Bản án số 12/2026/DS-PT ngày 27/03/2026 của TAND tỉnh Điện Biên về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 12/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 12/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 12/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 12/2026/DS-PT ngày 27/03/2026 của TAND tỉnh Điện Biên về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Điện Biên |
| Số hiệu: | 12/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Lò Phóng M tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Thàn Chử M |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 12/2026/DS-PT
Ngày: 27/3/2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Phạm Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán: bà Hoàng Thị Hòa
Ông Nguyễn Tiến Hưng
-Thư ký phiên toà: bà Phan Thị Thuỳ Dung - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà:
ông Nguyễn Khánh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử
phúc thẩm công khai vụ án số: 04/2025/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2025 về
việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2026/QĐ-PT ngày 30 tháng 01
năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2026/QĐ-PT ngày 27/02/2026;
Giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Lò Phóng M, sinh năm: 1971; địa chỉ: bản H, xã M, tỉnh
Điện Biên.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: bà Nguyễn Thị
Kim N, Luật sư Công ty Luật TNHH Ngôi Sao Vàng - địa chỉ: số nhà 15, tổ dân
phố 4, phường M, tỉnh Điện Biên.
2. Bị đơn: bà Thàn Chử M, sinh năm: 1977; địa chỉ: Bản H, xã M, tỉnh Điện
Biên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Hoàng Guàn M; địa chỉ: thôn T, xã S, tỉnh Điện Biên.
3.2. Ông Thàn Quáng S và bà Hoàng Quản Đ; địa chỉ: bản H, xã M, tỉnh
Điện Biên.
3.3. Bà Sần Cù S; địa chỉ: bản H, xã M, tỉnh Điện Biên.
3.4. Bà Sần Cù D; địa chỉ: bản H, xã M, tỉnh Điện Biên.
2
3.5. Chị Lò Hòa C, sinh năm 1990; địa chỉ: thôn T, xã S, tỉnh Điện Biên.
3.6. Chị Lò Den S, sinh năm 1996; địa chỉ: số 322, Đàm Quan C, Duyên H,
phường L, tỉnh Lào Cai.
4. Người phiên dịch: chị Lò Thiền P, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Tổ 21,
phường Đ, tỉnh Điện Biên.
5. Người kháng cáo: Bà Thàn Chử M là Bị đơn trong vụ án.
(Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt: bà N, bà M, chị P; bà Lò Phóng M và các
ông/bà Hoàng Guàn M, Hoàng Quản Đ, Sần Cù D, Sần Cù S, Lò Hòa C, Lò Den
S vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện ngày 12/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ
án tại Toà án cấp sơ thẩm, nguyên đơn bà Lò Phóng M trình bày:
Vào năm 1994, vợ chồng ông bà Sần Chở M - Lò Phóng M có mua một mảnh
nương khoảng 1 ha của ông bà Lò Xoáng T, bà Sần Cù D tại khu vực bản M, thuộc
bản H, xã H (nay thuộc xã M) với giá 450.000 đồng, lúc mua bán hai bên không làm
giấy tờ mua bán với nhau và cũng không có người làm chứng, vì là anh em họ hàng
với nhau. Ông T và bà D đã nhận đủ số tiền 450.000 đồng tiền mặt và bàn giao ranh
giới thửa đất cho ông bà M - M. Vị trí thửa đất: một bên giáp đất nương của ông Lò
Seo K, một bên giáp đất nương Sần Phù M và Lò Chở P , một bên giáp đất nương
Hoàng Oàng M, một bên giáp đất rừng. Sau khi mua đất nương, ông bà M - M thự
hiện canh tác liên tục ổn định không xảy ra tranh chấp với ai.
Năm 2000, ông bà M - M tiếp tục mua thửa đất nương của Hoàng Oàng M liền
kề với thửa đất đã mua, diện tích khoảng 1 ha với giá 700.000 đồng. Lúc mua bán
hai bên không làm giấy tờ mua bán với nhau và không có ai làm chứng, ông Hoàng
Oàng M đã nhận đủ số tiền 700.000 đồng, tiền mặt và đến thửa đất để chỉ ranh giới
cho vợ chồng bà M1. Vị trí thửa đất: một bên thửa đất giáp thửa đất của ông bà M -
M, một bên giáp đất nương của ông Sần Sẻng M, một bên giáp đất của ông Lò Chở
P , một bên giáp đất rừng.
Sau khi mua đất nương của ông Hoàng Oàng M, ông bà M - M đã nhập thửa
đất mua của ông bà T - Dvà thửa đất của ông M thành một thửa có diện tích khoảng
2 ha và canh tác liên tục, ổn định không xảy ra tranh chấp với ai.
Năm 2002 - 2003 ông Sần Chở M ốm phải đi viện điều trị, bà M1 phải đi chăm
sóc ông M nên không đi làm nương được. Năm 2004, bà M1 đến nương để tiếp tục
canh tác thì thấy bà Thàn Chử M vào phát làm nương ở một góc khoảng 600 m
2
giáp
đất ông Lò Chở P . Bà M1 không cho bà M2 làm, hai bên xảy ra tranh chấp, lúc đó
bố của bà M2 là ông Thàn Quáng S làm trưởng bản có đến hòa giải và cho bà Chử
Mẩy tiếp tục canh tác, bà M1 không nhất trí nhưng bà M2 cứ cố tình canh tác trên
đất tranh chấp; Mỗi năm, bà M2 lại lấn chiếm vào đất nương của nhà bà M1 một ít,
hai bên xảy ra tranh chấp từ đó đến nay; UBND xã H đã hoà giải nhưng hai bên
không thỏa thuận được với nhau. Bà M1 đã phải dùng hàng rào đá rào tạm để bà M2
3
không lấn chiếm được vào phần đất của gia đình, chờ cơ quan có thẩm quyền giải
quyết. Diện tích đất bà M2 chiếm giữ có diện tích 2.071,1 m
2
, một bên giáp đất của
ông Lò Chở P , một bên giáp đất rừng, 02 bên giáp đất nương của bà M1.
Bà Lò Phóng M yêu cầu Tòa án buộc bà Thàn Chử M trả lại diện tích đất đang
chiếm giữ cho bà M1.
2. Tại văn bản trình bày ý kiến và trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp
sơ thẩm, bị đơn bà Thàn Chử M trình bày:
Nguồn gốc đất đang tranh chấp là đất của ông Thàn Quáng S và bà Hoàng
Quản Đ (là bố mẹ của bà M2) khai hoang, canh tác. Năm 2000, bà M2 chuyển từ
bản Ngã Ba, xã Mường Tong, huyện Mường Nhé về sinh sống tại bản H và được
bố mẹ cho đất nương để canh tác. Từ năm 2000 đến năm 2003, bà M2 canh tác
không tranh chấp với ai, đến năm 2004 bà Lò Phóng M vào tranh chấp thửa đất
với bà, trong số diện tích đất 2.071,1 m
2
đất hai bên đang tranh chấp thì bà M2 đã
được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 417,6 m
2
.
Đối với diện tích còn lại 1.653,5 m
2
bà M2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Bà M2 không đồng ý đất bà M2 đang sử dụng là của bà M1 và không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà M1.
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
3.1. Ý kiến của ông Hoàng Oàng M: Ông M sinh ra và lớn lên tại bản H, cho
đến năm 1995 thì chuyển về sinh sống tại thôn T, xã S. Vì thời gian đã lâu nên
ông M không còn nhớ diện tích đất nương mà bà M1 và bà M2 đang tranh chấp
trước đây là đất của ai. Ông M có được bán đất nương, bán nhà tại khu vực bản H
cho vợ chồng bà Lò Phóng M nhưng diện tích đất đang tranh chấp không phải là
đất ông M bán cho bà M1. Trong giấy xác nhận 02/7/2025 có ghi diện tích đất
đang tranh chấp trước đây là đất của ông Thàn Quáng S, do ông M không biết
chữ, người khác đọc cho ông nghe nên ông ký tên (điểm chỉ) vào giấy. Trong thời
gian ông sinh sống tại bản H, vợ chồng ông Thàn Quáng S không có đất nương
tại khu vực đất đang tranh chấp giữa bà M1 và bà M2, nhưng diện tích đang tranh
chấp trước đây do ai canh tác thì ông không còn nhớ.
3.2. Ý kiến của ông Thàn Quáng S và bà Hoàng Quản Đ: Ông bà là bố mẹ
đẻ của bà Thàn Chử M, diện tích đất hai bên đang tranh chấp là đất của ông bà
canh tác từ năm 1980 cho đến năm 2000 ông bà cho con gái là Thàn Chử M nên
thuộc quyền quản lý, sở hữu, sử dụng của bà M2, ông Sàng, bà Đeu không có yêu
cầu gì.
3.3. Ý kiến chị Sần Cù S: Diện tích đất bà Thàn Chử M tranh chấp với bà Lò
Phóng M tại khu vực M, thuộc bản H là đất của bố mẹ chị mua của ông Lò Xoàng
Thồng; bố chị tên là Sần Chở M hiện đã chết nên diện tích đất này thuộc quyền
sở hữu, quản lý, sử dụng của mẹ chị là bà Lò Phóng M, chị không có yêu cầu gì
đối với diện tích đất này.
3.4. Ý kiến chị Lò Hòa T và chị Lò Diên S: Diện tích đất hiện giữa bà Lò
Phóng M, bà Thàn Chử M đang xảy ra tranh chấp là đất của ông Lò Xoáng T và

4
bà Sần Cù D (bố mẹ chị T, chị S )bán cho vợ chồng bà Lò Phóng M, ông bà T D
đã nhận đủ số tiền của bà M1 như hai bên đã thỏa thuận mua bán với nhau, nay
diện tích đất đó thuộc quyền quản lý, sở hữu, sử dụng của bà Lò Phóng M, đối với
diện tích đất này hiện không liên quan gì đến các chị, các chị không có ý kiến gì,
không có yêu cầu gì.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/5/2025 và Sơ đồ thửa
đất tranh chấp, xác định: diện tích đất tranh chấp là 2.071,1 m
2
trong đó bà M2
đã được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 417,6
m
2
, diện tích còn lại là 1.653,5 m
2
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Sau khi Tòa án cùng với các cơ quan chuyên môn đến xem xét thẩm định tại
chỗ, bà Lò Phóng M biết 417,6 m
2
đã được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho bà Thàn Chử M. Bà M1 cho rằng việc UBND huyện M cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Thàn Chử M là sai. Tuy nhiên bà M1
không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này mà xin rút một phần yêu cầu khởi
kiện đối với tích đất 417,6 m
2
bà Thàn Chử M đã được UBND huyện M cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà M1 nhất trí với kết quả xác định vị trí, đo đạc đối
với diện tích đất hai bên đang tranh chấp của Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ và
đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4 – Điện Biên giải quyết buộc bà Thàn Chử M trả
lại diện tích đất nương 1.653,5 m
2
hiện đang chiếm giữ cho bà Lò Phóng M.
Bà M2 nhất trí với việc thẩm định tại chỗ và vẽ sơ đồ đúng hiện trạng đất bà
M2 đang sử dụng, bà M2 nhất trí với kết quả xác định vị trí, đo đạc của Hội đồng
xem xét thẩm định tại chỗ. Bà M2 không đồng ý đất bà M2 đang sử dụng là của
bà M1 và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện buộc bà phải trả diện tích đất đang
tranh chấp cho bà M1.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên quyết định:
Căn cứ:
- Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các
Điều 70; 71; 72 các Điều 147; 157; 228; 229, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 4; 10; 11; Điều 14; Điều 100; 101; 125; 126; 129; 131; 166; 170;
179; điểm b khoản 2 Điều 203; 210 Luật đất đai 2013; khoản 47 Điều 3; Điều 27;
Điều 235; 236 Luật đất đai năm 2024.
- Các Điều 160; 189; 197; 198; 213; 688 của Bộ luật dân sự;
- Điều 20, 21 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
- Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 Nghị định sửa đổi, bổ sung một
số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai.
- Nghị định số: 102/2024, ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật đất đai năm 2024

5
- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lò Phóng M.
- Buộc bị đơn bà Thàn Chử M trả cho nguyên đơn bà Lò Phóng M diện tích đất
1653,5 m
2
tại hệ tọa độ VN 2000, Kinh tuyến trục 103
0
00
’’
, Múi chiếu 3
0
thuộc lô
62, khoảng 4, tiểu khu 468, tại khu vực M, thuộc bản H, xã H, (nay xã M), tỉnh Điện
Biên. (Sơ đồ đất kèm theo).
Diện tích 145,1m
2
có vị trí tiếp giáp phía bắc, phía tây giáp đất nương của Lò
Phóng M (là nguyên đơn) và bà Thàn Chử M (là bị đơn); phía đông giáp đất Lò
Phóng M; phía nam giáp đất Lò Chờ P.
Diện tích 1.508,4m2 có các cạnh tiếp giáp: Phía nam, phía đông giáp đất
nương của ông Lò Chở P ; phía tây giáp đất Thàn Chử M; phía bắc giáp đất Lò
Phóng M.
Tổng diện tích là 1.653,5 m
2
.
Tạm giao 1.653,5 m
2
diện tích đất trên cho bà Lò Phóng M tiếp tục sử dụng; Bà
Lò Phóng M được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai thực
hiện các thủ tục liên quan đến quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã rút đối với diện tích
417,6 m
2
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Thàn Chử M đối
với thửa đất số: 201, tờ bản đồ số: 5 diện tích đất 417,6 m
2
cấp GCNQSDĐ vào ngày
26/4/2024 số vào sổ cấp GCN: CH00069.
2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bị đơn bà Thàn Chử M phải chịu
8.000.000 đồng (tám triệu đồng) tiền xem xét thẩm định tại chỗ. Bà Thàn Chừ
Mẩy đã nộp 4.000.000 đồng. Buộc bà Thàn Chử M trả lại cho bà Lò Phóng M
4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền đề nghị thi
hành án của các đương sự.
Ngày 10/10/2025, bị đơn bà Thàn Chử M nộp kháng cáo đối với Bản án dân
sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của TAND khu vực 4 - Điện Biên.
Bà M2 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số:
01/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của TAND khu vực 4 - Điện Biên.
Trong giai đoạn Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên thụ lý và giải quyết
theo thủ tục phúc thẩm: Bà M2 nhiều lần gửi văn bản trình bày ý kiến về việc
Toà án cấp sơ thẩm thu thập tài liệu và đánh giá chứng cứ không khách quan,
không tìm hiểu nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất với những người dân sinh
sống lâu năm tại bản H; bà M2 cung cấp thông tin bà Sần Cù D vẫn còn sống, cư
trú tại bản H, xã M, tỉnh Điện Biên.
6
Sau khi Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xác minh có đủ cơ sở xác định là bà
Sần Cù D hiện vẫn còn sống; Bà Sần Cù D đã có bản tường trình gửi cho Tòa án
cấp phúc thẩm vào ngày 22/01/2026.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M2 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do:
Toàn bộ diện tích đất mà Mể khởi kiện và tranh chấp với bà Thàn Chử M là
đất của ông bà Sàng - Đeu (bố mẹ bà M2) cho và là diện tích đất gia đình bà M2
phát cây dại, mở rộng diện tích trồng ngô về phía Tây để thực hiện gieo trồng vào
các ô đất xen kẽ các mỏm đá. Diện tích đất gia đình bà M2 khai hoang có vị trí
tiếp giáp phía Bắc giáp bãi đá hoang, phía Nam giáp rừng, phía Đông giáp đất
diện tích bố mẹ bà M2 cho, phía Tây giáp với đất của ông Hoàng Oàng M (sau
này bán cho bà Lò Phóng M). Việc gia đình bà M2 khai hoang mở rộng diện tích
đất canh tác thì không tranh chấp với ai. Quá trình sử dụng đất nương được bố mẹ
cho và diện tích đất khai hoang thêm thì gia đình bà M2 đều trồng ngô 1 năm 1
vụ liên tục từ năm 2000 đến nay, gia đình bà Lò Phóng M chưa canh tác vụ ngô
nào và cũng chưa bao giờ khởi kiện bà M2 ra toà trong suốt 25 năm qua.
Mảnh nương được ông bà S - Đ cho thì bà M2 chưa làm thủ tục cấp Giấy
chứng nhận quyèn sử dụng đất (GCNQSDĐ), quá trình sử dụng không có tranh
chấp với gia đình nào. Còn mảnh nương gia đình bà M2 khai hoang thì đã được
UBND huyện cấp GCNQSDĐ, chính là thửa số 201; Sở dĩ diện tích trong
GCNQSDĐ chỉ ghi là 442,6m
2
vì cán bộ trong quá trình đo đạc cấp GCNQSDĐ
không đo hết phần diện tích đất có các mỏm đá ở xung quanh thửa đất gia đình bà
M2 khai hoang và sử dụng. Thực tế, diện tích đất nhà bà M2 đang canh tác sử
dụng là 754,7m
2
được quy hoạch là đất rừng sản xuất như diện tích gia đình bàn
giao tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ và thể hiện trong sơ đồ trích lục.
Bà Thàn Chử M khẳng định Toà án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng
cứ, hiện nay bà D vẫn còn sống và mới chuyển từ bản H về thôn T, xã S, tỉnh Điện
Biên sống cùng con gái. Văn bản trình bày ý kiến của ông M, chị C, chị S là do bà
M1 cung cấp nhưng Toà án không xác minh, kiểm chứng; những người già làng
biết rõ nguồn gốc đất được bà M2 chỉ tên nhưng Toà án không xác minh, tìm hiểu.
Năm 2019, chồng bà M2 là ông Ngải Hai S chết; Sau khi ông S chết thì gia
đình chưa họp và cũng chưa phân chia các tài sản đó trên thực tế. Bà M2 và ông S
có 04 con, con gái cả là Ngải Sín S (sinh năm 1996) và 03 con trai gồm: Ngải Sín
T (sinh năm 2003), Ngải Sín H (sinh năm 2005) và Ngải Khúi S (sinh năm 2011).
Hiện nay bà M2 cùng 02 con trai là Ngải Sín T, Ngải Sín H cùng canh tác trên diện
tích đất nêu trên nhưng khi giải quyết tranh chấp, Toà án không hỏi ý kiến các con
của bà M2.
Việc Toà án giao toàn bộ phần đất xung quanh của thửa số 201 cho bà M1
thì bà M2 không có đường vào canh tác đối với 442,6m
2
, việc Toà án sơ thẩm
giao 1.653,5 m
2
đất nương cho bà M1 sử dụng là không phù hợp với quá trình sử
dụng đất và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bà M2.
7
Tại bản luận cứ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lò Phóng
M trình bày: Vì bà Sần Cù D còn sống, chưa được tham gia tố tụng, việc các con
của bà Lò Phóng M, bà Thàn Chử M chưa được tham gia tố tụng, trình bày ý kiến
đã ảnh hưởng đến việc đánh giá tài liệu chứng cứ; Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm
giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Điện Biên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc
thẩm, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và những người tiến hành tố tụng, người tham
gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ
thẩm không xác minh và không đưa những người con của ông Ngải Hai Sấn và
bà Thàn Chử M vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan vào tham gia tố tụng là là vi phạm khoản 6 Điều 68 BLTTDS. Tòa án
sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, xác định người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là bà Sần Cù D đã chết nhưng thực tế thì bà Sần Cù D vẫn đang
sống là làm mất quyền tham gia tố tụng của bà Dín. Tòa án cấp sơ thẩm cử anh Sỉ
Tể L (con rể bà Lò Phóng M) làm người phiên dịch cho bà Lò Phóng M, đồng
thời cử anh Ngải Sín T (con đẻ bà Thàn Chử M) làm người phiên dịch cho bà
Thàn Chử M là vi phạm điểm a khoản 2 Điều 82 BLTTDS, dẫn đến không đảm
bảo tính khách quan trong quá trình phiên dịch. Tòa án sơ thẩm chưa tống đạt đầy
đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự, vi phạm Điều 171, khoản 5 Điều 177
BLTTDS và còn các lỗi tố tụng khác. Với những vi phạm nghiêm trọng đã nêu
trên đây, căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 BLTTDS, đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày
26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên và chuyển hồ sơ vụ án cho
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Bị đơn Thàn Chử M
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
1.1. Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo Tòa án
cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử
dụng đất” thuộc thẩm giải quyết của Tòa án khu vực theo khoản 9 Điều 26, điểm
a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự để thụ lý và
giải quyết là đúng thẩm quyền.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Thàn Chử M gửi đơn kháng cáo và đơn xin miễn
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định, nội dung kháng cáo và
quyền kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên đơn kháng cáo hợp lệ,
đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 và 276 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do
đó, Toà án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án và xem xét nội dung kháng cáo của bà
Thàn Chử M.
8
1.2. Trong giai đoạn giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã
thu thập được Căn cước công dân của chị Lò Hòa C, Lò Den S nên thực hiện điều
chỉnh các thông tin cá nhân về tên gọi, nơi cư trú của những người này.
1.3. Tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt bà M1, ông M, bà Ch, bà S (có văn
bản xin xét xử vắng mặt); Các ông/bà Thàn Quáng S, Hoàng Quản Đ, bà Sần Cù
S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do; Căn
cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 296/BLTTDS, Hội đồng xét xử phúc thẩm
quyết định tiếp tục xét xử vắng mặt họ.
1.4. Vì có căn cứ khẳng định bà Sần Cù D còn sống nên Hội đồng xét xử
phúc thẩm đã triệu tập bà D đến phiên tòa phúc thẩm theo quy định tại khoản 7,
khoản 17 Điều 70/BLTTDS, tuy nhiên bà D không đến phiên toà nên Hội đồng
xét xử phúc thẩm không hỏi và làm rõ được về diện tích đất vợ chồng bà D chuyển
nhượng cho gia đình bà Lò Phóng M.
[2] Xét nội dung kháng cáo: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ
vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa phúc thẩm thấy
rằng:
2.1. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cử anh Sỉ Tể L
(con rể bà Lò Phóng M) làm người phiên dịch cho bà Lò Phóng M, đồng thời cử
anh Ngải Sín T (con đẻ bà Thàn Chử M) làm người phiên dịch cho bà Thàn Chử
M là vi phạm điểm a khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 52/ BLTTDS.
2.2. Bà Sần Cù D là người bán đất cho bà Lò Phóng M hiện còn sống nhưng
Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của bà M1, không đi xác minh mà xác
định bà Sần Cù D đã chết là làm mất quyền tham gia tố tụng của bà D.
2.3. Theo bà M2 khai, từ năm 2000-2019, ông Ngải Hai S và các con của bà
M2 cùng canh tác, sử dụng trên diện tích đất bà M2 đang tranh chấp; năm 2019
ông S chết nhưng gia đình cũng chưa phân chia di sản thừa kế, hiện bà M2 và 02
con trai là Ngải Sín T (sinh năm 2003) và Ngải Sín H (sinh năm 2005) đang canh
tác, sử dụng.
Theo chị chị Sần Cù S thì diện tích đất bà Thàn Chử M đang tranh chấp với
bà M1 tại khu vực M, thuộc bản H là đất của bố mẹ chị mua của ông Lò Xoàng
T; bố chị tên là Sần Chở M hiện đã chết.
Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh, không hỏi rõ và đưa những người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của ông M, ông S vào tham gia tố tụng là xác định thiếu
người tham gia tố tụng.
2.4. Tòa án cấp sơ thẩm chưa tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các
đương sự, vi phạm Điều 171, khoản 5 Điều 177 BLTTDS.
2.5. Tòa án cấp sơ thẩm chưa tiến hành xác minh, thẩm định tính hợp pháp
của văn bản trình bày ý kiến của chị Lò Hòa C, Lò Den S và các tài liệu chứng cứ
do nguyên đơn xuất trình dẫn đến việc xác định tư cách của người tham gia tố
tụng, trích thông tin cá nhân và địa chỉ cư trú của những người này thiếu chính
9
xác; Bên cạnh đó Toà án buộc bà M2 phải nộp tạm ứng chi phí tố tụng là không
đúng quy định.
2.6. Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện việc đối chiếu, so sánh các tài liệu
thu thập trong hồ sơ, chỉ căn cứ vào lời khai của nguyên đơn để làm căn cứ giải
quyết tranh chấp, không xem xét, đánh giá 442,6m
2
đất trong tổng thể 754,7m
2
theo hiện trạng sử dụng đất mà tuyên xử buộc bị đơn bà Thàn Chử M trả cho nguyên
đơn bà Lò Phóng M diện tích đất 1653,5 m
2
là vi phạm trình tự thu thập, đánh giá
và sử dụng chứng cứ, dẫn đến việc giải quyết không khách quan, không đúng quy
định của pháp luật.
[3] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy
rằng để có căn cứ giải quyết nội dung tranh chấp bảo đảm tính khách quan, toàn
diện, chính xác; bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, cần
phải bổ sung người tham gia tố tụng, thực hiện thu thập, kiểm tra, đánh giá các tài
liệu chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp mà tại phiên toà phúc
thẩm không thể thực hiện bổ sung được.
Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng cáo của bà
Thàn Chử M và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, hủy
toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa
án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
[4] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy,
hồ sơ vụ án được chuyển cho Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên giải quyết
lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm nên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm
sẽ được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm:
Yêu cầu kháng cáo của bà Thàn Chử M được Tòa án cấp phúc thẩm chấp
nhận nên theo quy định tại khoản 1 Điều 148/BLTTDS; khoản 2 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội thì bà M2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310; khoản 3 Điều 148/BLTTDS; điểm c
khoản 1 Điều 24, khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 26/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên; Chuyển hồ sơ vụ án
cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

10
2. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
27/3/2026).
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT II, TAND tối cao;
- TAND Khu vực 4 - Điện Biên;
- VKSND Khu vực 4 - Điện Biên;
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- THADS tỉnh Điện Biên;
- Các đương sự;
- Người BVQLIHP của NĐ;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Phạm Thị Thu Hằng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm