Bản án số 280/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 280/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 280/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 280/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà S và anh S1 thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 280/2026/DS-PT
Ngày: 30-3-2026
V/v “Tranh chấp QSD đất; yêu
cầu di dời công trình, vật kiến
trúc trên đất; tiền bồi thường
thu hồi đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm.
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư phiên tòa: Ông i Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10/02/2026, ngày 10/3/2026 ngày 30/3/2026 tại trụ s
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai ván thụ số:
817/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp QSD đất;
yêu cầu di dời công trình, vật kiến trúc trên đất; tiền bồi thường thu hồi đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 72/2025/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 487/2026/QĐ-PT
ngày 19 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Huỳnh Thị S, sinh năm 1961 (có mặt);
1.2. Thái Minh S1, sinh năm 1982 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn:
2.1. Trần Thị M, sinh năm 1953 (có mặt);
2.2. Đỗ Văn P, sinh năm 1983 (có mặt);
2
2.3. Đỗ Văn H, sinh năm 1988 (có mặt);
2.4. Đỗ Văn T, sinh năm 1990 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
Cùng địa ch: p G, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Đoàn Thị H1, sinh năm 1980 (vắng mặt, đơn xin xét xử vắng
mặt);
3.2. Đỗ Thị Thảo Q, sinh năm 2014;
3.3. Đỗ Thị Thảo N, sinh năm 2016;
3.4. Đỗ Thị Ngọc H2, sinh năm 2021;
Người đại diện theo pháp luật của c cháu Q, N H2 anh Đỗ Văn P
và chị Đoàn Thị Bé H1 (cha mẹ các cháu);
Cùng địa chỉ: Ấp G, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
3.5. Hợp tác xã D1;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh T1 - Chức vụ: Giám
đốc (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa ch: p B, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Sanh Thái Minh S1 trình bày: Nguồn
gốc phần đất tranh chấp tại hai thửa 959 4803 cùng tờ bản đồ số 06 (nay
thửa 558 1315 cùng tờ bản đồ số 9), đất tọa lạc tại P, tỉnh Đồng Tháp do
S chồng ông C khai phá vào năm 1998, do đầu đất S ông C mua
của ông C1 và B là đất trũng thấp nên gia đình S thuê người san lấp
như hiện trạng ngày nay. Vợ chồng S sdụng đất ổn định liên tục tnăm
1998. Sau khi ông C chết hiện nay S giao lại cho anh S1 sử dụng phần đất
tranh chấp. Đối với phần đất tranh chấp cặp lộ 844 gia đình S sử dụng trồng
các cây như tràm, nhào, bạch đàn, chuối, dừa, gòn, xoài, chuồng nuôi heo
hiện nay vẫn còn các cây trồng, phần đất phía sau S anh S1 sử dụng trồng
lúa đến nay phần đất đang tranh chấp vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng (QSD) đất. Hiện nay một phần diện tích đất tranh chấp với diện
tích 199,8m
2
nằm trong dán thu hồi mở rộng Cầu K với số tiền 168.335.600
đồng, tiền bồi thường giao cho Chi cục Thi hành dân sự huyện T, tỉnh Đồng
Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 - Đồng Tháp) đang tạm giữ.
Đến tháng 8/2024 M, anh P, anh H anh T bao chiếm đất để cất nhà
trồng 4 trụ đá, S anh S1 báo chính quyền địa phương sự việc gia đình
bà M bao chiếm đất.
3
Nay anh S1 và bà S yêu cầu:
+ Công nhận QSD đất diện tích 1.241,9m
2
trong đó thuộc một phần thửa
959, tờ bản đồ số 06 (bản đ299) nay một phần thửa 558, tờ bản đồ số 09 có
diện tích 286m
2
một phần thửa 4803, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) nay là một
phần thửa 1315, tờ bản đồ số 09, diện tích 955,9m
2
đất chưa được cấp Giấy
chứng nhận QSD đất, phần đất tọa lạc tại ấp B, P, tỉnh Đồng Tháp cho S
và anh S1.
+ Yêu cầu được nhận số tiền Nhà nước bồi thường mở rộng cầu K thuộc
một phần đất tranh chấp thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) nay là một phần
thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện tích 199,8m
2
với s tiền bồi thường
168.335.600 đồng.
+ Buộc Trần Thị M, anh Đỗ Văn P, anh Đỗ Văn H anh Đỗ Văn T
phải di dời nhà, 04 trụ đá và các tài sản khác trên đất (nếu có) để giao trả đất cho
S anh S1 quản lý và sử dụng. Đối với một đường nước của Hợp tác xã D1
thống nhất để Hợp tác xã sử dụng, không tranh chấp.
Tại phiên tòa thẩm, S anh S1 thay đổi một phần yêu cầu khởi
kiện:
+ Yêu cầu công nhận QSD đất diện tích 1.085,5m
2
trong đó thuộc một
phần thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) bản đồ địa chính chính quy một
phần thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện tích 129,6m
2
và một phần thửa 4803, tờ
bản đồ số 06 (bản đồ 299) bản đồ địa chính chính quy là một phần thửa 1315, tờ
bản đồ số 09, có diện tích 955,9m
2
đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất,
phần đất tọa lạc tại ấp B, xã P, tỉnh Đồng Tháp cho bà S và anh S1.
+ Yêu cầu được nhận số tiền Nhà nước bồi thường mở rộng cầu K thuộc
một phần đất tranh chấp thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) nay là một phần
thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện tích 199,8m
2
với s tiền bồi thường
168.335.600 đồng.
+ Buộc Trần Thị M, anh Đỗ Văn P, anh Đỗ Văn H anh Đỗ Văn T
phải di dời nhà, 04 trụ đá và các tài sản khác trên đất (nếu có) để giao trả đất cho
S anh S1 quản lý và sử dụng. Đối với một đường nước của Hợp tác xã D1
thống nhất để Hợp tác xã sử dụng, không tranh chấp.
Anh S1 S thống nhất với số liệu đo đạc trong đồ của Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai huyện T (nay Chi nhánh Văn phòng Đ - Đồng
Tháp), thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/10/2024
ngày 07/8/2025 Biên bản định giá ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân
huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đồng
Tháp).
4
- Bđơn Trần Thị M trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp vào năm
1962 cụ Đỗ Văn N1 (cha chồng M) khai mở diện tích 3 mẫu (30.000m
2
).
Năm 1973 chính quyền tiếp tục lấy đất của cụ N1 3 công (3.000m
2
) để làm sân
bóng đá phần đất tranh chấp hiện nay, sau đó chính quyền trả đất lại 3
công (3.000m
2
) đất cho cụ N1 trả đất năm nào thì không nhớ. Năm 1984 Nhà
nước lấy đất của cụ N1 cấp cho ông Văn C1 diện tích 12 công, không
phần đất tranh chấp.
Khoảng năm 1986 - 1987 Nhà nước thu hồi của cN1 diện tích 03 công
(3.000m
2
) đất làm sân bóng đá trước đây để làm lộ 844 (nay đường V), còn lại
15 công (15.000m
2
) gia đình cụ N1 sử dụng. Sau khi Nhà nước thu hồi đất làm
đường lộ xong, tra phần đất cặp chân lộ hiện trạng phần đất tranh chấp
đất ao, trũng thấp. Sau đó, Nhà nước thông báo cho các hộ dân đất bị thu
hồi đến đăng lại diện tích còn thừa không sử dụng vào việc mở đường
Văn K nhưng thời gian này do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đi làm ăn xa,
nên không đăng ký được.
Đến năm 2015 - 2016 gia đình bà M đi đăng ký QSD đất Ủy ban nhân dân
(UBND) xã P trả lời đất do anh S1 canh tác sử dụng không cho đăng ký nên năm
2018 gia đình M tranh chấp gửi đơn khởi kiện đến UBND P gửi đơn
khởi kiện đến Tòa án.
Đến tháng 8/2024 gia đình M sử dụng đất để cất nhà ở và trồng cây
trên phần đất tranh chấp hai căn nhà gồm nhà của M loại nhà xây gạch
nền san lấp cát, nền đổ bê tông, khung thép hộp, mái lợp tole, vách tole, vách
gạch, không đóng trần có chiều ngang một cạnh 5,05 mét, chiều ngang một cạnh
5,02 mét, chiều dài một cạnh 15,61 mét và chiều dài một cạnh 15,64 mét, diện
tích 78,7m
2
(theo đồ) căn nhà của anh P loại nhà nền đất, khung gỗ, trụ
khung Vinaconet, mái lợp tole sóng tròn, vách tole, không trần, nhà vệ sinh
chiều ngang 8,06 mét, chiều dài 5,51 mét diện tích 42,1m
2
(theo đồ). Phần
đất tranh chấp có tứ cận như sau:
+ Hướng Bắc giáp đường V nhựa;
+ Hướng Nam giáp thửa 1315 của anh S1;
+ Hướng Đông giáp mương lộ thửa 558 và giáp thửa 1304 của bà 9 Ban;
+ Hướng Tây giáp mương lộ thửa 558 và giáp thửa 1242 của bà C2.
Hiện nay, phần đất tranh chấp một phần diện tích đất 199,8m
2
nằm
trong dự án thu hồi mở rộng cầu K 2 với số tiền bồi thường 168.335.600
đồng. Hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông (nay Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp) đang giữ.
Nay bà M yêu cầu phản tố:
5
- ng nhận QSD đất diện tích 1.241,9m
2
trong đó thuộc một phần thửa
959, tbản đồ số 06 (bản đồ 299) bản đồ địa chính chính quy một phần thửa
558, tờ bản đồ số 09 có diện tích 286m
2
và một phần thửa 4803, tờ bản đồ số 06
(bản đồ 299) bản đồ địa chính chính quy là một phần thửa 1315, tờ bản đồ số 09,
có diện tích 955,9m
2
, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận QSD đất, phần đất tọa
lạc tại ấp B, xã P, tỉnh Đồng Tháp cho bà M.
- Yêu cầu được nhận số tiền Nhà nước bồi thường mrộng cầu K thuộc
một phần đất tranh chấp thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) nay là một phần
thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện tích 199,8m
2
với s tiền bồi thường
168.335.600 đồng.
- Không đồng ý di dời nhà và 4 trụ đá ra khỏi phần đất tranh chấp như yêu
cầu của bà S và anh S1.
M không thống nhất với vị trí đường nước của Hợp tác D1 trên
phần đất tranh chấp. Trên phần đất tranh chấp một căn nhà của anh P, M
thống nhất để anh P sử dụng không yêu cầu anh P di dời nhà trả đất cho bà M.
Bà M thống nhất với số liệu đo đạc trong Sơ đồ của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện T (nay Chi nhánh Văn phòng Đ - Đồng Tháp), thống
nhất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/10/2024 ngày
07/8/2025 Biên bản định giá ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện
Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đồng Tháp).
- Bđơn anh Đỗ Văn P trình bày: Phần đất đang tranh chấp của M,
anh P thống nhất để M khởi kiện anh P không yêu cầu trong vụ án, anh
P không bổ sung gì thêm.
Anh P thống nhất với số liệu đo đạc trong đồ của Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện T (nay Chi nhánh Văn phòng Đ - Đồng Tháp),
thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/10/2024 ngày
07/8/2025 Biên bản định giá ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện
Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đồng Tháp).
- Bđơn anh Đỗ Văn H trình bày: Thống nhất với lời trình bày của
M, anh H không bổ sung gì thêm.
Anh H thống nhất với số liệu đo đạc trong đồ của Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện T (nay Chi nhánh Văn phòng Đ - Đồng Tháp),
thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/10/2024 ngày
07/8/2025 Biên bản định giá ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện
Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đồng Tháp).
- Bđơn anh Đỗ n T trình bày: Hiện nay, do thường xuyên đi làm ăn
xa đi lại khó khăn nên không thể đến Tòa án để giải quyết hay tham gia các
6
phiên xét xử nên anh T xin được giải quyết xét xử vắng mặt. Mọi ý kiến của anh
T đều thống nhất với ý kiến của mcác anh của anh (bà Trần Thị M, anh Đỗ
Văn P anh Đỗ Văn H). Trường hợp các bên kháng cáo anh T xin Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp cho anh được giải quyết xét xử vắng mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đoàn Thị H1 trình
bày: Chị H1 vợ của anh Đỗ Văn P hiện nay đang sinh sống tại căn nhà
khung gỗ, trụ khung V, mái lợp tole sóng tròn, vách tole, không trần, nhà vệ
sinh của anh P đang quản lý và sử dụng, căn nhà trên là tài sản của anh P. Trong
vụ án này chị Bé H1 không tranh chấp hay yêu cầu gì.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hợp tác D1, người đại
diện theo pháp luật ông Nguyễn Minh T1 trình bày: Theo Biên bản họp
ngày 25/10/2018 của Ủy ban nhân dân xã P về việc rà soát thống nhất quy hoạch
thuỷ lợi nội đồng và cấp Giấy chứng nhận QSD đất tiếp giáp với mương lộ
Văn K ô bao 34 của Hợp tác xã D1, qua buổi họp thành viên thống nhất quy
hoạch để lại phần diện tích đất tiếp giáp với ruộng của các hộ dân bỏ ra 5 mét để
phục vụ tưới tiêu để lại cho Hợp tác D1 quản (không cấp giấy). Hiện nay
trên phần đất tranh chấp một phần đường nước của Hợp tác D1 vẫn còn
đang phục vụ bơm nước cho các hộ dân. Do đó, đề nghị Tòa án khi giải quyết vụ
án vẫn giữ nguyên phần đường nước (không cấp giấy) cho Hợp tác để bơm
nước cho các hộ dân. Do bận công việc thường xuyên nên xin được giải quyết,
xét xử vắng mặt.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2025/DS-ST ngày 20/9/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 11 - Đồng Tháp (viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị S và anh Thái Minh S1
đối với bà Trần Thị M, anh Đỗ Văn P, anh Đỗ Văn H và anh Đỗ Văn T.
1.1. Công nhận cho Huỳnh Thị S và anh Thái Minh S1 được QSD đất
diện tích 1.085,5m
2
thuộc một phần thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) bản
đồ địa chính chính quy thuộc một phần thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện tích
129,6m
2
trong phạm vi các mốc 3-5’-15’-14’-10’-11-12-13 về 3 một phần
thửa 4803, tờ bản đồ số 06 (bản đ299) bản đồ địa chính chính quy thuộc một
phần thửa 1315, tờ bản đồ số 09 diện tích 955,9m
2
trong phạm vi các mốc 5-
6-7-8-9-10-14-15 về 5, đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, phần đất
tọa lạc tại ấp B, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
1.2. Buộc bà Trần Thị M, anh Đỗ Văn H anh Đỗ Văn T trách nhiệm
tháo dỡ, di dời nhà cùng tất cả các tài sản, công trình và vật kiến trúc khác
trên phần đất tranh chấp diện tích 78,2m
2
gồm các mốc A-B-C-D về A
7
trên phần đất diện tích 955,9m
2
di dời 04 trụ đá tại vị trí các mốc 6,7,8,9 để
giao trả đất cho bà Huỳnh Thị S và anh Thái Minh S1 quản lý và sử dụng.
1.3. Buộc anh Đỗ Văn P trách nhiệm tháo dỡ, di dời nhà cùng tất cả các
tài sản, công trình vật kiến trúc khác có trên phần đất tranh chấp, nhà diện
tích 42,1m
2
gồm các mốc F-J-K-L-M-N về F, nhà vsinh diện tích 2,1m
2
gồm các mốc E-F-N-O về E mái che diện tích 12,8m
2
gồm các mốc F-G-
H-J vF trên phần đất diện tích 955,9m
2
đgiao trả đất cho Huỳnh Thị S
và anh Thái Minh S1 quản lý và sử dụng.
Kèm theo đồ đo đạc ngày 31/10/2024, đồ đo đạc bổ sung ngày
22/8/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T (nay Chi nhánh
Văn phòng Đ - Đồng Tháp) Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
30/10/2024 và ngày 07/8/2025 của Tòa án.
1.4. Huỳnh Thị S anh Thái Minh S1 được đến quan thẩm
quyền để kê khai đăng ký QSD đất theo quy định của pháp luật.
2. Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị S và anh Thái Minh S1 đối với bà
Trần Thị M, anh Đỗ Văn P, anh Đỗ Văn H và anh Đỗ Văn T về việc yêu cầu
được nhận số tiền bồi thường khi thu hồi đất.
Huỳnh Thị S và anh Thái Minh S1 được đến Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu
vực 11 - Đồng Tháp) nhận số tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất số tiền
168.335.600 đồng, theo biên lai thu tiền số 0001933 ngày 01/7/2023, tại Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay Phòng Thi hành
án dân sự Khu vực 11 - Đồng Tháp).
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị M đối với Huỳnh
Thị S anh Thái Minh S1 v việc yêu cầu công nhận QSD đất diện tích
1.241,9m
2
trong đó thuộc một phần thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) bản
đồ chính quy thuộc một phần thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện tích 286m
2
đất
chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, phần đất tọa lạc tại ấp B, P, tỉnh
Đồng Tháp và yêu cầu được nhận số tiền bồi thường khi thu hồi đất.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo,
quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 03/10/2025, bị đơn Trần Thị M nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng:
+ Công nhận QSD đất diện tích 1.241,9m
2
trong đó thuộc một phần thửa
959, tbản đồ số 06 (bản đồ 299) bản đồ địa chính chính quy một phần thửa
558, tờ bản đồ số 09 có diện tích 286m
2
và một phần thửa 4803, tờ bản đồ số 06
(bản đồ 299) bản đồ địa chính chính quy là một phần thửa 1315, tờ bản đồ số 09,
8
có diện tích 955,9m
2
, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận QSD đất, phần đất tọa
lạc tại ấp B, xã P, tỉnh Đồng Tháp cho bà M.
+ Yêu cầu được nhận số tiền Nhà nước bồi thường mở rộng cầu K thuộc
một phần đất tranh chấp thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) nay là một phần
thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện tích 199,8m
2
với s tiền bồi thường
168.335.600 đồng.
+ Không đồng ý di dời nhà 4 trụ đá ra khỏi phần đất tranh chấp như
yêu cầu của bà S và anh S1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn bà Trần Thị M trình bày: Bà M thay đổi yêu cầu kháng cáo, theo
đó M yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án thẩm để xét xử
lại theo hướng: Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công nhận QSD đất
diện tích 1.241,9m
2
trong đó thuộc một phần thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ
299) bản đồ địa chính chính quy một phần thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện
tích 286m
2
một phần thửa 4803, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) bản đồ địa
chính chính quy một phần thửa 1315, tờ bản đồ số 09, diện tích 955,9m
2
,
đất chưa được cấp Giấy chứng nhận QSD đất, phần đất tọa lạc tại ấp B, P,
tỉnh Đồng Tháp cho M không đồng ý di dời nhà 4 trụ đá ra khỏi phần
đất tranh chấp nyêu cầu của S anh S1. Đối với số tiền bồi thường
168.335.600 đồng M thống nhất không tranh chấp không yêu cầu nhận,
thống nhất đbên nguyên đơn được nhận số tiền này. Căn cứ M kháng cáo
là: Đất tranh chấp là của cha chồng M cụ ĐVăn N1 để lại cho vợ chồng
M; năm 2015-2016 M đi đăng đất tranh chấp nhưng Ủy ban
không cho đăng do S anh S1 đã đăng rồi; việc M xây dựng nhà
trồng trụ đá trên đất của cha chồng M chứ không phải đất của S, anh
S1.
- Bị đơn anh Đỗ Văn P trình bày: Thống nhất trình bày kháng cáo của
mẹ các anh M như nêu trên. Anh P cho rằng anh vợ chị Đoàn Thị
H1 (anh chị chung sống đăng kết hôn), anh chị 03 con chung gồm Đỗ
Thị Thảo Q, sinh năm 2014; Đỗ Thị Thảo N, sinh năm 2016 Đỗ Thị Ngọc
H2, sinh năm 2021, hiện cả gia đình anh đang sinh sống chung nhà trên đất tranh
chấp. Anh P không có kháng cáo sau khi Tòa ánt xử sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn H trình bày: Thống
nhất trình bày và kháng cáo của mẹ anh là bà M như nêu trên.
- Nguyên đơn Huỳnh Thị S anh Thái Minh S1 trình bày: Không
thống nhất với kháng cáo của bà Trần Thị M, S anh S1 thống nhất với bản
án sơ thẩm. Bà S và anh S1 cho rằng vợ chồng ông C, bà S nhận chuyển nhượng
9
đất từ ông Võ Văn C1, bà Lưu Thị B diện tích 13,5 công năm 1998, sau đó đã trả
thành quả lao động cho Đỗ Văn N1. Phần đất tranh chấp là do gia đình bà S khai
mở, cải tạo để trồng lúa cây trồng khác trên đất, chkhông bao chiếm đất
của ai. Yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của M, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Th tc kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị M thc hiện đúng
quy định và hp l theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo
pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét x Thư ký phiên tòa kể từ khi th lý
v án đến thời điểm xét x phúc thẩm đã chấp hành thực hiện đúng, đầy đủ
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thc hin
đúng, đầy đủ quyn và nghĩa v tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét x căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trần Thị M; sửa Bản
án dân sự thẩm số 72/2025/DS-ST ngày 20/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu
vực 11 - Đồng Tháp, do bản án thẩm sai sót về buộc nghĩa vliên đới di
dời nhà trả đất xác định nghĩa vụ chịu án phí (Kèm theo Phát biểu của Kiểm
sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số: 572/PB-VKS-DS ngày 30/3/2025).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên a, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tụng: Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đồng Tháp thụ giải
quyết thẩm vụ án “Tranh chấp QSD đất; yêu cầu di dời công trình, vật kiến
trúc trên đất; tiền bồi thường thu hồi đất” đúng quy định tại khoản 2, 9 Điều
26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét x thẩm bị đơn
Trần Thị M không thng nhất bản án thẩm nên đã kháng cáo. Vic M
kháng cáo vào ngày 03/10/2025 là trong thi hn kháng cáo theo quy đnh ti
Điu 273 B lut T tng dân sự, nên được xem xét gii quyết theo th tc phúc
thm.
Ti phiên tòa phúc thm anh Đỗ Văn T, chị Đoàn Thị H1 Nguyễn
Minh Trung đại D hợp pháp của Hợp tác xã D1 vắng mặt đơn yêu cầu xét xử
vắng mặt, nên Hội đồng xét x tiến hành xét x vng mặt theo quy định tại Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét thấy các con của anh Đỗ Văn P chĐoàn Thị H1 gồm Đỗ Thị
Thảo Q, sinh năm 2014; Đỗ Thị Thảo N sinh năm 2016 Đỗ Thị Ngọc H2,
10
sinh năm 2021, đang sinh sống chung nhà với anh P và chị B1 Hai trên đất tranh
chấp, nên xác định các cháu Q, N H2 tham gia tố tụng với cách người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này theo quy định tại Điều 73 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa Trần Thị M thay đổi kháng cáo như nêu trên, xét việc
thay đổi kháng cáo của M không vượt quá yêu cầu kháng cáo ban đầu, nên
được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 284 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2] V nội dung: Nguyên đơn Huỳnh Thị S anh Thái Minh S1 khởi
kiện yêu cầu Tòa án công nhận QSD đất diện tích 1.085,5m
2
trong đó thuộc một
phần thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) bản đồ địa chính chính quy một
phần thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện ch 129,6m
2
và một phần thửa 4803, tờ
bản đồ số 06 (bản đồ 299) bản đồ địa chính chính quy là một phần thửa 1315, tờ
bản đồ số 09, có diện tích 955,9m
2
đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất,
phần đất tọa lạc tại ấp B, xã P, tỉnh Đồng Tháp cho S và anh S1. Yêu cầu
được nhận số tiền Nhà nước bồi thường mở rộng cầu K với số tiền bồi thường là
168.335.600 đồng. Yêu cầu giải quyết buộc Trần Thị M, anh Đỗ Văn P, anh
Đỗ Văn H và anh Đỗ Văn T phải di dời nhà, 04 trụ đá và các tài sản khác nếu có
ra khỏi phần đất trên của S và anh S1. Đối với một đường nước của Hợp tác
xã D1 thống nhất để Hợp tác xã sử dụng, không tranh chấp.
Bị đơn Trần Thị M không thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn. Yêu cầu ng nhận QSD đất diện tích 1.241,9m
2
trong đó thuộc một phần
thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) bản đồ địa chính chính quy là một phần
thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện ch 286m
2
và một phần thửa 4803, tờ bản đồ
số 06 (bản đồ 299) bản đồ địa chính chính quy là một phần thửa 1315, tờ bản đ
số 09, diện tích 955,9m
2
, đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, phần
đất tọa lạc tại ấp B, xã P, tỉnh Đồng Tháp cho M. Yêu cầu được nhận stiền
Nhà nước bồi thường m rộng cầu K với số tiền bồi thường 168.335.600
đồng. Không đồng ý di dời nhà 4 trụ đá ra khỏi phần đất tranh chấp như yêu
cầu của S anh S1. M không thống nhất với vị trí đường nước của Hợp
tác xã D1 trên phần đất tranh chấp.
Điều này đã làm phát sinh tranh chấp giữa các đương sự.
[3] Hội đồng t xử xét thấy vic Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị S và anh Thái Minh S1 là có cơ sở. Bởi
các căn cứ như sau:
- Nguồn gốc phần đất tranh chấp tại hai thửa 959 4803 cùng tờ bản đ
số 06 (bản đồ địa chính chính quy thửa 558 và 1315 cùng tờ bản đồ số 9), đất
tọa lạc tại P, tỉnh Đồng Tháp, diện ch đo đạc thực tế 1.241,9m
2
(viết tắt
11
đất tranh chấp) là của cụ ĐVăn N1 (cha chồng M), năm 1983 Nhà nước thu
hồi đất của cụ N1 diện tích khoảng 3 công (3.000m
2
) làm sân bóng đá và sau đó
làm tỉnh lộ 844 (nay lộ Võ Văn K), nên phần đất này không còn thuộc quyền
quản lý sử dụng của cụ N1. Sau khi Nnước làm lộ xong, phần đất trên do
bị múc đất làm lộ nên có hiện trạng là ao trũng thấp, đất để trống không sử dụng.
Vchồng bà S, ông C sau khi nhận chuyển nhượng diện tích đất 13,5 công (nay
thuộc thửa 244, diện tích 12.906m
2
) từ ông Võ Văn C1, bà Lưu Thị B năm 1998
đã khai phá, cải tạo sử dụng luôn phần đất tranh chấp, sau khi ông C chết thì
S để lại cho anh S1 sử dụng đất cho đến nay.
- Việc M cho rằng Nhà nước trả lại diện tích đất còn thừa sau khi làm
lộ 844 cho cha chồng M là cụ N1 cũng như việc cụ N1 chết giao đất tranh
chấp cho M quản lý, sử dụng nhưng M không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ chứng minh. Việc bà M trình bày: “Nhà nước có thông báo cho các hộ
dân đất bị thu hồi đến đăng lại diện tích còn thừa không sử dụng vào việc
mở đường Văn K nhưng thời gian này do hoàn cảnh gia đình khó khăn đi
làm ăn xa, nên không đăng đượcviệc bà M thừa nhận năm 2015 - 2016
gia đình M kê khai đăng ký QSD đất thì đất do anh S1 đang quản lý, sử dụng
nên chính quyền địa phương không cho M đăng ký, đến tháng 8/2024 M
và anh P tự ý xây dựng (cất) nhà, trồng trụ đá trên đất cho thấy việc vợ chồng bà
S, ông C anh S1 quản sử dụng phần đất tranh chấp ổn định, liên tục từ
năm 1998 trong thời gian dài gia đình bà M biết nhưng không tranh chấp. Khi có
tranh chấp năm 2021, hộ M khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Tam Nông
(nay là Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Đồng Tháp), nhưng do hộ M không
đến Tòa án giải quyết theo triệu tập của Tòa án, nên Tòa án nhân dân huyện
Tam Nông đã đình chgiải quyết vụ án theo Quyết định số 279/2023/QĐST-DS
ngày 30/11/2023 (Quyết định đã hiệu lực pháp luật). Khi phía bị đơn cất nhà
trên đất, anh S1 báo chính quyền địa phương được T2 ấp ông Nguyễn
Hồng L xác nhận, phù hợp với lời khai người làm chứng. Tại Tòa án M, anh
P và anh H trình bày trước đây được Nhà nước cấp nền và nhà tại cụm dân cư ấp
G, P nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên đã chuyển nhượng cho người
khác, do không có đất cất nhà ở nên tháng 8/2024 mới về phần đất của cụ N1 cất
nhà ở, đồng thời trồng 04 trụ đá như hiện nay, khi cất nhà không xin phép
chính quyền địa phương. Xét thấy, bà M, anh P, anh H và anh T mặc dù đã được
Nhà nước cấp nền và nhà để ở nhưng đã chuyển nhượng cho người khác, sau đó
về đất tranh chấp tự ý xây dựng nhà ở, công trình, vật kiến trúc trên đất khi chưa
được sự đồng ý của người đang trực tiếp quản đất bà S, anh S1 xâm
phạm quyền lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời không được sự thống nhất
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là trái pháp luật.
- Tại văn bản số 156/UBND ngày 08/6/2022 của UBND xã P xác định:
“vị trí của phần đất diện tích thửa 959 thửa 4803 cùng tbản đồ s06 (bản
12
đồ 299) hiện đang tranh chấp nên chưa đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận QSD
đất. Trường hợp Bản án hoặc Quyết định của Tòa án nhân dân các cấp giải
quyết xong vấn đề tranh chấp thì diện tích nêu trên đủ điều kiện cấp Giấy chứng
nhận QSD đất”. Do đó, phần đất tranh chấp đủ điều kiện để cấp Giấy chứng
nhận QSD đất. Từ những phân tích trên cho thấy đất tranh chấp mặc
nguồn gốc của cụ N1 nhưng đã bị Nhà nước thu hồi, do đất để trống không sử
dụng, nên vợ chồng ông C, S anh S1 đã khai mở, cải tạo sử dụng ổn định,
công khai và ngay tình. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của S anh S1 về việc công nhận QSD đất diện ch 1.085,5m
2
cho
S và anh S1 được tiếp tục sử dụng là có cơ sở.
Như vậy, căn cứ xác định phần diện tích 955,9m
2
, M, anh P, anh H
anh T đang sử dụng để cất nhà trồng trụ đá của anh S1 S. Nên
việc Tòa án thẩm buộc M, anh P, anh H anh T trách nhiệm di dời
nhà và các tài sản trên, để giao trả lại đất cho S anh S1 quản lý và sử dụng
là có căn cứ.
- Đối với số tiền Nhà nước bồi thường 168.335.600 đồng: Căn cứ
Quyết định số 843/QĐ-UBND-ngày 11/7/2022 Quyết định số 868/QĐ-
UBND- ngày 15/7/2022 của UBND huyện T thể hiện phần diện tích đất thu
hồi 199,8m
2
đất của hộ Huỳnh Thị S ông Đỗ Văn N2 (đang tranh chấp)
hết diện tích của thửa đất 5136, tờ bản đồ số 06 nay là một phần thửa 558, tờ bản
đồ số 09 với số tiền bồi thường 168.335.600 đồng. Đối với thửa đất 5136, tờ bản
đồ số 06 nguồn gốc do ông C S khai phá từ năm 1998 sử dụng trồng
cây lâu năm, hiện nay do S quản sử dụng ổn định. Đồng thời, do đất
đang tranh chấp nên các bên thống nhất giao cho Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp quản lý số tiền 168.335.600 đồng. Trong quá
trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, bà M thừa nhận, phần diện tích đất hiện
nay còn có các cây bạch đàn của bà S trồng, như đã nhận định trên do có căn cứ
xác định phần diện tích đất Nnước thu hồi để thực hiện dự án mở rộng cầu K
2 của bà S anh S1. Do đó việc Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của S
anh S1 được nhận stiền trên là phù hợp và căn cứ. Tại phiên tòa phúc
thẩm M anh P cũng không tranh chấp số tiền này thống nhất giao cho
nguyên đơn.
- Đối với diện tích đất tranh chấp đường nước diện tích 156,4m
2
thuộc
một phần thửa 558, tờ bản đồ số 9. S, anh S1 thống nhất không tranh chấp,
không yêu cầu được sử dụng đường nước công cộng do Hợp tác D1 quản
diện tích 156,4m
2
thuộc một phần thửa 558, tờ bản đồ số 9 chiều ngang 5m,
chiều dài một cạnh 31,35 mét chiều dài một cạnh 31,43 mét trong phạm vi
các mốc 10-14’-15’-5’-4-5-15-14-10 về 10’ theo đồ đo đạc bổ sung ngày
22/8/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực XX - Đồng Tháp
phía trước nhà của bà M. Qua xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện Hợp tác xã D1
13
sử dụng đường nước này để phục vụ bơm tưới nước vào ô bao số 34 cho các hộ
dân. Tại văn bản số 306/UBND-KT ngày 17/9/2025 của UBND P xác định
trên phần đất đang tranh chấp có đường ớc chiều ngang 5 mét do Hợp tác
D1 đang quản , sdụng để tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các
hộ dân trong khu vực (không cấp giấy chứng nhận QSD đất). M, anh P và
anh H cho rằng vị trí của đường nước Hợp tác D1 không nằm trên phần đất
tranh chấp, vị trí đường nước nằm phía sau phần đất tranh chấp không
sở. Do đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định đường nước diện tích
156,4m
2
thuộc một phần thửa 558, tờ bản đồ số 9 do Hợp tác D1 quản lý, sử
dụng không cấp giấy chứng nhận QSD đất nên không xem xét giải quyết đối với
diện tích đất này.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn M không được Tòa án thẩm
chấp nhận là có cơ sở như đã phân tích trên.
[4] Đối với kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị M Hội đồng xét xử xét thấy
trình bày của M không đủ căn cứ, đồng thời bà M cũng không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có sở
như đã phân tích trên, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] T sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
ca Trần Thị M. Tuy nhiên, cần sửa bản án thẩm về việc buộc vợ chồng
anh Đỗ Văn P chị Đoàn Thị H1 các con gồm ĐThị Thảo Q, Đỗ Thị
Thảo N Đỗ Thị Ngọc H2 trách nhiệm tháo dỡ, di dời nhà cùng tất cả c
tài sản, công trình vật kiến trúc khác trên phần đất tranh chấp diện tích
955,9m
2
để giao trả đất cho S anh S1 quản sử dụng nhằm đảm bảo
việc thi hành án, đồng thời sửa án phí dân sự sơ thẩm mà các đương sự phải chịu
theo án phí không giá ngạch được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị
quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
[6] Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ s và phù hp pháp lut, nên
được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bà Trần Thị M thuộc trường hợp người cao tuổi đơn
xin miễn án phí, nên được xét miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phn khác ca bn án sơ thm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
14
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị M;
2. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2025/DS-ST ngày 20 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đồng Tháp.
Áp dụng khoản 2, 9 Điều 26, đim a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 244, Điều 271, Điều 273 khoản 2 Điều 284 Bộ luật Tố tụng
dân sự; Điều 26 Luật Đất đai năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, điểm
a khoản 2 Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Huỳnh Thị S anh Thái Minh
S1 đối với bà Trần Thị M, anh Đỗ Văn P, ông Đỗ Văn H và anh Đỗ Văn T.
2.1.1. Công nhận cho bà Huỳnh Thị S và anh Thái Minh S1 được QSD đất
diện tích 1.085,5m
2
thuộc một phần thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) bản
đồ địa chính chính quy thuộc một phần thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện tích
129,6m
2
trong phạm vi các mốc 3-5’-15’-14’-10’-11-12-13 về mốc 3 một
phần thửa 4803, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) bản đồ địa chính chính quy thuộc
một phần thửa 1315, tờ bản đồ số 09 diện tích 955,9m
2
trong phạm vi các
mốc 5-6-7-8-9-10-14-15 về mốc 5, đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất,
phần đất tọa lạc tại ấp B, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
2.1.2. Buộc Trần Thị M, anh Đỗ Văn H anh Đ n T trách
nhiệm tháo dỡ, di dời nhà cùng tất cả các tài sản, công trình vật kiến trúc
khác trên phần đất tranh chấp diện tích 78,2m
2
gồm các mốc A-B-C-D về
mốc A có trên phần đất diện tích 955,9m
2
và di dời 04 trụ đá tại vị trí các mốc 6-
7-8-9 để giao trả đất cho Huỳnh Thị S anh Thái Minh S1 quản sử
dụng.
2.1.3. Buộc vợ chồng anh Đỗ Văn P, chị Đoàn Thị Bé H1 các con gồm
Đỗ Thị Thảo Q, Đỗ Thị Thảo N Đỗ Thị Ngọc H2 trách nhiệm tháo dỡ, di
dời nhà cùng tất cả các tài sản, công trình vật kiến trúc khác trên phần đất
tranh chấp, nhà diện tích 42,1m
2
gồm các mốc F-J-K-L-M-N về mốc F, n
vệ sinh diện tích 2,1m
2
gồm các mốc E-F-N-O về mốc E mái che diện
tích 12,8m
2
gồm các mốc F-G-H-J về mốc F trên phần đất diện tích 955,9m
2
để giao trả đất cho bà Huỳnh Thị S và anh Thái Minh S1 quản lý và sử dụng.
15
(Kèm theo đồ đo đạc ngày 31/10/2024, đồ đo đạc bổ sung ngày
22/8/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T (nay Chi nhánh
Văn phòng Đ - Đồng Tháp) Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
30/10/2024 và ngày 07/8/2025 của Tòa án).
2.1.4. Huỳnh Thị S anh Thái Minh S1 được đến quan thẩm
quyền để kê khai đăng ký QSD đất nêu trên theo quy định của pháp luật.
2.2. Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị S anh Thái Minh S1 đối với
Trần Thị M, anh Đỗ n P, anh Đỗ Văn H anh Đỗ Văn T vviệc yêu cầu
được nhận số tiền bồi thường khi thu hồi đất.
Huỳnh Thị S và anh Thái Minh S1 được đến Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực
11 - Đồng Tháp) nhận số tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất số tiền
168.335.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0001933 ngày 01/7/2023, tại Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay Phòng Thi hành
án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp).
2.3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Trần Thị M đối với
Huỳnh Thị Sanh Thái Minh S1 về việc yêu cầu công nhận QSD đất diện tích
1.241,9 m
2
trong đó thuộc một phần thửa 959, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) bản
đồ chính quy thuộc một phần thửa 558, tờ bản đồ số 09 diện tích 286m
2
đất
chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, phần đất tọa lạc tại ấp B, P, tỉnh
Đồng Tháp yêu cầu về việc yêu cầu được nhận số tiền bồi thường khi thu hồi
đất.
2.4. Về chi phí tố tụng: Anh Thái Minh S1 tự nguyện chịu toàn bộ tiền chi
phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản với số tiền là
6.526.000đ (Sáu triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn đồng), anh Thái Minh S1 đã
nộp xong.
2.5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trần Thị M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Đỗ Văn P, anh Đỗ Văn H anh Đỗ Văn T phải liên đới chịu
300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Thái Minh S1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại
số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai
thu số: 0011777, ngày 01/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam
Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng
Tháp).
16
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Trần Thị M được miễn án phí dân sự
phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b 9 Luật Thi nh án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng
Tháp;
- TAND Khu vc 11 - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vc 11 - Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Tải về
Bản án số 280/2026/DS-PT Bản án số 280/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 280/2026/DS-PT Bản án số 280/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất