Bản án số 142/2026/KDTM-PT ngày 07/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 142/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 142/2026/KDTM-PT ngày 07/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 142/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/04/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Huỳnh
Trần Thị Thanh Trúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn
Thành Nhân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 31 tháng 3 và 07 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh sở 2 mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai
vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 409/2025/TLPT-KDTM ngày 30/12/2025
về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển quyền thuê quyền sử dụng đất đòi tài
sản”.
Do Bản án kinh doanh thương mi sơ thm số 44/2025/KDTM-ST ngày
18/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng
o;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 994/2026/QĐ-PT ngày
25/02/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 3108/2026/QĐ-PT ngày 10/3/2026,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH A; trụ sở: P, C, số M Đại lộ Bình Dương,
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Hồ Thị Kim C, sinh năm 1997; địa chỉ: Lầu
M, toà nhà H, số A đường B, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh, người đại
diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 01/7/2025), có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH L; trụ sở: Số O ĐT743, khu phố B, phường G,
Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp: Y, sinh năm 1960; tạm trú:
Số O ĐT743, khu phố B, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
Bản án số: 142/2026/KDTM-PT
Ngày 07-4-2026
V/v “tranh chấp
hợp đồng chuyển
quyền thuê quyền sử dụng đất và đòi
tài sản
2
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: Công ty Liên doanh TNHH K; trụ
sở: Số U, Đại lộ Hữu Nghị, Khu công nghiệp B, phường H, Thành phố Hồ Chí
Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty TNHH A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2025 lời khai trong quá trình tố tụng,
nguyên đơn Công ty TNHH A do người đại diện hợp pháp bà C trình bày:
Ngày 14/11/2008 Công ty TNHH A (Công ty AA Plus) có kết hợp đồng
thuê - Vsip II với bên cho thuê Công ty Liên doanh TNHH K, theo hợp đồng
trên nguyên đơn thuê thửa đất số 222, 248, tờ bản đồ số 26, 27 tại KCN V, phường
H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương với Công ty Liên doanh TNHH K
(thuộc lô 272). Do không có nhu cầu sử dụng tiếp nên ngày 31/5/2022 Công ty A
đã kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền thuê lại quyền sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất (gọi tắt Hợp đồng chuyển nhượng) cho Công ty L thuê lại quyền
sử dụng đất diện tích 6.802,8m
2
(loại đất khu công nghiệp) tọa lạc tại V,
phường H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cùng với tài sản gắn liền
với đất trên bao gồm nhà xưởng (diện tích: 600m
2
), nhà văn phòng (diện tích:
330,38m
2
) với tổng giá trị hợp đồng 600.000 USD, tương đương
13.980.000.000 đồng (chưa bao gồm thuế VAT). Trong đó, giá chuyển nhượng
quyền thuê lại đất 9.320.000.000 đồng (tương đương 400.000 USD) giá
chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất 4.660.000.000 đồng (tương đương
200.000 USD). Việc chuyển nhượng trên đã được Công ty Liên doanh TNHH K
chấp thuận theo thỏa thuận ba bên ngày 01/10/2022.
Căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng thoả thuận nêu trên, Công ty A
Công ty L đã thoả thuận thanh toán các đợt như sau:
+ Đợt 1: Thực hiện thanh toán số tiền 5.592.000.000 đồng (tương đương
240.000 USD) ngay sau khi các bên ký Hợp đồng chuyển nhượng;
+ Đợt 2: Thực hiện thanh toán số tiền 8.388.000.000 đồng (tương đương
360.000 USD) ngay sau khi hoàn thành các công việc gồm: kết Hợp đồng
chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất thuê tại Văn phòng công chứng thẩm
quyền; Công ty A xuất hoá đơn GTGT cho Công ty L; Công ty A bàn giao quyền
sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và các giấy tờ liên quan.
+ Đợt 3: Trong thời hạn 07 ngày làm việc sau khi Công ty L được cập nhật
tên trên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất hoặc được cấp mới Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với Thửa đất số 222, 248, tờ bản đồ
số 26,27 tại V, phường H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương và Công ty
A đã nộp thuế GTGT cho Công ty L, thì Công ty L phải thanh toán cho Công ty
A 10% tiền thuế GTGT của tổng giá trị chuyển nhượng.
3
Ngày 01/6/2022, Công ty L đã thanh toán tiền Đợt 1;
Ngày 06/12/2022, Công ty L đã thanh toán tiền Đợt 2.
Hiện nay Công ty A đã hoàn thành việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Công ty L đã được cấp mới Giấy chứng nhận nhưng Công ty L không thực hiện
thanh toán Đợt 3 theo thoả thuận như trên cho nguyên đơn.
Ngoài ra, sau khi bàn giao quyn thuê lại đất và tài sn gn lin với đất cho
b đơn, nguyên đơn chưa di dời 59 trang thiết b, máy móc ca mình ra khi tha
đất. Hiện nay nguyên đơn đến để nhn li s tài sn này thì các tài sản nêu trên đã
không còn hin hu.
Do đó, nay Công ty A khởi kiện Công ty L, yêu cầu Toà án giải quyết những
vấn đề sau:
- Buộc Công ty L thực hiện thanh toán tiền Đợt 3 theo Hợp đồng chuyển
nhượng với số tiền 1.398.000.000 đồng (tương đương 60.000 USD).
- Buộc Công ty L trả lại các trang thiết bị, máy móc của Công ty A đã nhập
khẩu theo Tờ khai điện tử số 1195 ngày 28/9/2025, Tờ khai điện tử số 1340 ngày
10/10/2011 các Phụ lục Tờ khai Hải quan điện tử đính kèm tại Thửa đất số
222, 248, Tờ bản đồ 26, 27 tại V, phường H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương gồm các tài sản sau:
stt
tên hàng, quy cách, phẩm
chất
mã số hàng hóa
số
lượng
01
Máy mài phẳng, sử dụng
trong ngành khí– sản
xuất khuôn mẫu (hàng đã
qua sử dụng)
8460191000
1
02
Máy phay, sử dụng trong
ngành khí sản xuất
khuôn mẫu (hàng đã qua s
dụng)
845969100
1
03
Máy phay tự động, sử dụng
trong ngành khí sản
xuất khuôn mẫu (hàng đã
qua sửdụng)
8459610000
1
04
Máy mài, sử dụng trong
ngành khí sản xuất
khuôn mẫu (hàng đã qua s
dụng)
8460901000
1
4
05
Máy tiện chiều cao trên
300 mm, sử dụng trong
ngành khí sản xuất
khuôn mẫu (hàng đã qua s
dụng)
8458990090
1
06
Máy tia lửa điện CNC EDM
(máy phóng điện), sử dụng
trong ngành khí sản
xuất khuôn mẫu (hàng đã
qua sử dụng)
8479893000
1
07
Máy khoan CNC bao gồm
két đựng dầu, sửdụng trong
ngành khí sản xuất
khuôn mẫu (không dầu)
(hàng đã qua sử dụng)
8459210000
1
08
Máy quấn dây điện tử (hàng
mới 100%)
8479811000
1
09
Máy hàn điểm (hàng mới
100%)
8515199000
1
10
Máy ép (hàng mới 100%)
8462101000
1
11
Máy bơm chất MGO (hàng
mới 100%)
8413821000
2
12
nhiệt làm dẻo kim loại
(hàng mới 100%)
8417100000
1
13
điện đsấy khô sản phẩm
(hàng mới 100%)
8514309000
1
14
Máy kiểm tra ngắn vạch
(hàng mới 100%)
9031809200
1
15
Máy uốn mặt phẳng (hàng
mới 100%)
8462291000
1
16
Máy uốn 10 ron (hàng mới
100%)
8462291000
1
5
17
Máy uốn dạng tròn (hàng
mới 100%)
8462291000
1
18
Máy cuộn (hàng mới 100%)
8479811000
1
19
Máy tiện chiều cao trên
300mm (hàng mới 100%)
8458990090
2
20
Máy tiện chiều cao trên
300mm (hàng mới 100%)
8458990090
2
21
Máy làm thẳng (hàng mới
100%)
8462291000
1
22
Máy ép thủy lực (hàng mới
100%)
8462910000
1
23
Máy ép thủy lực (hàng mới
100%)
8462910000
1
24
Máy nén khí trong công
nghiệp có công suất trên 21
kw (hàng mới 100%)
8414804290
2
25
Máy làm khô (hàng mới
100%)
8514309000
1
26
Máy đánh bóng (hàng mới
100%)
8460901000
1
27
Máy nén trong công nghiệp
có công suất trên 21 kw
(hàng mới 100%)
8414804290
1
28
Máy kiểm tra đ nén (hàng
mới 100%)
9028109000
2
29
Đồng hồ đo điện (hàng mới
100%)
9028309000
2
30
Thiết bị kiểm tra độ cách
điện (hàng mới 100%)
9030899000
1
31
Thiết bị kiểm tra thông s
(hàng mới 100%)
9030899000
1
6
32
Đồng hồ đo dòng điện
(hàng mới 100%)
9030331000
1
33
Máy in mã lên sản phẩm
(hàng mới 100%)
8443329000
1
34
Máy bơm chất MGO (hàng
mới 100%)
8413821000
2
35
Máy cuộn (hàng mới
100%)
8479811000
2
36
Máy bơm chất MGO (hàng
mới 100%)
8413821000
2
37
Máy hàng đồng điểm (hàng
mới 100%)
8515199000
1
38
Máy hàng điểm (hàng mới
100%)
8515199000
1
39
Máy ép (hàng mới 100%)
8462101000
4
40
Lò ủ làm dẻo kim loại
(hàng mới 100%)
8417100000
1
41
Máy tiện 2 đầu (hàng mới
100%)
8458990090
1
42
Máy nén trong công nghiệp
công suất trên 21 kw (hàng
mới 100%)
8414804290
2
43
Máy phát điện động cơ
diesel 400V, 50HZ, 34.8
KW (hàng mới 100%)
8502110000
1
44
Máy khoan (hàng mới
100%)
8459291000
2
TỔNG
59
* Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH L - bà Y trình bày:
Thống nhất trình bày của nguyên đơn về việc ngày 31/5/2022 nguyên đơn
bị đơn kết hợp đồng chuyển nhượng (v/v: chuyển nhượng tài sản gắn
7
liền với đất và quyền thuê lại đất với thời hạn còn lại). Sau đó, hai bên tiếp tục
Hợp đồng chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất ngày 02/11/2022 Thỏa thuận
ba bên ngày 01/10/2022. Bị đơn thống nhất nội dung các hợp đồng trên.
Công ty L cho biết đã thanh toán tổng cộng 13.980.000.000 đồng cho Công
ty A. Số tiền còn lại 1.398.000.000 đồng10% thuế giá trị gia tăng (VAT). Việc
chưa thanh toán khoản thuế VAT này tại thời điểm công chứng hợp đồng
chuyển nhượng ngày 02/11/2022, Công ty A không phối hợp để thực hiện thủ tục
sang tên, không tiến hành quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp và cũng không
cung cấp giấy phép công trình theo yêu cầu. Đến ngày 04/4/2024, Công ty A mới
hoàn thành nghĩa vụ thuế, nên đến ngày 02/5/2024, Công ty L mới hoàn tất được
thủ tục sang tên theo quy định.
Công ty L đã mời Công ty A đến làm việc để thỏa thuận khấu trừ các chi
phí phát sinh mà Công ty L phải chi trả, bao gồm:
Tiền điện không sử dụng nhưng vẫn phải thanh toán: 1.891.210 đồng;
Tiền phạt do chậm đăng ký biến động: 4.000.000 đồng;
Phí công chứng: 2.500.000 đồng
Tiền trích lục giấy phép đầu tư của Công ty A: 320.000 đồng;
Phí gửi thư chứng từ: 182.000 đồng;
Phí thuê luật sư của Công ty A: 11.610.000 đồng;
Và một số chi phí khác, tổng cộng 111.635.811 đồng.
Tuy nhiên, quá trình tố tụng tại phiên tòa, bđơn không có yêu cầu phản
tố đối với các khoản chi phí này và đồng ý thanh toán số tiền 1.398.000.000 đồng
còn nợ cho nguyên đơn.
Đối vi s tài sn trên thửa đất mà nguyên đơn yêu cầu b đơn hoàn trả: B
đơn - Công ty L trình bày rằng, đối vi nhng tài sn thuc quyn s hu ca
nguyên đơn, nguyên đơn đã t đến di di khi thửa đất. Nay nguyên đơn cho rằng
nguyên đơn chưa di dời các tài sn trên khi thửa đất đã chuyển nhượng cho b
đơn: Bị đơn cho rằng mình không có trách nhim, do b đơn không được ký nhn
các tài sản trên, không được giao nhim v quản lý và cũng không lưu giữ bt k
tài sn nào của nguyên đơn. Khi nhận đất b đơn không nhn các tài sn trên ca
nguyên đơn, bị đơn chỉ nhận đất, nhà văn phòng nhà xưởng. Vì vy, b đơn
không chp nhn yêu cu của nguyên đơn v vic buc b đơn phải hoàn tr các
tài sn nêu trên.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Liên doanh TNHH K
trình bày: Tranh chấp giữa nguyên đơn bị đơn không liên quan đến quyền
nghĩa vụ của Công ty. Do đó, Công ty không có yêu cầu gì đối với vụ án trên và
yêu cầu được giải quyết vắng mặt.
8
Tại Bản án số 44/2025/KDTM-ST ngày 18/11/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH
A đối với bị đơn Công ty TNHH L về việc tranh chấp hợp đồng chuyển quyền
thuê quyền sử dụng đất và đòi tài sản.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn Công ty TNHH L tự nguyện trả lại cho
Công ty TNHH A s tiền còn nợ 1.398.000.000 đồng (một tỷ, ba trăm chín mươi
tám triệu đồng).
Kể tngày đơn u cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cảc khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A về việc buộc
Công ty TNHH L trả lại 59 tài sản.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu
cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 03/12/2025, nguyên đơn Công ty TNHH A đơn kháng cáo một
phần Bản án thẩm s44/2025/KDTM-ST ngày 18/11/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa
một phần bản án thẩm: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
đòi tài sản.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện yêu cầu kháng cáo. Đại diện bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án thẩm.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về phần đòi lại tài sản 59
máy móc, thiết bị phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ ván đã được
thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của
Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn thực hiện trong thời hạn luật định, đã
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
9
[1.2] Về sự mặt của các đương s: người đại diện hợp pháp của người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ng ty Liên doanh TNHH K văn bản đề nghị
giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng
mặt đại diện Công ty Liên doanh TNHH K.
[1.3] Về việc cử người phiên dịch: Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn
đề nghị Tòa án công nhận bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm người phiên dịch cho đại
diện bị đơn. Xét thấy, đại diện hợp pháp của bị đơn Y người quốc tịch
Trung Quốc (Đài Loan), do đó việc Y tham gia tố tụng và đề ngh Tòa án chấp
nhận cho Diễm làm người phiên dịch tiếng Trung Quốc cho Y phù hợp
với quy định tại Điều 80 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại cấp sơ thẩm, Tòa án cấp
thẩm đã không cử người phiên dịch cho Y cho rằng Y mặc Quốc
tịch Trung Quốc nhưng đã bản cam kết về việc Y đọc được, nghe được tiếng
Việt. Tuy nhiên, bản cam kết chỉ được đánh máy bằng tiếng Việt, không bản
bằng tiếng Trung Quốc nên không đảm bảo quyền của đương sự về việc sử dụng
tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình khi tham gia tố tụng. Tại cấp phúc thẩm,
thông qua người phiên dịch Y đại diện cho bị đơn đã xác định lại các nội dung
trình bày như cấp sơ thẩm đã ghi nhận và xác định các lời trình bày của bà tại cấp
sơ thẩm là đúng ý chí của bị đơn. Như vậy, mặc dù có thiếu sót về việc không cử
người phiên dịch tham gia tố tụng nhưng vấn đề này đã được khắc phục tại cấp
phúc thẩm việc Tòa án cấp sơ thẩm không cử người phiên dịch không làm thay
đổi bản chất nội dung vụ án, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên đương sự nên chỉ cần rút kinh nghiệm đối với cấp thẩm về thiếu
sót này, không cần phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại.
[1.4] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: nguyên đơn kháng cáo một phần bản
án sơ thẩm về đòi tài sản, về phần tranh chấp hợp đồng chuyển quyền thuê quyền
sử dụng đất các đương sự không kháng cáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị nên
đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, căn
cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem t đối với kháng
cáo về phần yêu cầu đòi tài sản.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lại cho
nguyên đơn 59 máy móc, thiết bị mà nguyên đơn đã để lại nhà xưởng của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xác định đã nhận lại 01 máy khoan trong
tổng số 59 máy móc, thiết bị, còn 58 máy móc, thiết b nguyên đơn chưa nhận lại.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[3.1] Theo trình bày của nguyên đơn và chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện
các Tờ khai điện tử số 1195 ngày 28/9/2011, Tờ khai điện tử s1340 ngày
10/10/2011 các Phụ lục Tờ khai Hải quan điện tđính kèm thể hiện nguyên
đơn đã nhập khẩu số máy móc, thiết bị từ nước ngoài về Việt Nam. Nguyên đơn
cho rằng smáy móc thiết bị này, nguyên đơn để tại xưởng đã chuyển nhượng
quyền thuê lại cho bị đơn, do đó bị đơn phải trách nhiệm hoàn trả lại cho
10
nguyên đơn. Ngoài lời trình bày của nguyên đơn các tài liệu chứng minh về
việc nguyên đơn nhập các máy móc thiết bị thì nguyên đơn còn nộp các tài liệu
liên quan đến các tin nhắn giữa đại diện của nguyên đơn bị đơn trong đó có th
hiện nội dung trao đổi giữa đại diện nguyên đơn và bị đơn về việc yêu cầu di dời
tài sản đi khỏi nhà xưởng nguyên đơn đã chuyển nhượng quyền thuê lại cho bị
đơn. Tuy nhiên, nội dung trao đổi giữa hai bên không thể hiện các máy móc, thiết
bị gì, số lượng bao nhiêu. Nguyên đơn cũng không cung cấp được biên bản bàn
giao các máy móc, thiết bị giữa nguyên đơn bị đơn vào thời gian nào, ai
người giao, ai người nhận, đồng thời không cung cấp được chứng cứ chứng
minh các máy móc, thiết bị này đã được lưu giữ tại kho, nhà xưởng của bị đơn.
Thời điểm nguyên đơn giao nhà xưởng, tài sản thuê lại cho bị đơn thì hai bên cũng
không lập biên bản giao nhận số tài sản này. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện b
đơn không thừa nhận đã nhận số tài sản, máy móc, thiết bị của nguyên đơn.
[3.2] Theo nội dung biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/8/2025 thể
hiện trong nhà xưởng của bị đơn còn một số tài sản của nguyên đơn gồm: 04 máy
lạnh, 04 tủ gỗ, 05 cục nóng máy lạnh, 01 máy biến áp, 01 máy giặt, 01 máy khoan.
Ngoài ra, không còn tài sản nào khác. Tại phiên tòa thẩm tại cấp phúc thẩm,
đại diện nguyên đơn đại diện bđơn đều thống nhất rằng sau khi Tòa án xem
xét thẩm định tại chỗ, nguyên đơn đã di chuyển các tài sản được ghi nhận trong
biên bản thẩm định tại chỗ nêu trên ra khỏi nhà xưởng của bị đơn (trong đó
máy khoan là một trong 59 máy móc, thiết bị). Như vậy, hiện nay không còn tài
sản nào của nguyên đơn còn để lại tại quyền sử dụng đất nhà xưởng của bị đơn.
Do đó, a án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
về việc đòi tài sản phù hợp.
[4] Từ những phân tích trên, xét thấy nguyên đơn kháng cáo nhưng không
cung cấp được thêm chứng cứ nào mới để chứng minh nên Hội đồng xét xử phúc
thẩm không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
[5] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[6] Về án phí phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tng dân sự năm
2015, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
11
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH A,
giữ nguyên một phần bản án thẩm số 44/2025/KDTM-ST ngày 18/11/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: Không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A về việc buộc Công ty TNHH L trả lại 59
tài sản là các máy móc, thiết bị.
2. Về án phí phúc thẩm: Công ty TNHH A phải chịu 2.000.000 đồng được
khấu trừ 2.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ pTòa án số 0049529 ngày 15/12/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ
Chí Minh.
3. Các phần khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã
phát sinh hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (07/4/2026)./.
Nơi nhận:
- VKSND TP HCM;
- TAND khu vực 16, TP HCM;
- Phòng THADS khu vực 16, TP HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Tổ HCTP, Tòa DS, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Ngọc Mai
Tải về
Bản án số 142/2026/KDTM-PT Bản án số 142/2026/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 142/2026/KDTM-PT Bản án số 142/2026/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất