Bản án số 298/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 298/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 298/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 298/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 298/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về thừa kế tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 298/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | bà N yêu cầu Toà án phân chia thừa kế theo pháp luật phần đất tổng diện tích khoảng 30.456m2 của cụ Đ thành 07 kỷ phần, bà N được hưởng 01 kỷ phần bằng 4.350,85m2 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 298/2026/DS-PT
Ngày 31 - 3 – 2026
V/v tranh chp chia tha k
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Ninh Quang Thế
Các Thm phán: Ông Đỗ Cao Khánh
Bà Tiêu Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Thúy Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 782/2025/TLPT-DS ngày 29/12/2025
về tranh chấp chia thừa kế QSDĐ.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 347/2025/DS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 209/2026/QĐ-PT ngày
27 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- : Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961; Số CCCD 096161003099,
cấp ngày 26/12/2022. Địa chỉ cư trú: Ấp, xã S, tỉnh Cà Mau.
i din hp pháp ca bà N: Ông Dương Thanh Q, sinh năm 1956.
Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã P, tỉnh Cà Mau, theo hợp đồng uỷ quyền ngày 01/7/2024
(có mặt).
- B : Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966; Số CCCD 096066009667,
cấp ngày 09/8/2021. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau.
i din hp pháp ca ông T: Ông Trần Hoàng G, sinh năm 1969; Số
CCCD 096069010877, cấp ngày 10/8/2021. Địa chỉ: Khóm G, phường T, tỉnh Cà
Mau, theo hợp đồng uỷ quyền ngày 24/9/2024 (có mặt).
- i có quyn l liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1951. Địa chỉ cư trú: Khóm D, phường T,
tỉnh Cà Mau.
2
i din hp pháp ca ông C: Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1953. Địa
chỉ cư trú: Khóm D, phường T, tỉnh Cà Mau, theo hợp đồng uỷ quyền ngày
10/9/2025 (có mặt).
2 Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1957. Địa chỉ cư trú: Khu phố T, phường T,
thành phố Hồ Chí Minh.
3. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1955. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, tỉnh Cà
Mau. (có mặt).
4. Bà Nguyễn Tuyết M, sinh năm 1969 (vợ ông T) (có mặt). Địa chỉ cư trú:
Ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau.
5. Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1968. Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã P, tỉnh Cà
Mau (có mặt).
6. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1975; Số CCCD 096175001832, cấp ngày
14/7/2022. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau. (có mặt).
7. Anh Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1999; Số CCCD 096099001342, cấp
ngày 09/9/2022. Địa chỉ cư trú: Khóm B, phường A, tỉnh Cà Mau.
8. Chị Nguyễn Ngọc Y, sinh năm 1997; Số CCCD 096197001435, cấp ngày
09/9/2022. Địa chỉ cư trú: Hẻm C, đường M, phường C, thành phố Cần Thơ.
9. Ông Trịnh Văn L, sinh năm 1977.
10. Bà Lê Thị P, sinh năm 1978. Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã K, tỉnh Cà
Mau.
- i kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N là nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị N2,
Nguyễn Thị K và ông Nguyễn Văn C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- bà Nguyn Th Ni din hp pháp theo u quyn ông
trình bày: Cha mẹ của bà N là cụ Nguyễn Hữu N3, sinh năm
1925, chết ngày 01/4/1996 và cụ Trần Thị Đ, sinh năm 1930, chết ngày 09/5/2022.
Sinh thời hai cụ có tạo lập nhiều phần đất đã phân chia, hiện còn lại hai phần đất có
tổng diện tích khoảng 30.456m
2
. Phần đất thứ 1 diện tích khoảng 18.144m
2
, tại ấp
K và phần đất thứ 2 diện tích khoảng 12.312m
2
, tại ấp C, đều thuộc xã K, tỉnh Cà
Mau. Cả hai phần đất, cụ N3 và cụ Đ chưa được cấp Giấy chứng nhận, cụ Đ có tên
tại Sổ mục kê ruộng đất. Khi cụ N3 chết, các phần đất nêu trên do cụ Đ quản lý,
sau đó bà N quản lý. Thời gian gần đây, ông Nguyễn Văn T trở về phần đất của cụ
Đ và quản lý đất cho đến nay, bà N có yêu cầu ông T họp anh chị em để phân chia
đều phần đất nhưng ông T không đồng ý. Nay, bà N yêu cầu Toà án phân chia thừa
kế theo pháp luật phần đất tổng diện tích khoảng 30.456m
2
của cụ Đ thành 07 kỷ
phần, bà N được hưởng 01 kỷ phần bằng 4.350,85m
2
.
- B Nguyi din hp pháp theo u quyn ông
Trn Hoàng G trình bày: Thời gian cụ N3 và cụ Đ chết, đúng như bà N trình bày.
Khi hai cụ còn sống có tạo lập nhiều phần đất, hiện nay chỉ còn 02 phần có tổng
diện tích khoảng 30.456m
2
. Phần đất thứ 1 diện tích khoảng 18.144m
2
, toạ lạc tại
3
ấp K và phần đất thứ 2 diện tích khoảng 12.312m
2
, toạ lạc tại ấp C, đều thuộc xã
K, tỉnh Cà Mau. Phần đất tại ấp K, lúc còn sống cụ Đ đã lập hợp đồng tặng cho
ông Nguyễn Văn T, ông T đã được cấp Giấy chứng nhận ngày 09/6/2017, còn phần
đất ở ấp C, cụ Đ chưa được cấp Giấy chứng nhận, khi cụ Đ chết các anh chị em
thống nhất giao phần đất này cho ông T quản lý để dùng vào việc thờ cúng. Nay,
ông T không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
- i có quyn l liên quan:
Bà Nguyễn Thị N1 trình bày tại Bản tự khai ngày 21/5/2025: Năm 1955, cụ
N3 và cụ Đ có khai phá nhiều thửa đất thuộc ấp K và ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà
Mau. Năm 1996, cụ N3 chết để lại phần đất cho cụ Đ tiếp tục quản lý, sử dụng.
Khi các con của cụ N3 và cụ Đ có vợ chồng đều được cha mẹ tặng cho đất để canh
tác. Sau khi tặng đất cho các con, cụ Đ chừa lại phần đất tại ấp C Mỹ dùng làm đất
hương hoả, hiện phần đất này do ông T quản lý dùng vào việc thờ cúng, chăm sóc
mồ mã cha mẹ, anh chị em đã chết. Cho nên bà N1 không đồng ý về việc yêu cầu
chia thừa kế, yêu cầu Toà án giao phần đất này cho ông T quản lý để dùng vào việc
thờ cúng, chăm sóc mồ mã.
Ông Nguyễn Văn C trình bày tại Bản tự khai ngày 22/5/2025: Năm 1955, cụ
N3 và cụ Đ có khai phá nhiều thửa đất thuộc ấp K và ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà
Mau. Năm 1996, cụ N3 chết để lại phần đất cho cụ Đ tiếp tục quản lý, sử dụng.
Khi các con của cụ N3 và cụ Đ có vợ chồng đều được hai cụ tặng cho đất để canh
tác. Sau khi tặng đất cho các con, cụ Đ chừa lại phần đất tại ấp C Mỹ dùng làm đất
hương hoả, hiện phần đất này do ông T quản lý dùng vào việc thờ cúng, chăm sóc
mồ mã cha mẹ, anh chị em đã chết. Cho nên ông C không đồng ý về việc yêu cầu
chia thừa kế, yêu cầu Toà án giao phần đất này cho ông T quản lý để dùng vào việc
thờ cúng, chăm sóc mồ mã.
Bà Nguyễn Thị T1 trình bày tại Bản tự khai ngày 23/5/2025: Năm 1955, cụ
N3 và cụ Đ có khai phá nhiều thửa đất thuộc ấp K và ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà
Mau. Năm 1996, cụ N3 chết để lại phần đất cho cụ Đ tiếp tục quản lý, sử dụng.
Khi các con của cụ N3 và cụ Đ có vợ chồng đều được hai cụ tặng cho một phần đất
để canh tác. Sau khi tặng đất cho các con, cụ Đ chừa lại phần đất tại ấp C Mỹ dùng
làm đất hương hoả, hiện phần đất này do ông T quản lý dùng vào việc thờ cúng,
chăm sóc mồ mã cha mẹ, anh chị em đã chết. Cho nên, tôi (T1) không đồng ý về
việc yêu cầu chia thừa kế, yêu cầu Toà án giao phần đất này cho ông Nguyễn Văn
T quản lý để dùng vào việc thờ cúng, chăm sóc mồ mã.
Bà Nguyễn Thị K trình bày tại Đơn yêu cầu ngày 25/8/2025: Di sản của cụ
Đ có tổng diện tích khoảng 30.456m
2
, phần đất thứ 1 diện tích khoảng 18.144m
2
,
đất toạ lạc tại ấp K và phần đất thứ 2 diện tích khoảng 12.312m
2
, đất toạ lạc tại ấp
C, đều thuộc xã K, tỉnh Cà Mau. Cụ Đ chết không có để lại di chúc, hiện phần đất
do ông T quản lý. Tôi (K) là vợ ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1971, chết ngày
18/01/2005 là con cụ N3 và cụ Đ, nên được hưởng một phần thừa kế. Do đó, tôi
(K) yêu cầu Toà án chia thừa kế di sản của cụ Trần Thị Đ tổng diện tích khoảng
30.456m
2
cho 07 người, tôi (K) được hưởng diện tích đất 4.350,85m
2
.
4
Bà Nguyễn Thị N2 trình bày tại Đơn yêu cầu ngày 25/8/2025: Di sản của cụ
Đ có tổng diện tích khoảng 30.456m
2
, phần đất thứ 1 diện tích khoảng 18.144m
2
,
đất toạ lạc tại ấp K và phần đất thứ 2 diện tích khoảng 12.312m
2
, đất toạ lạc tại ấp
C, đều thuộc xã K, tỉnh Cà Mau. Cụ Trần Thị Đ chết không có để lại di chúc, hiện
phần đất do ông T quản lý. Tôi (N2) là con cụ N3 và cụ Đ, nên được hưởng một
phần thừa kế. Do đó, tôi (Nhớ) yêu cầu Toà án chia thừa kế di sản của cụ Trần Thị
Đ tổng diện tích khoảng 30.456m
2
cho 07 người, tôi (N) được hưởng diện tích đất
4.350,85m
2
.
i Bn án dân s m s 347/2025/DS-ST ngày 18
a Tòa án nhân dân Khu vc - nh:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị
N và một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà
Nguyễn Thị N2 và bà Nguyễn Thị K.
Xác định diện tích đất 12.709,7m
2
(loại đất trồng lúa - LUC), thuộc thửa 710
và một phần thửa số 537, tờ bản đồ số 01, bản đồ chỉnh lý năm 2022, phần đất toạ
lạc tại ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau, là di sản của cụ Nguyễn Hữu N3 và cụ Trần Thị
Đ.
Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Tuyết M có trách nhiệm liên đới
thanh toán cho bà Nguyễn Thị N giá trị bằng tiền là 125.281.000 đồng (Một trăm
hai mươi lăm triệu hai trăm tám mươi mốt đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Tuyết M có trách nhiệm liên đới
thanh toán cho bà Nguyễn Thị N2 giá trị bằng tiền là 125.281.000 đồng (Một trăm
hai mươi lăm triệu hai trăm tám mươi mốt đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Tuyết M có trách nhiệm liên đới
thanh toán cho bà Nguyễn Thị K giá trị bằng tiền là 125.281.000 đồng (Một trăm
hai mươi lăm triệu hai trăm tám mươi mốt đồng).
Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Tuyết M được quyền sử dụng diện tích
đất 12.709,7m
2
(loại đất trồng lúa - LUC), thuộc thửa 710 và một phần thửa số
537, tờ bản đồ số 01, bản đồ chỉnh lý năm 2022, phần đất toạ lạc tại ấp C, xã K,
tỉnh Cà Mau – kèm theo Trích đo hiện trạng ngày 14/3/2025. Sau khi Bản án có
hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Tuyết M được quyền liên hệ
đến Cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà
Nguyễn Thị N và một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là bà Nguyễn Thị N2 và bà Nguyễn Thị K về việc yêu cầu chia thừa kế theo
pháp luật diện tích đất và tài sản gắn liền với diện tích đất 14.745m
2
, thửa đất số
350, tờ bản đồ số 02, diện tích 7.000m
2
(đất ở 300m
2
, đất trồng cây lâu năm
6.700m
2
), thửa đất số 349, tờ bản đồ số 02, diện tích 4.442m
2
(đất trồng cây lâu
năm), thửa đất số 351, tờ bản đồ số 02, diện tích 3.303m
2
(đất trồng cây lâu năm),
phần đất toạ lạc tại ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau.
5
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm thi hành, án
phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.
Cùng ngày 28/11/2025 bà N, bà N2, bà K, ông C cùng kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho đất giữa cụ Đ với ông T đối với
phần đất diện tích 14.745m
2
tại ấp K và yêu cầu phân chia thừa kế cả hai phần đất
đều cho tất cả anh em, xin nhận di sản là đất. Riêng ông C có thêm yêu cầu được
nhận di sản không đồng ý cho ông T.
Tại phiên toà phúc thẩm: Ông Q cho rằng trước khi ông T về đó sống thì cụ
Đ sống với bà S1, lúc hòa giải ông thấy cụ Đ được cấp QSDĐ chỉ có 7.000m
2
, đến
nay thì lại có 3 giấy chứng nhận QSDĐ, những giấy sau này không biết ở đâu ra,
việc cụ Đ được cấp QSDĐ các anh em không ai biết, việc cụ Đ lập hợp đồng tặng
cho ông T, khi Tòa án sơ thẩm xuống phần đất thẩm định cây cối, nhà của, nhưng
do có tranh chấp với các hộ xung quanh nên không đo được đất, yêu cầu HĐXX
chia thừa kế cả hai phần đất theo quy định của pháp luật. Bà K, N2, D đều xác định
cụ Đ được cấp QSDĐ ở K các bà không biết, việc cụ Đ tặng cho đất cho ông T các
bà cũng không biết, các bà yêu cầu chia thừa kế cả hai phần đất ở ấp K và ấp C
theo quy định của pháp luật.
Ông G cho rằng cụ Đ được cấp QSDĐ năm 1995 đứng tên cá nhân cụ, đến
năm 2012 cụ đổi giấy chứng nhận QSDĐ nhưng ủy ban lại cấp cho hộ gia đình cụ
Đ, tại thời điểm cấp hộ khẩu của gia đình cụ chỉ có cụ Đ bà bà S1, năm 2015 bà S1
chết, đến năm 2017 cụ Đ tặng cho phần đất ở K cho ông T, hồ sơ tặng cho phù hợp
quy định của pháp luật nên kiến nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Về tố
tụng HĐXX và các đương sự có mặt tại phiên tòa chấp hành đúng quy định của bộ
luật TTDS; Về nội dung: Phần đất ở ấp K cụ Đ được cấp QSDĐ năm 2012 gồm 3
giấy chứng nhận đều đứng tên hộ gia đình cụ Đ, năm 2017 cụ tặng cho đất cho ông
T cần phải có ý kiến hộ gia đình, cấp sơ thẩm chưa ghi lời khai những người trong
hộ gia đình cụ Đ thời điểm cho, là thiếu sót không thể khắc phục được tại phiên tòa
phúc thẩm, nên kiến nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự,
hủy bản án dân sự sơ thẩm số 347/2025/DS-ST ngày 18/11/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 3 – Cà Mau, giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án khu vực 3 – Cà Mau xét
xử lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về hình thức, về nội dung và thời hạn kháng cáo được các ông, bà Nga
N4, K, C thực hiện đúng quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật TTDS, nên HĐXX
xem xét yêu cầu kháng cáo của các ông, bà theo trình tự phúc thẩm. Về thẩm
quyền, cấp sơ thẩm xác định đúng thẩm quyền và thụ lý giải quyết đúng quy định
tại Điều 26, 35 Bộ luật TTDS.
Hai phần đất mà các đương sự yêu cầu chia thừa kế có vị trí một phần tại ấp
C chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, một phần tại ấp K đã được cấp QSDĐ,
6
cả hai phần đều thuộc xã K, tỉnh Cà Mau. Phần đất các đương sự kháng cáo yêu
cầu chia thừa kế là phần đất tại ấp K.
[2] Các đương sự kháng cáo có cùng nội dung là yêu cầu chia thừa kế cả hai
phần đất, nên HĐXX xem xét kháng cáo của các đương sự cùng lúc. Kháng cáo
của các đương sự về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa cụ Đ với ông
Tào thiết L1 ngày 04/5/2017 (BL 268, 269), về mặt hình thức và nội dung hợp
đồng được thiết lập theo mẫu quy định của Bộ T4, có chứng thực của UBND xã,
hợp đồng chuyển nhượng này phù hợp quy định của Luật đất đai và Bộ luật dân sự.
Tuy nhiên tại thời điểm tặng cho phần đất cụ Đ tặng cho ông T theo giấy chứng
nhận QSDĐ đứng tên hộ gia đình cụ Đ (BL 257,258,259), theo quy định nếu là đất
cấp cho hộ gia đình thì việc tặng cho phải có sự đồng ý của cả hộ gia đình. Tuy
nhiên xem xét sâu vào hồ sơ cấp QSDĐ cho cụ Đ, thì các phần đất này thời gian
trước đó cụ Đ đã được cấp QSDĐ ngày 20/01/1995 thể hiện tại (BL 248), thời
điểm này phần đất đứng tên cá nhân cụ Đ, do QSDĐ của cụ cấp chung gồm nhiều
thửa, thời hạn sử dụng đất của các thửa khác nhau, trong đó có hai thửa thời hạn sử
dụng 10 năm, đến 2005 hết hạn, nên cụ đã lập thủ tục xin cấp đổi lại giấy chứng
nhận QSDĐ (BL 229 đến 247) theo hồ sơ này đều thể hiện cá nhân cụ Đ xin cấp
đổi lại giấy chứng nhận QSDĐ, đến khi Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện
T lập tờ trình trình UBND huyện Trần Văn T3 giao đất thì lại ghi giao cho hộ bà
Trần Thị Đ, căn cứ vào đó UBND huyện ban hành Quyết định giao đất và cấp giấy
chứng nhận QSDĐ cho hộ bà Đ (BL 257,258,259), đây là thiếu sót của cơ quan
quản lý nhà nước về đất đai, vấn đề thiếu sót này không chỉ thuộc trường hợp của
cụ Đ, mà nó tồn tại rất nhiều trường hợp trên phạm vi toàn tỉnh, vấn đề khắc phục
chung đã được Giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C có ý kiên chỉ đạo
các cơ quan chức năng có liên quan rà soát hồ sơ lưu việc cấp giấy chứng nhận
QSDĐ nếu có sai sót hướng dẫn cho người được cấp giấy xin điều chỉnh lại (Th
hin ti Thông báo s 119/TB-STNMT ngày 04/4/2018 c c S Tài
ng tnh C). Mặt khác tại thời điểm tặng cho đất tuy đứng tên hộ
gia đình cụ Đ nhưng theo hộ khẩu gia đình cụ Đ tại thời điểm này chỉ có tên cụ Đ
và bà S1 (Bà S1 chết năm 2015 không có chồng, con) (ti din
ca ông T cung cp s h khu ca h ), như vậy khi cụ Đ tặng cho
đất ông T, thì chỉ cần một mình cụ Đ ký tặng cho là đủ, cho nên việc tặng cho đất
của cụ Đ là phù hợp quy định của pháp luật, nên kháng cáo của bà N, bà N4, bà K,
ông C về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho QSDĐ ngày 04/5/2017 do cụ Đ đã
tặng cho ông T không được chấp nhận.
Như phân tích trên, phần đất cụ Đ tặng cho ông T là phù hợp quy định của
pháp luật, ông T đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối phần đất được cho, nên
không có căn cứ xác định phần đất này là di sản của cụ Đ, do đó yêu cầu của các
đương sự về việc yêu cầu phân chia thừa kế phần đất này không được chấp nhận.
Đối với kháng cáo của các đương sự yêu cầu phân chia đất không đồng ý
chia giá trị đất, xét thấy hiện tại các đương sự đều đã có chỗ ở ổn định và có đất
canh tác, phần diện tích đất các đương sự được phân chia là đất nông nghiệp có
diện tích không lớn, nếu phân chia diện tích đất thì việc sản xuất manh múng, hiệu
7
suất không cao, nên án sơ thẩm phân chia giá trị đất là phù hợp, do đó kháng cáo
của các đương sự về vấn đề này không được chấp nhận.
[3] Xét kháng cáo của ông C về việc không đồng ý giao kỷ phần thừa kế của
mình cho ông T, HĐXX nhận thấy quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm ông đã có ý
kiến thể hiện ông đồng ý cho phần kỷ phần của mình cho ông T, án sơ thẩm đã
chấp nhận yêu cầu của ông về việc tặng cho này, hơn nữa quá trình chuẩn bị xét xử
sơ thẩm nếu có yêu cầu phân chia thừa kế thì ông có nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí
theo quy định, và không ảnh hưởng đến thời hạn xét xử của cấp sơ thẩm, cấp sơ
thẩm xét xử trên sự tự nguyện của ông về việc cho kỷ phần của ông cho ông T,
việc cho đó đã hoàn thành nên kháng cáo của ông không được chấp nhận.
Quan điểm của đại diện VKS tham gia phiên tòa kiến nghị hủy án sơ thẩm là
chưa phù hợp với nhận định nêu trên của HĐXX. Tuy nhiên phần Quyết định của
án sơ thẩm có sự lập đi lập lại dài dòng, nên HĐXX điều chỉnh lại cho ngắn gọn dễ
hiểu hợn.
[4] Án phí phúc thẩm: Bà N, ông C được miễn nộp, bà N4, bà K, phải chịu
theo quy định tại điều 148 Bộ luật TTDS.
[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp
phúc thẩm không xem xét đến.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định án phí, lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của các ông bà Nguyễn Thị
N, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị K và Nguyễn Văn C. Giữ nguyên bản án dân sự sơ
thẩm số 347/2025/DS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu
vực 3 – Cà Mau. Tuyên x:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N và một phần
yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị N2 và bà Nguyễn Thị K.
Xác định phần đất diện tích 12.709,7m
2
(loại đất trồng lúa - LUC), thuộc
thửa 710 và một phần thửa số 537, tờ bản đồ số 01, bản đồ chỉnh lý năm 2022, toạ
lạc tại ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau) là di sản
của cụ Nguyễn Hữu N3 và cụ Trần Thị Đ. Hiện ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn
Tuyết M đang quản lý sử dụng. Giao phần đất này cho ông T bà M tiếp tục quản lý
sử dụng và được quyền liên hệ Cơ quan có thẩm quyền để lập hồ sơ xin cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Công ty TNHH P1).
Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Tuyết M có trách nhiệm liên đới
thanh toán cho bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị K giá trị bằng
tiền mỗi người bằng 125.281.000 đồng
.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N và một phần
yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị N2 và bà Nguyễn Thị K về việc yêu cầu chia
8
thừa kế theo pháp luật đối với phần đất và tài sản gắn liền với phần đất có diện tích
14.745m
2
, gồm các thửa số 350, diện tích 7.000m
2
(đất ở 300m
2
, đất trồng cây lâu
năm 6.700m
2
); Thửa số 349, diện tích 4.442m
2
(đất trồng cây lâu năm); Thửa đất
số 351, diện tích 3.303m
2
(đất trồng cây lâu năm), đều thuộc tờ bản đồ số 02, toạ
lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau). Hiện tại
các thửa đất này ông T đều đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
3. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị N phải chịu số tiền 7.200.920 đồng
(Bảy triệu hai trăm nghìn chín trăm hai mươi đồng), bà đã nộp xong.
Buộc bà Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị K (Mi ngi), và vợ chồng ông
Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Tuyết M i) hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N
số tiền 7.200.920 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn chín trăm hai mươi đồng).
K t u thi hành án, ni
phi thi hành án không thi hành xong khon tii phi còn phi
chu thêm khonh ti khou 468 B lut Dân s
n khi thi hành xong.
4. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N được miễn nộp.
Bà Nguyễn Thị N2 và bà Nguyễn Thị K mỗi người phải nộp số tiền
6.264.000 đồng, cùng ngày 08/9/2025 mỗi người đã dự nộp 500.000 đồng, tại các
lai thu 0011718 và 0011717 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được đối trừ mỗi
người phải nộp tiếp số tiền 5.764.000 đồng (Năm triệu bảy trăm sáu mươi bốn
nghìn đồng).
Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Tuyết M phải nộp số tiền 24.045.000
đồng (Hai mươi bốn triệu không trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
- Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn C được miễn
nộp và miễn dự nộp. Bà Nguyễn Thị K và Nguyễn Thị N2 mỗi người phải chịu
300.000đ, ngày 28/11/2025 mỗi bà đã dự nộp 300.000đ tại các lai thu số 0005505,
0005504 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu.
ng hp bnh tu 2 Lut Thi hành án
dân s c thi hành án dân si phi thi hành án dân s có quyn
tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b
ng ch nh tu 6, 7, 7a, 7b và 9 Lut Thi hành
án dân s; thi hic thc hinh tu 30 Lut thi
hành án dân s.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân KV 3 – Cà Mau;
- Phòng THADS KV 3 – Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ninh Quang Thế
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm