,4m
2
theo giấy chứng nhận QSD đất ngày 24/7/1993, tài sản trên đất (nhà
ở). Việc cụ H2 lập di chúc cho bà N1 toàn bộ diện tích đất còn lại 6.200,4m
2
,
nguyên đơn không biết cho đến khi phát sinh tranh chấp.
Tuy nhiên, đến năm 2013 cụ H2 tiếp tục cho ông Nguyễn Văn Ú diện tích
185m
2
(ngang 05m x dài 37m thuộc một phần thửa 1500) để xây cất nhà tình
thương. Việc tặng cho có làm tờ tặng cho vào ngày 07/5/2013, có chứng kiến của
một số người con cụ H2 và có xác nhận của Trưởng Ban N5.
Sau đó, cụ H2 làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa
đất 2264 thành thửa đất 256, tờ bản đ 26, diện tích 3.126m
2
(diện tích tăng
4
626m
2
), đưc UBND thị xã S cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 19/9/2013.
Nhưng thửa đất này hiện nay trên thực tế không còn, nên nguyên đơn không có
tranh chấp yêu cầu chia.
Ngày 28/9/2023, UBND thành phố S thu hi diện tích 1.066,2m
2
thuộc một
phần thửa 1489 để xây dựng Đường D2 và bi thường thiệt hại về đất, công trình
kiến trúc khác, cây trng số tiền 1.230.831.918 đng (hiện bà N1 đang giữ).
Diện tích còn lại 3.700,4m
2
(gm thửa 1489 diện tích 2.617m
2
, một phần
thửa 1500 diện tích 1.083,4m
2
). Qua đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ thửa 1489
tờ bản đ 02 (nay thửa 1340, loại đất trng cây lâu năm, diện tích 809,7m
2
và
thửa 1341, loại đất trng cây lâu năm, diện tích 1.362,9m
2
); Thửa 1500 tờ bản đ
02 (nay là thửa 1418 tờ bản đ 37, loại đất thổ, diện tích 1.083,4m
2
. Tổng diện
tích đo đạc thực tế 3.256m
2
thiếu so với diện tích còn lại trong Giấy chứng nhận
QSD đất cấp cho cụ H2 là 444,4m
2
, ông T thống nhất.
Như vậy, di sản của cụ T5 và cụ H2 để lại gm 3.256m
2
, căn nhà thờ, cùng
số tiền bi thường nhà nước bi thường khi thu hi làm đường D2 (tiền bi
thường vật kiến trúc, chậu cây). Ông T xác định là tài sản chung của v chng cụ
H2, cụ T5. Cụ T5 chết không để lại di chúc. Năm 2012 cụ H2 lập di chúc định
đoạt toàn bộ tài sản chung của v chng cho bà N1 là không phù hp quy định
pháp luật. Mặt khác, cụ H2 không biết chữ, không biết đọc, di chúc không có
người làm chứng, tại thời điểm lập di chúc cụ H2 đã 81 tuổi, tinh thần không còn
minh mẫn, nên di chúc không hp pháp.
Nay nguyên đơn ông T yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ H2, cụ T5 để lại
theo quy định pháp luật như sau:
- Đối với phần đất: Diện tích 3.256m
2
trừ diện tích đất 185m
2
mà cụ H2 đã
tặng cho ông Ú, đng ý công nhận cho ông Ú đưc tiếp tục sử dụng. Diện tích
còn lại 3.071m
2
(gm thửa 1340, 1341, một phần thửa 1418) chia đều cho 12
người con của cụ H2, cụ T5 gm: Ông G, ông C, ông M, ông A, ông E, ông S, bà
T3, ông C1, ông T4, ông Ú, ông T và bà N1 mỗi người đưc diện tích 255,92m
2
(trong đó 181,05m
2
đất lâu năm và 74,86m
2
đất thổ).
Ông T yêu cầu đưc chia phần đất thuộc thửa 1341, 1418, căn nhà gắn liền
với thửa đất 1418, cùng đứng tên chung với ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3,
ông C1, ông T4, ông Ú.
Ông T đng ý chia cho bị đơn bà N1 và người liên quan ông G, ông C thửa
đất 1340, diện tích 809,7m
2
loại đất cây lâu năm và giá trị căn nhà thờ theo giá
hội đng định giá đã định.
Phần đất ông T cùng các ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông
T4, ông Ú đưc chia nếu nhiều hơn suất thừa kế đưc hưởng theo quy định thì
ông T và các anh em ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông T4, ông Ú
đng ý trả giá trị chênh lệch lại cho bà N1, ông G, ông C và ngưc lại nếu phần di
5
sản mà bà N1, ông G, ông C đưc chia nhiều hơn suất thừa kế đưc hưởng thì
phải trả giá trị chênh lệch lại cho ông T và các anh chị em còn lại.
- Đối với số tiền bi thường 1.230.831.918 đng; ông T đng ý trừ tiền bi
thường công trình kiến trúc khác cho bà N1 là 12.168.318 đng, tiền các chậu là
6.171.000 đng. Còn lại 1.212.492.600 đng chia đều cho 12 người con của cụ
T5 và cụ H2 mỗi người số tiền là 101.041.050 đng.
- Về cây trng trên đất ông T và các anh em ông M, ông A, ông E, ông S,
bà T3, ông C1, ông T4, ông Ú đng ý trả giá trị các cây trng có trên thửa đất
1341, 1418 đưc chia cho bà N1 theo giá Hội đng định giá đã định. Đối với cây
cóc loại A, cây xoài loại A theo Biên bản định giá ngày 13/6/2024 do cụ H2
trng, cây trng có trên phần đất ai đưc chia người đó hưởng, không yêu cầu
chia thừa kế.
- Về chi phí san lấp cát bị đơn trình bày là 90.000.000 đng (03
ghe/110m
3
). Ông T thống nhất với cách tính của bị đơn về việc lấy chi phí san lấp
chia diện tích đất tranh chấp (sau khi trừ đi diện tích đất có công trình kiến trúc
như nhà chính, mái che nhà cụ H2, khu mộ và 185m
2
ông Ú yêu cầu công nhận),
thì chi phí bơm cát bình quân khoảng 30.000 đng/m
2
. Tuy nhiên, ông T không
đng ý trả vì cát san lấp do cụ H2 san lấp vào năm 2010.
- Đối với phần mái che phía trước nhà chính của cụ H2, tường rào do bà
N1 xây dựng năm 2022, khi xây dựng ông T và các anh chị em không đng ý,
nên yêu cầu bà N1 phải tháo dỡ di dời, không đng ý bi thường.
Đối với các phần mộ, có trên phần đất ai đưc chia thì tiếp tục quản lý,
không yêu cầu di dời.
Ngoài ra, ông T không còn yêu cầu gì khác.
- B đơn bà Nguyễn Th Thanh N1 ủy quyền cho ch Lai Phạn Xuân Đ1
đại diện trình bày: Phần đất tranh chấp có ngun gốc là của cha, mẹ cụ H2 để lại
cho cá nhân cụ H2, đưc UBND thị xã S (nay là phường S) cấp giấy chứng nhận
QSD đất cho cụ H2 vào ngày 24/7/1993.
Năm 2006 - 2007, cụ H2 chuyển nhưng cho con gm: ông C1, bà N1, ông
S, ông T4 và ông E mỗi người một phần diện tích như nguyên đơn trình bày.
Diện tích còn lại là 6.200,4m
2
(gm thửa 1489, một phần thửa 1500 và một phần
thửa 2264). Thời điểm cụ H2 tặng cho các con, phía cụ T5 còn sống nhưng không
có ý kiến; hp đng chuyển nhưng chỉ có một mình cụ H2 ký tên. Hiện nay ông
C1, bà N1, ông S, ông T4 và ông E đã đưc cấp giấy chứng nhận QSD đất.
Ngày 14/5/2012, cụ H2 lập di chúc để lại cho bà N1 đưc QSD phần đất
diện tích 6.200,4m
2
theo giấy chứng nhận QSD đất vào sổ số 00294 cấp ngày
24/7/1993 cho cụ H2 và tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp IV. Di chúc có
công chứng chứng thực của Phòng C4, tỉnh Đng Tháp. Ông C1 là người đưa cụ
H2 đi lập di chúc, các anh chị trong gia đình đều biết nhưng không ai tranh chấp.
6
Năm 2013 cụ H2 làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất đối với
thửa đất 2264 thành thửa 256, tờ bản đ 26, diện tích 3.126m
2
(diện tích tăng
626m
2
), đưc UBND thị xã S cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 19/9/2013.
Thửa đất này hiện nay trên thực tế không còn, nên bị đơn thống nhất không tranh
chấp.
Năm 2018 cụ H2 chết, bà N1 trực tiếp quản lý toàn bộ tài sản trên. Trong
quá trình quản lý, bà N1 có làm mái che phía trước nhà chính, tường rào gạch
ống, san lấp cát; trng cây (theo Biên bản định giá ngày 13/6/2024), các anh chị
em trong gia đình đều biết nhưng không có tranh chấp.
Ngày 28/9/2023, UBND thành phố S thu hi một phần thửa 1489, diện tích
1.066,2m
2
để xây dựng Đường D2 và bi thường thiệt hại về đất, công trình kiến
trúc khác, cây trng, chính sách hỗ tr số tiền 1.230.831.918 đng (hiện bà N1
đang giữ).
Đối với việc cụ H2 tặng cho ông Ú diện tích 185m
2
(trên đất hiện có nhà
ông Ú), bà N1 không biết và bà N1 cũng không đng ý với nội dung tờ tặng cho
ngày 07/5/2013 vì không có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.
Nay bà N1 không đng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu
cầu độc lập của những người có quyền li liên quan ông M, ông Ngọc A, ông E,
ông S, bà T3, ông C1, ông T4, ông Ú về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật.
Bà N1 yêu cầu đưc hưởng toàn bộ phần đất đo đạc thực tế là 3.256m
2
thuộc thửa
1340, 1341, 1418; tài sản gắn liền với đất là căn nhà thờ và số tiền bi thường
1.230.831.918 đng theo tờ di chúc lập ngày 14/5/2012.
Tuy nhiên, phần đất mà cụ H2 di chúc để lại cho bà N1 đưc hưởng có căn
nhà của ông Ú xây dựng trên thửa đất 1418. Nên bà N1 đng ý chia cho ông Ú
đưc tiếp tục sử dụng kích thước chiều ngang 4,5m, chiều dài tính từ đường Ngã
Am đo mốc 17 (theo sơ đ đo đạc ngày 16/12/2024 của Chi nhánh văn phòng
đăng ký QSD đất).
Trong trường hp di chúc không hp pháp, chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn về chia thừa kế thì bà N1 yêu cầu đưc hưởng ½ tài sản của cụ
H2 (đã di chúc cho bà N1) và 01 suất thừa kế từ di sản của cụ T5. Bà N1 yêu cầu
nhận thửa 1340, 1341 (loại đất cây lâu năm), đng ý giao cho nguyên đơn và
những người liên quan ông M, ông Ngọc A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông T4,
ông Ú thửa đất 1418 và căn nhà thờ; nếu diện tích bà N1 đưc nhận nhiều hơn
suất thừa kế đưc hưởng theo quy định, bà N1 đng ý trả giá trị chênh lệch lại
cho các hàng thừa kế khác.
Đng thời, bà N1 có yêu cầu ông T, ông M, ông Ngọc A, ông E, ông S, bà
T3, ông C1, ông T4, ông Ú phải bi thường giá trị cây trng, phần mái che, tường
gạch, chi phí san lấp cát cho bà N1. Tuy nhiên, đối với chi phí san lấp cát, san lấp
trên 03 thửa đất, không xác định đưc khối lưng cát của từng thửa đưc san lấp.
Đối với số cây trng qua thẩm định không xác định đưc số lưng cây trên từng
7
thửa đất. Do đó, trường hp chia thừa kế theo pháp luật thì bà N1 yêu cầu ông T,
ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông T4, ông Ú trả giá trị cây, chi phí
san lấp bình quân 30.000 đng/m
2
diện tích đưc chia (trừ diện tích nhà cụ H2,
khu mộ và 185m
2
ông Ú yêu cầu công nhận). Bà N1 không yêu cầu ông G, ông C
bi thường giá trị cây trng, chi phí san lấp cát, phần mái che, tường gạch cho bà
N1.
Đối với tiền bi thường thiệt hại về đất công trình kiến trúc khác, cây trng
và chính sách hỗ tr (do thu hi diện tích đất cụ H2 di chúc lại cho bà N1) tổng
cộng là 1.230.831.918 đng, bà N1 không đng ý chia. Trường hp chia thừa kế,
bà N1 chỉ đng ý chia số tiền bi thường thiệt hại về đất 637.587.600 đng. Đối
với khoản tiền bi thường về cây trng, chính sách hỗ tr, bà N1 không đng ý.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Ú ủy quyền
cho ch Nguyễn Th Diễm N2 đại diện trình bày: Thống nhất theo lời trình bày
của nguyên đơn về ngun gốc đất tranh chấp, hàng thừa kế.
Năm 2013, cụ H2 có cho ông Ú diện tích 185m
2
(5m x 37m) để cất nhà ở
(nhà tình thương). Việc cho đất có làm tờ tặng cho, có xác nhận của Trưởng Ban
N5 vào ngày 07/5/2013. Do điều kiện khó khăn nên ông Ú chỉ sử dụng một phần
diện tích đưc cho để cất nhà ở, diện tích còn lại để trống. Việc cụ H2 cho ông Ú
phần đất này anh, chị, em trong gia đình biết nhưng không ai tranh chấp
Nay ông Ú yêu cầu công nhận cho ông Ú đưc tiếp tục sử dụng diện tích
185m
2
thuộc một phần thửa đất 1418, thể hiện theo các mốc: 15-16-17-17A-17B-
17C-17D-17Đ-15 (theo sơ đ đo đạc ngày 16/12/2024 của Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai thành phố S).
Di sản tranh chấp còn lại gm 3.071m
2
(gm thửa 1340, 1341, một phần
thửa 1418); số tiền bi thường 1.230.831.918 đng (đng ý trừ tiền vật kiến trúc,
chậu cho bà N1) chia đều cho 12 người con của cụ H2, cụ T5 theo quy định pháp
luật. Phần đất ông Ú yêu cầu chia thuộc thửa 1341, 1418 và sẽ cùng đứng tên
chung với ông T, ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông T4.
Đng ý chia cho bà N1, ông G, ông C thửa 1340, diện tích 809,7m
2
loại đất
cây lâu năm và giá trị căn nhà thờ theo giá hội đng định giá đã định.
Về cây trng trên đất, chi phí san lấp cát, phần mái che phía trước nhà
chính của cụ H2, tường gạch do bà N1 xây dựng. Ông M, ông A, ông E, ông S, bà
T3, ông C1, ông T4 thống nhất với lời trình bày, ý kiến của ông T. Đối với cây
xoài loại A, cóc loại A do cụ H2 trng không yêu cầu chia, cây trng có trên đất
ai đưc chia thì người đó hưởng; các phần mộ có trên phần đất ai đưc chia thì
tiếp tục quản lý, không yêu cầu di dời. Ngoài ra, ông Ú không còn ý kiến, yêu cầu
gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M, ông
Nguyễn Ngọc A, ông Nguyễn Ngọc E, ông Nguyễn Hùng S, bà Nguyễn Th
8
Ngọc T3, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Thanh T4 (ông M, ông Ngọc A,
ông Ngọc E, ông S, ông C1, bà T3 cùng ủy quyền cho ông T4) trình bày:
Thống nhất theo lời trình bày của nguyên đơn về ngun gốc phần đất tranh chấp,
hàng thừa kế. Phần đất diện tích 3.256m
2
trừ diện tích đất 185m
2
mà cụ H2 đã
tặng cho ông Ú, đng ý công nhận cho ông Ú đưc tiếp tục sử dụng.
Di sản tranh chấp còn lại 3.071m
2
(gm thửa 1340, 1341, một phần thửa
1418); số tiền bi thường 1.230.831.918 đng (đng ý trừ tiền vật kiến trúc, chậu
cho bà N1) chia đều cho 12 người con của cụ H2, cụ T5 theo quy định pháp luật.
Phần đất ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông T4 yêu cầu chia thuộc
thửa 1341, 1418 và sẽ cùng đứng tên chung với ông T, ông Ú.
Đng ý chia cho bà N1, ông G, ông C thửa 1340, diện tích 809,7m
2
loại đất
cây lâu năm và giá trị căn nhà thờ theo giá hội đng định giá đã định.
Về cây trng trên đất, chi phí san lấp cát, phần mái che phía trước nhà
chính của cụ H2, tường gạch do bà N1 xây dựng. Ông M, ông A, ông E, ông S, bà
T3, ông C1, ông T4 thống nhất với lời trình bày, ý kiến của ông T.
Đối với cây xoài loại A, cóc loại A do cụ H2 trng không yêu cầu chia, cây
trng có trên đất ai đưc chia thì người đó hưởng; các phần mộ có trên phần đất
ai đưc chia thì tiếp tục quản lý, không yêu cầu di dời. Ngoài ra, ông M, ông A,
ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông T4 không còn ý kiến, yêu cầu gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn G, ông
Nguyễn Kim C trình bày: Ông G, ông C đng ý công nhận cho ông Ú đưc tiếp
tục sử dụng phần đất chiều ngang theo hiện trạng nhà ông Ú đang ở là 4,5m và
chiều dài từ đường N đến mốc 17.
Diện tích đất còn lại, căn nhà gắn liền với đất cùng số tiền bi thường đề
nghị chia cho bà N1 đưc hưởng theo di chúc cụ H2 lập ngày 14/5/2012.
Trường hp, di chúc không hp pháp, chia thừa kế theo pháp luật thì phần
đất tranh chấp sau khi trừ diện tích công nhận cho ông Ú sử dụng, diện tích đất
còn lại và số tiền bi thường sẽ chia thừa kế theo pháp luật. Phần di sản (đất, tiền
bi thường, giá trị nhà của cụ H2) ông G, ông C đưc chia; ông G, ông C đng ý
cho lại bà N1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1, ch Trần
Mai Ngọc N3, ch Trần Mai Ngọc D (bà N1 giám hộ cho ch D) trình bày: Ông
H1 xác định tài sản tranh chấp nhà và đất là của cụ H2 di chúc cho bà N1. Tuy
nhiên, sau khi cụ H2 chết; bà N1 trực tiếp quản lý, canh tác các thửa đất tranh
chấp và có cải tạo (san lấp cát), trng cây các loại. Do đó, trường hp phải chia
thừa kế theo pháp luật thì đề nghị Tòa án xem xét đến ý kiến, yêu cầu của bà N1
về chi phí san lấp cát, giá trị cây trng các loại, bi thường mái che, tường gạch.
Chị N3, chị D hiện sinh sống cùng bà N1 trên phần đất tranh chấp nhưng
không có công sức đóng góp gì trong phần đất này. Do đó, vụ việc đề nghị Tòa
9
án giải quyết theo quy định. Chị N3, chị D không có tranh chấp hay yêu cầu độc
lập gì.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng C4 - tỉnh Đồng Tháp
trình bày: Ngày 14/5/2012, Phòng C4 - tỉnh Đng Tháp có công chứng chứng
thực di chúc số 64, quyền 01 TP/CC-SCC/HĐGD do bà Lê Thị H2 lập.
Trong vụ kiện này Phòng công chứng không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số:
36/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 8 - Đồng Tháp
(viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Yêu cầu độc lập của
người có quyền li, nghĩa vụ liên quan về việc yêu cầu chia thừa kế.
1.1. Ông Nguyễn Thành T, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc A, ông
Nguyễn Ngọc E, ông Nguyễn Hùng S, bà Nguyễn Thị Ngọc T3, ông Nguyễn Văn
C1, ông Nguyễn Thanh T4, ông Nguyễn Văn Ú đưc chia thừa kế và cùng đứng
tên chung QSD đất diện tích 942,3m
2
thuộc một phần thửa 1418 tờ bản đ 37, thể
hiện tại các mốc: 10-11-12-13-14-15-16A-17A-17-18-19-20-21-10C-10B-10A-
10E-10D-10 (H3A, H3C), mục đích đất thổ; Diện tích 1.362,9 m
2
thuộc thửa
1341 tờ bản đ 37, thể hiện tại các mốc: 7-8-9-10-10D-10E-10A-10B-10C-21-22-
23-24-25-26-7B-7 (H2A, H2B) mục đích sử dụng đất trng cây lâu năm; Căn
nhà; M1 che, tường gạch, cây trng trên thửa đất 1418 (có Biên bản định giá ngày
13/6/2024 kèm theo)
Buộc bà Nguyễn Thị Thanh N1, ông Trần Văn H1, Trần Mai Ngọc N3,
Trần Mai Ngọc D có trách nhiệm di dời toàn bộ giàn bông, chậu trng bông,
kiểng các loại (trên giàn và dưới đất) có trên diện tích đất mà ông Nguyễn Thành
T, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc A, ông Nguyễn Ngọc E, ông Nguyễn
Hùng S, bà Nguyễn Thị Ngọc T3, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Thanh T4,
ông Nguyễn Văn Ú đưc chia.
1.2. Bà Nguyễn Thị Thanh N1 đưc chia thừa kế QSD đất diện tích
809,7m
2
thuộc thửa 1340 tờ bản đ 37, thể hiện tại các mốc: 1-2-3-4-5-6-1 (H1)
mục đích sử dụng đất trng cây lâu năm.
Buộc ông Nguyễn Thành T, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc A, ông
Nguyễn Ngọc E, ông Nguyễn Hùng S, bà Nguyễn Thị Ngọc T3, ông Nguyễn Văn
C1, ông Nguyễn Thanh T4, ông Nguyễn Văn Ú trả giá trị chênh lệch cho bà
Nguyễn Thị Thanh N1 đối với diện tích đất là 173.625.000 đng; giá trị căn nhà
thờ 38.088.000 đng.
1.3. Buộc bà Nguyễn Thị Thanh N1 chia số tiền bi thường đất, chính sách
hỗ tr cho ông Nguyễn Thành T, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc A, ông
Nguyễn Ngọc E, ông Nguyễn Hùng S, bà Nguyễn Thị Ngọc T3, ông Nguyễn Văn
10
C1, ông Nguyễn Thanh T4, ông Nguyễn Văn Ú mỗi người số tiền 88.323.800
đng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền li, nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Văn Ú về việc yêu cầu công nhận QSD đất.
Công nhận cho ông Nguyễn Văn Ú đưc sử dụng diện tích 141,1m
2
thuộc
một phần thửa 1418 tờ bản đ 37, thể hiện tại các mốc: 16-16A-17A-17-16
(H3B), hiện ông Ú đang quản lý.
(Các thửa đất 1418, 1340, 1341 Giấy chứng nhận QSD đất cụ Lê Thị H2
đứng tên. Hiện bà N1, chị N3, chị D đang quản lý, sử dụng thửa đất 1340, 1341
và một phần thửa 1418 cùng căn nhà thờ).
Cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền thu hi giấy chứng nhận QSD đất
số bìa B 236394 do Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là phường S) cấp cho bà Lê
Thị H2 ngày 24/7/1993, thay đổi các ngày 10/11/2006, 24/9/2007, 20/11/2023 để
điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận QSD đất đối với phần đất đã đưc Tòa án
tuyên xử cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để
đăng ký, kê khai, cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất theo quy định.
Kèm theo Sơ đ đo đạc hiện trạng điều chỉnh bổ sung ngày 17/6/2025 của
Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S (nay là Chi nhánh Văn phòng
Đ2-Đng Tháp); Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản ngày
13/6/2024 của Tòa án).
3. Chấp nhận yêu cầu của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N1 về việc yêu cầu
trả giá trị cây trng, san lấp cát, mái che, tường gạch.
Buộc ông Nguyễn Thành T, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc A, ông
Nguyễn Ngọc E, ông Nguyễn Hùng S, bà Nguyễn Thị Ngọc T3, ông Nguyễn Văn
C1, ông Nguyễn Thanh T4, ông Nguyễn Văn Ú trả bà Nguyễn Thị Thanh N1:
58.580.000 đng tiền cây trng, 60.192.000 đng chi phí san lấp cát, 23.844.000
đng mái che và tường gạch. Tổng cộng là 142.616.000 đng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường
hp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ
ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đưc thi hành án (đối với các khoản
tiền phải trả cho người đưc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc A, ông Nguyễn Ngọc E, ông
Nguyễn Hùng S đưc miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm, do
là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp
4.2. Ông Nguyễn Thành T, bà Nguyễn Thị Ngọc T3, ông Nguyễn Văn C1,
11
ông Nguyễn Thanh T4 mỗi người phải chịu số tiền án phí đối với suất thừa kế
đưc chia là 31.948.000 đng.
Số tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Thành T đã nộp 4.136.000 đng theo
biên lai thu số 0004163 ngày 06/5/2024 và 11.649.000 đng theo biên lai thu số
0008073 ngày 08/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc (nay
là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8-Đng Tháp) đưc khấu trừ vào án phí
phải nộp. Ông T còn phải nộp thêm số tiền 16.163.000 đng
Số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Thanh T6 đã nộp 15.785.000 đng
theo biên lai thu số 0008072 ngày 08/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự
thành phố Sa Đéc (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 - Đng Tháp)
đưc khấu trừ vào án phí phải nộp. Bà T6 còn phải nộp thêm số tiền 16.163.000
đng
Số tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn C1 đã nộp 15.785.000 đng theo
biên lai thu số 0008066 ngày 08/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành
phố Sa Đéc (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 - Đng Tháp) đưc khấu
trừ vào án phí phải nộp. Ông C1 còn phải nộp thêm số tiền 16.163.000 đng.
Số tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Thanh T4 đã nộp 15.785.000 đng
theo biên lai thu số 0008070 ngày 08/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự
thành phố Sa Đéc (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 - Đng Tháp)
đưc khấu trừ vào án phí phải nộp. Ông T4 còn phải nộp thêm số tiền 16.163.000
đng.
4.3. Ông Nguyễn Văn Ú phải chịu 31.948.000 đng án phí đối với suất
thừa kế đưc và 300.000 đng án phí về việc yêu cầu công nhận QSD đất đưc
chấp nhận một phần.
Số tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn Ú đã nộp 15.785.000 đng theo
biên lai thu số 0008070 và 300.000 đng theo biên lai thu số 0008069 ngày
08/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc (nay là Phòng thi
hành án dân sự Khu vực 8 – Đng Tháp) đưc khấu trừ vào án phí phải nộp. Ông
Ú còn phải nộp thêm số tiền 16.163.000 đng
4.4. Ông Nguyễn Thành T, bà Nguyễn Thị Ngọc T3, ông Nguyễn Văn C1,
ông Nguyễn Thanh T4, ông Nguyễn Văn Ú phải chịu 3.961.500 đng tiền án phí
đối với đối với bi thường cây trng, cát, mái che, tường gạch.
4.5. Bà Nguyễn Thị Thanh N1 phải chịu án phí tương ứng với 03 suất thừa
kế đưc nhận là 73.922.000 đng. Số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Thanh
N1 đã nộp 3.219.000 đng theo biên lai thu số 0006742 ngày 03/7/2025 của Chi
cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu
vực 8 – Đng Tháp) đưc khấu trừ vào án phí phải nộp. Bà N1 còn phải nộp thêm
số tiền 70.703.000 đng
12
5. Về chi phí xem xét thẩm định, định giá, đo đạc: Số tiền 14.156.000
đng. Ông Nguyễn Thành T đã nộp tạm ứng nên ông M, ông Ngọc A, ông Ngọc
E, ông S, bà T3, ông C1, ông T4, ông Ú mỗi người phải nộp 1.180.000 đng; bà
N1 phải nộp 3.540.000 đng (bao gm phần của ông G, ông C) để hoàn trả lại
cho ông Nguyễn Thành T.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền,
nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N1 nộp đơn kháng
cáo đề ngày 05/9/2025 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản
án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu
chia thừa kế theo pháp luật 03 thửa đất số 1340, 1341, 1418, tờ bản đ số 37 và
số tiền hỗ tr, bi thường 1.230.831.918 đng đối với diện tích đất 1.066,2m
2
và
tài sản, vật kiến trúc, cây trng trên đất bị thu hi và
yêu cầu công nhận Di chúc
lập ngày 14/5/2012 là hp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Luật sư H Thị Xuân H và Luật sư Võ Thị T2 bảo vệ quyền và li ích
hp pháp cho bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N1 trình bày: Bà N1 kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa ản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bởi các căn cứ như
sau:
+ Căn cứ vào Tờ di chúc lập ngày 14/5/2012 thì cụ H2 đã để lại tòan bộ
nhà đất tranh chấp cho bà N1, Tờ di chúc có công chứng của Phòng C4 - Đng
Tháp. Việc nguyên đơn cho rằng di chúc đưc lập khi cụ H2 đã 81 tuổi không
minh mẫn và tài sản là tài sản chung của cụ T5 và cụ H2, tuy nhiên nguyên đơn
không chứng minh đưc việc này và không có yêu cầu hủy di chúc.
+ Theo quy định của pháp luật thì cụ H2 và cụ T5 chung sống trước năm
1975, nên tài sản tranh chấp là tài sản chung của v chng, theo đó Tờ di chúc lập
ngày 14/5/2012 có hiệu lực một phần đối với tài sản riêng của cụ H2, khi cụ H2
định đoạt tài sản.
+ Nguyên đơn không cung cấp đưc tài liệu, chứng cứ chứng minh cụ H2
không biết đọc, không biết viết; Bị đơn cung cấp đưc chứng cứ chứng minh cụ
H2 biết đọc biết viết chậm. Mặt khác theo nội dung di chúc ngày 14/5/2012 thể
hiện “Tôi đã đọc lại toàn bộ nội dung di chúc này…”, cho thấy cụ H2 đến Phòng
công chứng yêu cầu Công chứng viên soạn thảo theo ý nguyện của mình và đưc
ghi nhận trong di chúc.
+ Những người làm chứng như ông L1 là bà con thân thiết của hai bên
đương sự và những người cùng xóm cụ H2 cũng biết rõ cụ H2 biết đọc, đặc biệt
là chị H3 là người đi mua đ nấu với cụ H2 thấy cụ H2 đọc hóa đơn để người bán
đ nấu ăn bán đ cho cụ H2.
13
+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 636 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di chúc
lập không cần phải có người làm chứng, nên di chúc đưc Phòng công chứng số 2
công chứng là đúng và chỉ có ½ là di sản của cụ H2. Lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm
phải xem xét phần ½ di sản của cụ T5 là không có hiệu lực. Nên việc Tòa án sơ
thẩm tuyên bố Tờ di chúc lập ngày 14/5/2012 vô hiệu toàn bộ trên cơ sở cụ H2
không biết đọc, không biết viết là không có căn cứ đã ảnh hưởng đến quyền li
hp pháp của bà N1, đng thời vưt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Tòa án sơ thẩm đã không xem xét công sức đóng góp của bà N1 trong
quá trình quản lý, sử dụng tài sản tranh chấp. Cụ thể tài sản, cây trng của bà N1
đưc cơ quan có thẩm quyền khảo sát, xem xét bi thường khi thu hi đất, những
người làm chứng cũng có lời khai là v chng bà N1, ông H1 đã sống chung với
cụ H2. Tòa án sơ thẩm đã không áp dụng Án lệ số 05/2016/AL ngày 06/4/2016
của Tòa án nhân dân tối cao quy định về việc xem xét công sức đóng góp trong
việc quản lý di sản thừa kế.
+ Tòa án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tụng do giải quyết vưt quá yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn do nguyên đơn không yêu cầu tuyên bố di chúc vô
hiệu theo quy định Điều 188 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm không
mời Công chứng viên lấy lời khai làm rõ nội dung di chúc lập ngày 14/5/2012,
cũng như yêu cầu Phòng C4 cung cấp thông tin về di chúc lập ngày 14/5/2012 có
đúng quy định của pháp luật hay không.
+ Quyết định hỗ tr đời sống số tiền 422.298.000 đng là cho bà N1 do bà
N1 là người trng cây sản xuất nông nghiệp trên đất bị thu hi nhưng Tòa án cấp
sơ thẩm chia đều là vi phạm nghiêm trọng quyền li của bà N1.
Từ cơ sở nêu trên yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công
nhận di chúc lập ngày 14/5/2012 có hiệu lực ½, trong trường hp không sửa đưc
đề nghị hủy án sơ thẩm.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N1 ủy quyền cho bà L Phan Xuân Đ đại
diện trình bày: Thống nhất trình bày và đề nghị của Luật sư T2 và Luật sư H như
nêu trên, không bổ sung gì thêm.
- Nguyên đơn ông Nguyễn Thành T ủy quyền cho ông Cao Minh T1 và anh
Nguyễn Hữu N đại diện trình bày: Không thống nhất theo kháng cáo của bị đơn
bà Nguyễn Thị Thanh N1. Việc bị đơn cho rằng ông C1 chở cụ H2 đến Phòng C4
lập di chúc ngày 14/5/2012 nhưng ông C1 đã có văn bản xác định không có việc
này; việc những người làm chứng cho rằng cụ H2 biết đọc, trong đó có chị H3
cho rằng cụ H2 cầm hóa đơn đọc để mua đ nấu ăn nhưng đó chỉ là lời khai, chưa
đủ cơ sở chứng minh, vì hầu hết các con cụ H2 đều cho rằng cụ H2 không biết
đọc, không biết viết mà chỉ điểm chỉ trên các văn bản, giấy tờ. Đất tranh chấp
không phải là tài sản cụ H2 đưc cho riêng mà là tài sản chung của cụ H2 và cụ
T5, cụ T5 chết năm 2011 đến năm 2012 thì cụ H2 lập di chúc định đoạt tài sản đã
ảnh hưởng đến quyền li của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ
14
T5, đng thời cụ H2 khi lập di chúc cũng không đọc đưc và không viết đưc.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản
của cụ T5 và cụ H2 theo pháp luật là có cơ sở do di chúc vô hiệu theo quy định
tại Điều 636 và điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên không
đưc xem là vưt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người có quyền li, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Ú ủy quyền cho
chị Nguyễn Thị Diễm N2 đại diện trình bày: Không thống nhất kháng cáo của bà
N1, thống nhất với bản án sơ thẩm, ngoài ra không có ý kiến tranh luận.
- Người có quyền li, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T4 đng thời
là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc A,
ông Nguyễn Ngọc E, ông Nguyễn Hùng S, bà Nguyễn Thị Ngọc T3, ông Nguyễn
Văn C1 trình bày: Không thống nhất kháng cáo của bà N1, thống nhất với bản án
sơ thẩm, ngoài ra không có ý kiến tranh luận.
- Người có quyền li, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 trình bày:
Thống nhất trình bày và đề nghị của Luật sư T2 và Luật sư H như nêu trên, không
bổ sung gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đng Tháp phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N1 thực
hiện đúng quy định và hp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đng xét xử và Thư ký phiên tòa kể từ
khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chấp hành và thực hiện đúng,
đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thực
hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh
N1; tuyên xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2025/DS-ST ngày 26
tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm giải quyết
vụ án số: 579/PB-VKS-DS ngày 31/3/2026).
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ, đưc thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đng Tháp thụ lý và giải
quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp dân sự về chia thừa kế và QSD đất” là đúng
quy định tại khoản 5, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau
khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N1 không thống nhất bản án sơ
15
thẩm nên đã kháng cáo. Việc bà N1 kháng cáo vào ngày 05/9/2025 là trong thời
hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên đưc xem
xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm chị Trần Mai Ngọc N3, đại diện hp pháp của
Phòng C4 tỉnh Đng Tháp vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn ông
Nguyễn Văn G vắng mặt sau khi đưc Tòa án triệu tập hp lệ đến lần thứ hai,
nên Hội đng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Cụ Nguyễn Văn T5, sinh năm 1929 (chết ngày
25/12/2011) và cụ Lê Thị H2, sinh năm 1932 (chết ngày 22/10/2018) chung sống
có 12 người con chung gm: Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn G, Nguyễn Kim C,
Nguyễn Ngọc A, Nguyễn Ngọc E, Nguyễn Hùng S, Nguyễn Thị Ngọc T3,
Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Văn Ú, Nguyễn Thị Thanh N1 và
Nguyễn Thành T. Trong thời gian chung sống cụ T5 và cụ H2 có tạo lập tài sản
gm đất, nhà và cây trng trên đất, trong đó có đất tranh chấp diện tích 3.256m
2
thuộc các thửa 1418, 1340, 1341 tờ bản đ 37 nằm trong diện tích 6.200,4m
2
theo
giấy chứng nhận QSD đất vào sổ số 00294 cấp ngày 24/7/1993 do UBND thị xã
S cấp cho cụ H2. Nguyên đơn ông T và những người có quyền li, nghĩa vụ liên
quan ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông T4, ông Ú yêu cầu chia
thừa kế; Người có quyền li, nghĩa vụ liên quan ông Ú yêu cầu công nhận đưc
tiếp tục sử dụng phần đất 185m
2
đưc cụ H2 cho vào ngày 07/5/2013. Bị đơn bà
N1 không đng ý với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật của các
nguyên đơn và người có quyền li, nghĩa vụ liên quan như nêu trên, vì bà N1 cho
rằng di chúc do cụ H2 lập ngày 14/5/2012 là hp pháp, nên đất tranh chấp thuộc
QSD của bà và bà đưc quyền sở hữu số tiền Nhà nước bi thường
1.230.831.918 đng, bà N1 chỉ đng ý công nhận cho ông Ú sử dụng phần đất
chiều ngang 4,5m và chiều dài đến M17 thuộc một thửa 1418. Điều này đã làm
phát sinh tranh chấp giữa các đương sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N1 yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn ông T và những người có quyền li, nghĩa vụ liên quan ông
M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông T4, ông Ú về việc yêu cầu chia thừa
kế 03 thửa đất 1340, 1341, 1418 và số tiền bi thường 1.230.831.918 đng và
công nhận Di chúc lập ngày 14/5/2012 hp pháp. Hội đng xét xử xét thấy như
sau:
- Di chúc của cụ Lê Thị H2 lập ngày 14/5/2012 tuy có công chứng của
Phòng công chứng số B tỉnh Đng Tháp tuy nhiên không đảm bảo về trình tự, thủ
tục theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Công chứng năm 2006 và quy định tại
khoản 3 Điều 652, khoản 2 Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2005, do tại thời điểm
lập di chúc cụ H2 không tự viết chữ đưc, chỉ điểm chỉ nhưng không có người
16
làm chứng để chứng kiến và ký vào di chúc, đng thời tại thời điểm này cụ H2 đã
lớn tuổi (trên 80 tuổi), nhằm đảm bảo tính minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối,
đe dọa hoặc cưỡng ép trong khi lập di chúc, lẽ ra khi công chứng Phòng công
chứng cần thu thập tài liệu kèm theo thể hiện rõ ý chí tự nguyện của cụ H2 khi
lập di chúc hoặc phải có người làm chứng để chứng kiến việc này. Mặt khác, di
chúc cũng không đảm bảo về nội dung theo quy định của pháp luật, cụ thể: cụ T5
và cụ H2 là v chng, các thửa đất tranh chấp 1418, 1340, 1341 đưc cụ T5 và cụ
H2 tạo lập và sử dụng chung từ năm 1951, trong thời kỳ hôn nhân, nên đất tranh
chấp đưc xác định là tài sản chung của cụ T5 và cụ H2, vì vậy mỗi người đưc
quyền sử dụng ½ diện tích. Ngày 25/12/2011 cụ T5 chết không để lại di chúc đã
phát sinh thừa kế phần di sản cụ T5 để lại. Nhưng ngày 14/5/2012 cụ H2 lập di
chúc để lại toàn bộ phần đất diện tích 6.200,4m
2
(gm thửa 1489, thửa 1500, thửa
2264 nay thuộc thửa 1418, 1340, 1341 thực đo có diện tích 3.256m
2
) cho bà N1
là chưa phù hp quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền li những người
trong hàng thừa kế của cụ T5, cụ H2. Do đó, di chúc ngày 14/5/2012 của cụ H2
không có đủ điều kiện có hiệu lực, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định vô hiệu là có
căn cứ.
Đối với lời khai của những người làm chứng ông Tô Văn C2, bà Nguyễn
Thị Kim C3, chị Trương Thị H3, chị Phạm Thị Thanh T7, bà Ngô Thị T8, ông Tô
Văn L1 cũng như việc bà N1 cho rằng cụ H2 có thể đọc đưc nhưng không đưa
ra đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cụ H2 biết chữ có thể đọc đưc hoặc
viết đưc, mặt khác cũng không đưc nguyên đơn ông T và những người có
quyền li, nghĩa vụ liên quan ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông T7
và ông Ú thừa nhận, họ đều cho rằng cụ H2 không biết đọc, không biết viết, chỉ
biết điểm chỉ (lăn tay), điều này phù hp điều kiện thực tế là cụ H2 không có ký
tên và ghi họ tên của mình trong các văn bản nào, nên lời khai của những người
làm chứng và bà N1 là không đủ cơ sở chứng minh, do đó trình bày của những
người làm chứng và bà N1 không đưc Hội đng xét xử chấp nhận.
- Do di chúc ngày 14/5/2012 của cụ H2 vô hiệu như nêu trên, đng thời cụ
H2 và cụ T5 không có lập di chúc nào khác hp pháp. Nên đất tranh chấp các
thửa 1418, 1340, 1341 có diện tích đo đạc thực tế 3.256m
2
, căn nhà của cụ T5, cụ
H2 tạo lập trước năm 1975 và số tiền bi thường khi nhà nước thu hi đất làm dự
án D2 đưc xác định là di sản của cụ T5 và cụ H2 để lại chưa chia. Vì vậy, sẽ
đưc chia thừa kế cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ H2 và cụ
T5 gm: Ông G, ông C, ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông T7, ông
T, ông Ú và bà N1 mỗi người một phần bằng nhau theo quy định tại Điều 650,
điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Tòa án sơ thẩm
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T và yêu cầu độc lập của người
có quyền li, nghĩa vụ liên quan ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông
T7 và ông Ú về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T5 và cụ H2 theo pháp
17
luật khi di chúc ngày 14/5/2012 vô hiệu là có cơ sở và phù hp pháp luật.
- Xét thấy, ngày 07/5/2013 cụ H2 có cho ông Ú phần đất diện tích 185m
2
có lập tờ tặng cho và có sự chứng kiến của một số anh chị em trong gia đình. Tuy
việc tặng cho tài sản là QSD đất mà không có công chứng, chứng thực của cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền là không đảm bảo quy định của pháp luật về hình
thức. Nhưng sau khi đưc cho đất, ông Ú xây dựng nhà ở ổn định và làm nhà vệ
sinh (một phần diện tích đưc tặng cho) từ đường Ngã Am đến mốc 17, phần
diện tích còn lại không sử dụng. Do đó, Tòa án sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần
yêu cầu độc lập của ông Ú công nhận cho ông Ú đưc sử dụng diện tích 141,1m
2
có nhà ở vật kiến trúc có trên đất, việc này cũng đưc bà N1 thống nhất, nên xét
là có cơ sở.
- Xét việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà N1
về việc yêu cầu trả giá trị cây trng, san lấp cát, mái che, tường gạch. Buộc ông
T, ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông C1, ông T7, ông Ú trả bà N1:
58.580.000 đng tiền cây trng, 60.192.000 đng chi phí san lấp cát, 23.844.000
đng mái che và tường gạch, tổng cộng là 142.616.000 đng là có cơ sở, đng
thời không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn ông T và những
người có quyền li, nghĩa vụ liên quan ông M, ông A, ông E, ông S, bà T3, ông
C1, ông T7 và ông Ú chia thừa kế đối với số tiền bi thường cây trng
152.607.000 đng (đã trừ tiền chậu) mà giao quyền đưc nhận số tiền này cho bà
N1 đưc hưởng là có căn cứ phù hp tài liệu, chứng cứ của vụ án. Như vậy Tòa
án cấp sơ thẩm đã xem xét đến công sức đóng góp của bà N1 trong quá trình quản
lý, sử dụng tài sản tranh chấp.
- Đối với chính sách hỗ tr số tiền 422.298.000 đng. Xét thấy, theo quy
định tại điểm a Khoản 1 Điều 19 Nghị định 47/2014/NĐCP ngày 15/5/2014 quy
định về bi thường, hỗ tr, tái định cư khi Nhà nước thu hi đất thì chính sách hỗ
tr của Nhà nước là hỗ tr cho hộ gia đình, cá nhân đưc Nhà nước giao đất nông
nghiệp. Các thửa đất tranh chấp đưc Ủy ban nhân dân thị xã S cấp giấy chứng
nhận QSD đất cho cụ H2, còn bà N1 chỉ người quản lý, canh tác sau khi cụ H2
chết. Hơn nữa, di chúc của cụ H2 để lại tài sản cho bà N1 vô hiệu, các thửa đất
tranh chấp không thuộc QSD của bà N1. Do đó, tiền hỗ tr nêu trên cũng đưc
xác định là di sản của cụ H2, cụ T5 nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu
của ông T, ông M, ông Ngọc A, ông Ngọc E, ông S, bà T3, ông C1, ông T7, ông
Ú chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ H2, cụ T5 mỗi người đưc hưởng số
tiền 35.191.500 đng là có cơ sở.
- Ngoài ra, xét việc phân chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ
T5 và cụ H2 theo bản án sơ thẩm là có căn cứ, đúng đắn, đảm bảo công bằng và
hài hòa li ích của những người thừa kế của cụ T5, cụ H2 và phù hp quy định
pháp luật. Xét thấy bà N1 cho rằng có công sức đóng góp, tôn tạo đối với tài sản
là di sản của cụ T5 và cụ H2 nhưng bà không cung cấp đủ chứng cứ chứng minh.
18
Mặt khác, bà N1 đưc cụ T5 và cụ H2 cho nền nhà riêng và đã xây dựng nhà trên
đất độc lập với nhà của cụ T5 và cụ H2 và gần với nhà của cụ T5 và cụ H2, việc
bà N1 sử dụng nhà cụ T5 và cụ H2 chủ yếu để phục vụ hoạt động kinh tế của gia
đình bà (kinh doanh hoa kiểng) và hưởng thụ hoa li từ việc quản lý tài sản tranh
chấp, việc này đưc các đương sự xác nhận. Mặt khác, bà N1 cũng không chứng
minh đưc công sức đóng góp của mình đối với việc tôn tạo, bảo quản tài sản
tranh chấp bằng giá trị thực tế, những gì bà N1 đầu tư trên đất tranh chấp (giá trị
cây trng, cát san lấp, mái che, tường gạch) đã đưc Tòa án cấp sơ thẩm xem xét
bằng việc chấp nhận yêu cầu phản tố của bà N1 như đã nêu trên, nên việc Tòa án
sơ thẩm xét xử chia thừa kế di sản của cụ T5 và cụ H2 theo pháp luật như nêu
trên là có căn cứ và phù hp pháp luật.
- Đối với người làm chứng là Công chứng viên Nguyễn Ngọc N4 và người
có quyền li, nghĩa vụ liên quan Phòng C4 tỉnh Đng Tháp đã đưc Tòa án triệu
tập hp lệ nhiều lần để cung cấp lời khai và văn bản ý kiến nhưng họ đều vắng
mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng
mặt trên cơ sở tài liệu, chứng cứ theo h sơ vụ án và đưc thẩm tra tại phiên tòa
theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Việc Tòa án sơ thẩm chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản thừa kế của cụ T5 và cụ H2 theo
pháp luật khi di chúc ngày 14/5/2012 vô hiệu không đưc xem là vưt quá yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì vậy, không đưc xem là vi phạm nghiêm trọng tố tụng trong việc thu thập
chứng cứ và giải quyết vưt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để hủy án sơ
thẩm.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N1, Hội đng xét xử
xét thấy trình bày của phía bị đơn là không đủ căn cứ, đng thời bà N1 cũng
không cung cấp đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của
mình là có cơ sở như đã phân tích trên, nên không đưc Hội đng xét xử chấp
nhận.
[5] Từ cơ sở trên, Hội đng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
bà Nguyễn Thị Thanh N1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hp pháp luật, nên
đưc chấp nhận.
[7] Đối với đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và li ích hp pháp cho bị
đơn bà Nguyễn Thị Thanh N1 tại phiên tòa hôm nay như nêu trên. Hội đng xét
xử xét thấy là không có cơ sở do không phù hp nhận định của Hội đng xét xử
như đã phân tích trên, nên không đưc chấp nhận.
[8] Về án phí: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh N1 không đưc
chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
19
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh N1;
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đng Tháp.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thanh N1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000
đng, đưc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đng, theo
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002209, ngày 08/9/2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh Đng Tháp.
Trong trường hp bản án, quyết định đưc thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người đưc thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự đưc thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.
HCM;
- VKSND Tỉnh;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND Tỉnh;
- TAND Khu vực 8;
- Phòng THADS Khu vực 8;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm