Bản án số 74/2026/DS-PT ngày 25/03/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 74/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 74/2026/DS-PT ngày 25/03/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 74/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 74/2026/DS-PT
Ngày: 25 - 3 - 2026
V/v tranh chấp về thừa kế tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thu
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hà
Ông Phan Minh Dũng
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thuý Nga Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử
phúc thẩm công khai ván dân sự thụ số 332/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 11
năm 2025 về việc tranh chấp thừa kế tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của
Toà án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 346/2025/TLPT-DS ngày
26 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Huỳnh Thị H, sinh ngày: 09/09/1948; CCCD số:
052148007759; Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1970; CCCD số:
052070014880; Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, tỉnh Gia Lai (Theo giấy ủy quyền ngày
12/12/2024). Có mặt.
Bị đơn: Ông Phạm Thế V, sinh ngày: 07/4/1970; CCCD số: 052070006775;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Huỳnh Thị Thu H1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số C đường T, tổ B,
phường P, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
2. Ông Huỳnh Huy H2, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số C đường T, tổ B,
phường P, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
2
3. Ông Phạm Thế V1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn Đ, A, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt.
4. Phạm Thị H3, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn N, xã A, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thế V, sinh năm 1970; Địa chỉ:
Thôn Đ, xã A, tỉnh Gia Lai (Theo giấy ủy quyền ngày 23/12/2024). Có mặt.
5. Ông Huỳnh Trọng Q, sinh năm 1955; Địa chỉ: Số E đường T, phường Q,
tỉnh Gia Lai. Có mặt.
6. Huỳnh Thị S, sinh năm 1952; Địa chỉ: Thôn Đ, A, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1944; Địa chỉ:
Thôn Đ, xã A, tỉnh Gia Lai (Theo giấy ủy quyền ngày 25/12/2024). Có mặt.
7. Nguyễn Thị M, sinh năm 1949; Địa chỉ: Số C đường T, tổ B, phường
P, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
8. UBND xã A
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hoàng H4 - Chủ tịch
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thái H5 - công chức phòng
Kinh tế xã A (Theo giấy ủy quyền ngày 27/8/2025). Vắng mặt.
9. Bà Lưu Thị T1, sinh năm 1976; Có mặt.
10. Anh Phạm Thanh K, sinh năm 1999; Vắng mặt.
11. Chị Phạm Thanh N, sinh năm 2001; Vắng mặt.
12. Anh Phạm Thanh B1, sinh ngày 29/01/2007; Vắng mặt.
Người giám hộ: Vợ chồng ông Phạm Thế V, Lưu Thị T1; Cùng địa chỉ:
Thôn Đ, xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Huỳnh Thị H; người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Huỳnh Trọng Q, bà Huỳnh Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai tại phiên tòa người đại theo ủy quyền
của nguyên đơn là ông Phạm Văn T trình bày:
Ông ngoại Huỳnh Trọng Đ (sinh năm 1920, chết năm 1993), Nguyễn Thị
T2 (sinh năm 1928, chết năm 1999) 05 người con gồm: Ông Huỳnh B2 (sinh
năm 1944, chết năm 2017; ông Huỳnh B2 vợ Nguyễn Thị M 02 người con:
Huỳnh Thị Thu H1 Huỳnh Huy H2); Huỳnh Thị Thu B3 (sinh năm 1945,
chết năm 2019). B3 chồng Phạm Thúc V2 (chết trước Huỳnh Thị Thu
3
B3) 03 người: ông Phạm Thế V, ông Phạm Thế V1 bà Phạm Thị H6;
Huỳnh Thị H; Ông Huỳnh Trọng Q; Huỳnh Thị S. Ông ngoại không con
riêng, con nuôi.
Năm 1993, ông Huỳnh Trọng Đ, Nguyễn Thị T2 được nhà nước cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất ở, đất vườn 02 thửa đất ruộng tục
danh đám Ruộng Xạ (không rõ số thửa) và đám Đồng xịa (thửa đất số 550C). Đám
Ruộng Xạ đã được giải tỏa đền bù, tiền do ông Huỳnh Trọng Q trực tiếp nhận nên
ông không rõ bao nhiêu nhưng mẹ của ông không tranh chấp đối với số tiền đền
bù thửa ruộng này. Còn đám Đồng Xịa (thửa đất số 550c) được Ủy ban xã N thông
báo phương án đền số tiền 160.656.000đ thì trong gia đình xảy ra tranh chấp số
tiền này nên đến nay chưa chi trả cho ai. Trước khi giải tỏa thì thửa ruộng số 550c
do cụ Nguyễn Thị T2 cho Huỳnh Thị Thu B3 làm. Sau khi Huỳnh Thị Thu
B3 chết thì giao lại cho ông Phạm Thế V tiếp tục canh tác. Cụ Nguyễn Thị T2 chỉ
nói miệng để ruộng cho Huỳnh Thị Thu B3 làm chứ không định đoạt cho
Huỳnh Thị Thu B3 thửa ruộng này. Thời điểm giao quyền sử dụng ruộng đất trong
hộ gia đình bao nhiêu nhân khẩu thì ông không rõ. Cụ Huỳnh Trọng Đ, cụ
Nguyễn Thị T2 chết không để lại di chúc
Tại biên bản họp gia đình ngày 11/6/2011 nội dung: Các con của cụ
Huỳnh Trọng Đ, cụ Nguyễn Thị T2 thống nhất để lại nhà đất cho Huỳnh Thị
Thu B3 trông coi, quản giao cho Huỳnh Thị Thu B3 nhận số tiền đền
do 627m
2
đất lúa của đám Ruộng Xạ bị thu hồi để làm đường, diện tích 627m
2
này
của đám Ruộng Xạ chứ không liên quan đến thửa ruộng số 550c tục danh
đám Đồng Xịa và tại buổi họp này các anh em của mẹ cũng không mời mẹ của ông
họp.
Nay Huỳnh Thị H yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ Huỳnh Trọng Đ, cụ
Nguyễn Thị T2 để lại số tiền đền giải tỏa thửa ruộng số 550C tục danh
đám Đồng Xịa tọa lạc tại thôn Đ, N, thị A, tỉnh Bình Định với số tiền
158.550.400đ cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật. Số tiền bồi
thường hỗ trợ về hoa màu 2.100.600 đồng, không yêu cầu chia mà giao cho ông V.
Riêng đối với nhà, đất ở, đất vườn do cụ Huỳnh Trọng Đ, cụ Nguyễn Thị T2 để li
số tiền đền đám Ruộng Xạ ông Huỳnh Trọng Q đã nhận, không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Ông không đồng ý yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Trọng Q về việc yêu cầu
mẹ ông và những người thừa kế khác phải thanh toán vàng để chữa bệnh cho cụ T2
và sửa chữa nhà.
Ngày 18/8/2025 mẹ của ông đơn khởi kiện bổ sung về việc yêu cầu chia
thừa kế thửa đất 47 tờ bản đồ s 11 diện tích 1.504m
2
(200m
2
đất 1.304m
2
đất vườn) và thửa đất số 55c.
Theo bản tự khai, biên bản ghi lời khai, các thủ tục tố tụng tiếp theo tại
phiên tòa bị đơn ông Phạm Thế V trình bày: Thống nhất về mối quan hgia đình,
hang thừa kế di sản thừa kế của ông ngoại cụ Huỳnh Trọng Đ, cụ Nguyễn
Thị T2 để lại, không có di chúc như nguyên đơn được ủy quyền đã trình bày.
4
Ông bà ngoại Huỳnh Trọng Đ, Nguyễn Thị T2 chết không để lại di chúc
nhưng có di ngôn để lại toàn bộ nhà đất làm ntừ đường. Đám Ruộng X đã được
Nhà nước giải tỏa bồi thường số tiền do mẹ Huỳnh Thị Thu B3 trực tiếp nhận
đưa lại cho cậu Huỳnh Trọng Q để sửa nhà từ đường. Đám Đ, lúc bà ngoại Nguyễn
Thị T2 còn sống do bà ngoại làm, ông mẹ Huỳnh Thị Thu B3 phụ giúp
ngoại làm đám ruộng này. Sau khi bà ngoại chết, anh em trong nhà thống nhất giao
cho mcủa ông làm tiếp chứ bà ngoại chưa định đoạt đất ruộng cho mcủa ông.
Năm 2019 khi mẹ chết thì ông trực tiếp canh tác ruộng. Tại biên bản họp gia đình
ngày 11/6/2011 nội dung các người con của ông ngoại Huỳnh Trọng Đ,
Nguyễn Thị T2 thống nhất để lại nđất cho mẹ Huỳnh Thị Thu B3 trông coi,
quản giao cho mẹ ông nhận số tiền đền do đất ruộng bị thu hồi đlàm
đường. Diện tích 627m
2
các anh em trong nhà giao cho mẹ ông theo biên bản
họp gia đình diện tích của cả hai đám Ruộng X và Đ. Thời điểm đó Huỳnh
Thị H không hòa thuận với các anh em trong gia đình nên không tham gia họp gia
đình và không ký trong biên bản.
Tháng 6 năm 2023, Nhà nước tiếp tục giải tỏa thửa ruộng tục danh đám
Đồng Xịa. Ủy ban N thông báo cho ông phương án đền bù đám Đ số tiền
160.656.000đ, trong đó 38.276.000đ tiền bồi thường giá trị đất nông nghiệp, số
tiền còn lại hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp hỗ trợ tiền ăn cho hộ gia đình ông.
Sau đó Huỳnh Thị H đơn khởi kiện tranh chấp nên tiền đền đến nay chưa
chi trả cho ai.
Huỳnh Thị H yêu cầu chia di sản thừa kế số tiền 160.656.000đ: Ông chỉ
đồng ý chia số tiền đất lúa thu hồi 38.276.000đ yêu cầu nhận stiền chia thừa
kế do thu hồi đất ruộng. Riêng số tiền hỗ trợ bồi thường hoa màu n định đời
sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp tạo việc làm thuộc 05 nhân khẩu của gia
đình ông gồm: ông, bà Lưu Thị T1, anh Phạm Thanh K, chị Phạm Thanh N và anh
Phạm Thanh B1.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Trọng Q yêu cầu những người thừa
kế phải thanh toán 04 lượng vàng và 20.000.000 đồng: Nếu các anh chị em thống
nhất hoàn trả cho ông Hoàng Trọng Q1 thì ông đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Bà Huỳnh Thị Thu H1 trình bày: Thống nhất về mối quan hệ gia đình và cụ
Huỳnh Trọng Đ, cụ Nguyễn Thị T2 chết không để lại di chúc như nguyên đơn
được ủy quyền đã trình bày. thống nhất yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ
Huỳnh Trọng Đ, cụ Nguyễn Thị T2 để lại tiền đền do giải tỏa thửa ruộng số
550c có tục danh đám Đồng Xịa là 38.276.000 đồng, bà yêu cầu được nhận.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Trọng Q về việc yêu cầu cha mẹ của
cùng các anh chị em còn lại phải thanh toán 04 lượng vàng và 20.000.000 đồng
không chứng cứ nên không đồng ý. việc ông Q sửa nhà không thông
báo cho anh chị em trong gia đình, không có chứng cứ, khi bà nội còn sống cha m
của bà cũng bỏ tiền chi phí viện phí và mai táng phí cho bà nội.
5
- Ông Huỳnh Huy H2 trình bày: Thống nhất về mối quan hệ gia đình cũng
như yêu cầu của bà Huỳnh Thị Thu H1.
- Ông Phạm Thế V1 trình bày: Thống nhất về mối quan hệ trong gia đình,
hang thừa kế, di sản cụ Huỳnh Trọng Đ, Nguyễn Thị T2 để lại như các đương sự
trình bày. Năm 2023, nhà nước đám Đ1 xịa được bồi thường số tiền khoảng
158.000.000đ nhưng trong gia đình xảy ra tranh chấp nên đến nay chưa chi cho ai.
Đám ruộng này trước khi giải tòa thì do mẹ của ông Huỳnh Thị Thu B3 canh tác.
Mẹ mất năm 2019 thì anh Phạm Thế V làm. Việc giao ruộng m chỉ nói miệng
chứ không viết giấy tờ. Ông ngoại chết không để lại di chúc. Ông không biết
về biên bản họp gia đình ngày 11/6/2011 do ông bị tai nạn chấn thương cột sống
không đi lại được từ năm 2010.
Huỳnh Thị H kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là số tiền giải tỏa ruộng thì
ông không ý kiến yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp chia thừa kế thì k phần thừa ông được nhận, ông tự nguyện giao
lại cho ông Huỳnh Trọng Q nhận để thờ cúng ông nên đối với yêu cầu độc lập
của ông Q về việc thanh toán chi phí nuôi ngoại sửa chữa nhà thì ông không
liên quan, không có ý kiến và ông không có ý kiến gì đối với các di sản còn lại của
ông bà ngoại.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thị H3 ủy quyền cho ông
Phạm Thế V trình bày: Thống nhất theo nội dung trình bày ở phần trình bày của bị
đơn.
- Ông Huỳnh Trọng Q trình bày: Thống nhất về mối quan hệ gia đình như
nguyên đơn được ủy quyền đã trình bày.
Năm 1993 Nhà nước cấp cho mẹ (Nguyễn Thị T2) 01 thửa đất ruộng số
550c tờ bản đồ số 10 diện tích 380m
2
do mẹ sử dụng canh tác trồng lúa. Đến
khoảng năm 1998 thì mẹ giao thửa ruộng này lại cho Huỳnh Thị Thu B3 canh
tác, đến năm 2019 bà Ba bị bệnh chết thì vợ chồng con trai của bà B3 Phạm Thế
V - Lưu Thị Thủ trực T3 canh tác cho đến khoảng tháng 3-4 năm 2024 thì Nhà
nước thu hồi toàn bộ thửa ruộng này để mở đường bồi thường số tiền
160.656.000 đồng, do tranh chấp nên chưa giao cho ai. Cha mẹ chết không để
lại di chúc nhưng có di ngôn để lại toàn bộ nhà đất làm nhà tđường nên vào ngày
11/6/2011 tchức họp gia đình tại biên bản họp gia đình tất cả đều thống nhất
để lại nhà đất các tài sản khác đlàm di sản dùng vào việc thờ cúng để cho
con cháu nội ngoại đi về. Thời điểm đó có mời bà Huỳnh Thị H nhưng bà H không
đồng ý nên không có mặt và không ký trong biên bản.
Khoảng cuối năm 1998 đến tháng 2 năm 1999, mẹ bị bệnh tai biến mạch
máu não nên ông chữa bệnh cho mẹ Nguyễn Thị T2 tại khoa trung cao của bệnh
viện Đ2. Toàn bộ chi phí ông bỏ ra để lo, thphòng nằm khoa Trung cao
toàn bộ mua thuốc ngoài, ông bán 06 lượng vàng để chi phí cho mẹ ông. Năm
1999 nhà mđóng cửa, không ai ở, nhà xuống cấp nên ông Phạm Đình T4 (là
chồng của H) trực tiếp kêu thợ đến sửa nhà trước ông trực tiếp trả số tiền
7.700.000đ. Đến khoảng năm 2013 ông trực tiếp sửa nhà sau xây dựng nhà vệ
6
sinh, đóng giếng khoan phả nền sân, ông bán 01 lượng vàng để sửa. Cuối năm
2024 sau ngày đến Tòa án làm việc, ông đổ tông lối đi và toàn bộ sân nhà, chi
phí 20.000.000đ. Tổng cộng chi phí chữa bệnh cho mẹ và sửa chữa nhà là 08 lượng
vàng 20.000.000đ nên ông yêu cầu chia đều yêu cầu 4 người con phải thanh
toán lại cho ông. Nếu người nào không nhận tiền đền bù từ bồi thường thửa đất số
550c để tiền thờ cúng thì ông không yêu cầu thanh toán, nếu người nào nhận
tiền đền bù thì phải thanh toán cho ông số tiền bỏ ra chữa bệnh cho mẹ và sửa chữa
nhà.
Theo biên bản họp gia đình ngày 11/6/2011, gồm 04 người con Huỳnh H7,
Huỳnh Thị Thu B3, Huỳnh Trọng Q, Huỳnh Thị S thống nhất để đất của mẹ
làm di sản thờ cúng nên không chia. Ông yêu cầu áp dụng thời hiệu không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của Huỳnh Thị H thời hiệu khởi kiện đã hết theo
khoản 2 Điều 623 của Bộ luật dân sự 2015, còn tiền bồi thường hỗ trợ hoa màu
tiền hỗ trợ ổn định đời sống hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm thì ông
yêu cầu giao cho Phạm Thế V nhận.
Tại phiên tòa ông rút một phần yêu cầu độc lập về việc yêu cầu các thừa kế
thanh toán 04 lượng vàng mà ông đã bỏ ra chữa bệnh, mai táng phí, làm mcho
mẹ. Ông yêu cầu trừ chi phí 26.800.000đ mà ông bỏ ra sửa chữa nhà của cha mẹ
vào số tiền bồi thường thu hồi thửa đất số 550c và giao cho ông Phạm Thế V quản
số tiền này. Đối với nhà đất còn lại của cha mthì ông không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Ông Nguyễn Văn B trình bày: Ông là chồng của bà Huỳnh Thị S, ông được
bà S ủy quyền, thống nhất về mối quan hệ gia đình như nguyên đơn được ủy quyền
đã trình bày.
Năm 1993 cụ Huỳnh Trọng Đ, cụ Nguyễn Thị T2 được nhà nước cấp đất ở,
đất vườn 02 thửa đất ruộng tại thôn Đ, N, thị A, tỉnh Bình Định đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Nguyễn Thị T2. Năm nào
không nhớ, Nhà nước giải tỏa đền 01 thửa đất ruộng, tiền đền do Huỳnh
Thị Thu B3 nhận rồi giao lại cho ông Huỳnh Trọng Q nên ông không số tiền
bao nhiêu. Đầu năm 2024, Nhà nước tiếp tục giải tỏa thửa ruộng còn lại nhưng khi
phương án đền bù số tiền 158.550.400 đồng thì trong gia đình xảy ra tranh chấp
nên đến nay số tiền này chưa chi trả cho ai.
Lúc cụ Nguyễn Thị T2 còn sống thì ruộng do cụ T2 làm, sau khi cụ T2 chết
thì để cho con gái Huỳnh Thị Thu B3 cháu Phạm Thế V làm chứ cụ T2 không
có định đoạt cho bà Huỳnh Thị Thu B3 hay ông Phạm Thế V thửa ruộng này.
Tại biên bản họp gia đình ngày 11/6/2011 mặt vợ chồng ông tcác anh
em trong gia đình thống nhất giao cho Huỳnh Thị Thu B3 nhận số tiền đền
do thửa ruộng trước bị thu hồi để làm đường chứ không định đoạt giao cho
Huỳnh Thị Thu B3 thửa ruộng hiện tranh chấp.
Cụ Huỳnh Trọng Đ, cụ Nguyễn Thị T2 chết không để lại di chúc. Ông thống
nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H về việc chia di sản thừa kế do cụ
7
Huỳnh Trọng Đ, cụ Nguyễn Thị T2 để lại tiền đền do giải tỏa thửa ruộng số
550c tọa lạc tại thôn Đ, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định với số tiền là 158.550.400đ,
đối với kỷ phần được chia thì yêu cầu giao cho Huỳnh Thị S nhận. Đối với các
di sản khác của cụ Huỳnh Trọng Đ, cụ Nguyễn Thị T2 thì không tranh chấp, không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Trọng Q về việc yêu cầu S phải
thanh toán vàng để chữa bệnh cho cụ T2 sửa chữa nhà thì ông không đồng ý.
Ngoài ra ông không có ý kiến yêu cầu nào khác.
- Nguyễn Thị M trình bày: Thống nhất về mối quan hệ gia đình như
nguyên đơn được ủy quyền trình bày.
Năm 1993 cha mẹ chồng Huỳnh Trọng Đ, Nguyễn Thị T2 được nhà nước
cấp diện tích đất ở, đất vườn 02 thửa đất ruộng tại thôn Đ, N, thị A, tỉnh
Bình Định, đất đai và giấy tờ do các em quản lý nên bà không năm rõ thông tin các
thửa đất. Năm nào không nhớ, Nhà nước giải tỏa đền bù 01 thửa ruộng của cha m
chồng, số tiền này do Huỳnh Thị Thu B3 nhận rồi giao lại cho ông Huỳnh
Trọng Q nên không số tiền bao nhiêu. Năm 2023, Nhà nước tiếp tục giải
tỏa thửa ruộng còn lại nhưng khi phương án đền thì trong gia đình xảy ra
tranh chấp nên đến nay số tiền này chưa chi trả cho ai, bà chỉ nghe nói lại là đền bù
do giải tỏa đất ruộng còn số tiền cụ thể bao nhiêu thì không rõ.
Cha mẹ chồng Huỳnh Trọng Đ, Nguyễn Thị T2 chết không để lại di chúc.
Lúc mẹ chồng Nguyễn Thị T2 còn sống thì ruộng do mẹ chồng làm, sau khi mẹ
chồng chết thì ai trực tiếp làm bà không rõ.
Tại biên bản họp gia đình ngày 11/6/2011 nội dung các người con của cụ
Huỳnh Trọng Đ, cụ Nguyễn Thị T2 thống nhất giao cho Huỳnh Thị Thu B3
nhận tiền đền bù do thửa ruộng trước bị thu hồi để làm đường chứ không định đoạt
đối với thửa ruộng hiện tranh chấp. Nay Huỳnh Thị H yêu cầu chia di sản thừa
kế của cha mẹ chồng Huỳnh Trọng Đ, Nguyễn Thị T2 đlại tiền đền do giải
tỏa thửa ruộng số 550c tục danh đám Đồng xịa tọa lạc tại thôn Đ, N, thị
A, tỉnh Bình Định với số tiền là 158.550.400đ thì bà đồng ý yêu cầu được nhận
theo kỷ phần được chia. Đối với các di sản khác của cụ Huỳnh Trọng Đ, cụ
Nguyễn Thị T2 thì bà không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra
không có ý kiến yêu cầu nào khác.
- Ban quản lý dự án thị A (nay là UBND A) trình bày: Ban Q2 đất thị
xã A thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án đường kết nối giao
thông hai tuyến ĐT.636 ĐT.638 (N N), địa điểm xã N, trong đó
thửa đất lúa số 550c thuộc tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại thôn Đ, N đứng tên
Nguyễn Thị T2 bị thu hồi để thực hiện dự án này. Diện tích thửa đất 466,8m
2
, diện
tích thu hồi 466,8m
2
(ảnh hưởng 3858m
2
, thu hồi thêm 81m
2
), diện tích còn lại 0.
Căn cứ quyết định số 6582/QĐ-UBND ngày 27/7/2023 của UBND thị A
về việc thực hiện phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng
mặt bằng thực hiện đầu xây dựng công trình: Đường kết nối giao thông hai
8
tuyến ĐT.636 và ĐT.638 (xã N và xã N) tại xã N, tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là
160.656.000đ, trong đó:
Bồi thường đất nông nghiệp là 38.277.600đ = 466,8m
2
x 82.000đ/m
2
Hỗ trợ tự chuyển đổi nghề nghiệp việc làm: 114.832.800đ = 466,8m
2
x 3
x 82.000đ/m
2
Hỗ trợ ổn định đời sống: 5.445.000đ = 5 người x 3 tháng x 30kg
gạo/người/tháng x 12.100 đồng/kg (cho hộ đang quản lý sử dụng đất)
Bồi thường về hoa màu thực tế trên đất: 2.100.600đ = 466,8m
2
x
4.500đ/m
2
Vì đang tranh chấp nên các đồng thừa kế chưa nhận tiền.
- Lưu Thị T1 trình bày: Thống nhất về mối quan hệ gia đình cũng như ý
kiến yêu cầu của chồng là ông Phạm Thế V.
- Anh Phạm Thanh K trình bày: Trong quá trình trưởng thành cùng bà nội và
ba mẹ, khi bà nội mất để lại thửa ruộng cho mẹ làm. Nay tranh chấp thống nhất
theo ý kiến của ba mẹ.
- Chị Phạm Thanh N trình bày: Trong quá trình trưởng thành cùng bà nội và
ba mẹ, khi bà nội mất để lại thửa ruộng cho mẹ làm. Nay tranh chấp thống nhất
theo ý kiến của ba m.
Tại Bản án dân sự sơ số 21/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị H.
Xác định số tiền 38.277.600 đồng (Ba mươi tám triệu hai trăm bảy ơi bảy nghìn
sáu trăm đồng) Nhà nước bồi thường do thu hồi thửa đất lúa số 550
c
tờ bản đồ
số 1 có tọa lạc tại thôn Đ, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (nay là thôn Đ, xã A, tỉnh
Gia Lai) tài sản chung của hộ gia đình cụ Nguyễn Thị T2, cụ Huỳnh Trọng Đ.
Trong đó phần cụ T2 là 19.138.800 đồng (Mười chín triệu một trăm ba mươi tám
nghìn tám trăm đồng); phần cụ Đ 19.138.800 đồng (Mười chín triệu một trăm ba
mươi tám nghìn tám trăm đồng).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Trọng Q về áp dụng
thời hiệu. Xác định di sản của cụ Huỳnh Trọng Đ là số tiền 19.138.800 đồng
(Mười chín triệu một trăm ba ơi tám nghìn tám trăm đồng) từ bồi thường quyền
sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi thửa đất số 550c, tờ bản đsố 10 tại
thôn Đ, N, thị A, tỉnh Bình Định (nay thôn Đ, A, tỉnh Gia Lai) hết thời
hiệu chia thừa kế.
3. Giao cho hộ gia đình ông Phạm Thế V được nhận sở hữu số tiền hỗ trợ
chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm 114.832.800 đồng, số tiền htrợ ổn định đời
sống 5.445.000 đồng số tiền bồi thường hoa màu 2.100.600 đồng, tổng
cộng 122.378.400 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu ba trăm bảy mươi tám nghìn,
bốn trăm đồng). Hộ gia đình ông Phạm Thế V được quyền liên hệ với UBND xã A
9
để nhận số tiền 122.378.400 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu ba trăm bảy ơi
tám nghìn, bốn trăm đồng).
4. Giao ông Phạm Thế V được nhận shữu stiền 20.414.720 đồng (Hai
mươi triệu bốn trăm mười bốn nghìn bảy trăm hai ơi đồng). Ông Phạm Thế V
được quyền liên hệ với UBND A đnhận số tiền 20.414.720 đồng (Hai mươi
triệu bốn trămời bốn nghìn bảy trăm hai mươi đồng).
5. Giao Huỳnh Thị H được nhận sở hữu số tiền 3.827.760 đồng (Ba triệu
tám trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm sáu mươi đồng). Huỳnh Thị H được
quyền liên hệ với UBND A để nhận số tiền 3.827.760 đồng (Ba triệu tám trăm
hai mươi bảy nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).
6. Giao ông Huỳnh Trọng Q được nhận số tiền 5.103.680 đồng (Năm triệu
một trăm lẻ ba nghìn sáu trăm tám mươi đồng). Ông Huỳnh Trọng Q được quyền
liên hệ với UBND xã A để nhận số tiền 5.103.680 đồng (Năm triệu một trăm lẻ ba
nghìn sáu trăm tám mươi đồng).
7. Giao Huỳnh Thị S được nhận sở hữu số tiền 3.827.760 đồng (Ba triệu
tám trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm sáu mươi đồng). Huỳnh Thị S được
quyền liên hệ với UBND A để nhận số tiền 3.827.760 đồng (Ba triệu tám trăm
hai mươi bảy nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).
8. Giao Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị Thu H1, ông Huỳnh Huy H2, bà
Phạm Thị H3 mỗi người được nhận sở hữu số tiền 1.275.920 đồng (Một triệu hai
trăm bảy mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi đồng). Nguyễn Thị M, Huỳnh
Thị Thu H1, ông Huỳnh Huy H2, Phạm Thị H3 được quyền liên hệ với UBND
A đnhận số tiền 1.275.920 (Một triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn chín trăm
hai mươi đồng).
9. Đình chỉ một phần yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Trọng Q về việc yêu
cầu các đồng thừa kế thanh toán 04 lượng vàng, do ông Q rút yêu cầu.
10. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Trọng Q về việc trừ số
tiền 26.860.000 đồng vào số tiền thu hồi đất vì không có căn cứ.
11. Không chấp nhận đơn khởi kiện bổ sung ngày 18/8/2025 của nguyên đơn
Huỳnh Thị H và đơn ngày 21/8/2025 đứng tên Huỳnh Thị S về việc chia thừa
kế đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ số 11, diện tích 1.504m² (200m² đất
1.304m² đất vườn) tọa lạc tại thôn Đ, N, thA, tỉnh Bình Định, vượt quá
phạm vi khởi kiện ban đầu.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí dân sự sơ thẩm, chi
phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02/10/2025, nguyên đơn Huỳnh Thị H, người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Huỳnh Thị S đơn kháng cáo đề nghị hủy Bản án số
21/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai.
Ngày 26/9/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Trọng Q
có đơn kháng cáo đề nghị xem xét công nhận Biên bản họp gia đình ngày
10
11/6/2011 04 thành viên hàng thừa kế thứ nhất thỏa thuận đưa kỷ phần thừa kế
của mình được hưởng vào làm di sản thờ cúng; bác toàn bộ đơn khởi kiện của bà H
đã hết thời hiệu; xem xét phần chi phí hợp của ông Q đã bỏ ra để di tu, sửa
chữa, bảo quản di sản.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
- Người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai phát biểu: Người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng;
đồng thời đnghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của H, bà S,
ông Q giữ nguyên Bản án dân sự số 21/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Huỳnh Thị Thu H1, ông Huỳnh Huy H2, ông Phạm Thế
V1, Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Thái H5 người đại diện theo ủy quyền của
UBND xã A, anh Phạm Thanh K, chị Phạm Thanh N là những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai mà vắng mặt. Theo khoản 3
Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Xét kháng cáo của bà Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị S đề nghị hủy Bản án
thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 2 Gia Lai; Ông Huỳnh Trọng Q đề nghị công nhận Biên bản họp gia đình
ngày 11/6/2011, bác toàn bộ đơn khởi kiện của bà H vì hết thời hiệu, xem xét phn
chi phí hợp lý của ông Q đã bỏ ra để di tu, sửa chữa, bảo quản di sản. Hội đồng xét
xử xét thấy:
[2.1] Về thời hiệu khởi kiện:
Cụ Huỳnh Trọng Đ chết ngày 30/3/1993 (Theo trích lục khai tử số
60/TLKT-BS và số 61/TLKT-BS ngày 28/3/2024 của UBND N), thời điểm mở
thừa kế của cụ Đ là ngày 30/3/1993. Cụ Nguyễn Thị T2 chết ngày 18/02/1999, thời
điểm mở thừa kế của cụ T2 là ngày 18/02/1999.
Di sản thừa kế của cụ Đ, cụ T2 thửa đất 550c đã bị thu hồi được bồi
thường, hỗ trợ số tiền 160.656.000đ theo Quyết định số 6582/QĐ-UBND ngày
27/7/2023 của UBND thị xã A. Ngày 02/4/2024, bà Huỳnh Thị H khởi kiện chia di
sản thừa kế số tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi thửa đất 550c. Cấp sơ thẩm xác
định di sản của cụ Đ hết thời hiệu khởi kiện, di sản của cụ Nguyễn Thị T2 còn thời
hiệu khởi kiện đúng quy định khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự Thời hiệu để
11
người thừa kế yêu cầu chia di sản 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với
động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế”.
[2.2] Về Biên bản họp gia đình ngày 11/6/2011:
Ông Hoàng Trọng Q1 cho rằng Biên bản họp gia đình ngày 11/6/2011 đã
thỏa thuận số tiền bồi thường thửa đất số 550c di sản dùng o việc thờ cúng.
Tuy nhiên, qua xem xét Biên bản ngày 11/6/2011, ông Huỳnh B2, Huỳnh Thị
Thu B3, ông Huỳnh Trọng Q Huỳnh Thị S chỉ thỏa thuận việc giao số tiền
bồi thường của thửa đất 163a tờ bản đồ số 11 cho bà Huỳnh Thị Thu B3 nhận,
không thỏa thuận số tiền bồi thường thửa đất số 550c di sản dùng vào việc thờ
cúng. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Trọng Q1 là có
căn cứ.
[2.3] Về di sản thừa kế, người thừa kế, chia di sản thừa kế:
[2.3.1] Thửa đất số 550c, tờ bản đồ số 1, diện tích 380m
2
địa chỉ: thôn Đ,
N, thị A, tỉnh Bình Định bị thu hồi và được bồi thường số tiền 160.656.000đ.
Trước khi bị Nhà nước thu hồi thửa đất này do vợ chồng ông Phạm Thế V trực tiếp
quản lý sử dụng.
[2.3.2] Căn cứ Công văn số 10/UBND ngày 20/01/2025 của UBND N,
đơn đăng quyền sử dụng đất ngày 10/3/1993 đứng tên Nguyễn Thị T2 Công
văn số 37/CAX ngày 28/02/2025 của Công an N, lời khai của các đương s
các tài liệu chứng cứ sở xác định thửa đất số 550c, tờ bản đồ số 1, diện ch
380m
2
đất lúa được giao cho hộ gia đình cụ Nguyễn Thị T2, tại thời điểm cân đối
giao quyền s dụng ruộng đất 02 nhân khẩu gồm cụ Nguyễn Thị T2 và cụ
Huỳnh Trọng Đ.
[2.3.3] Căn cứ quyết định số 6582/QĐ-UBND ngày 27/7/2023 của UBND
thị A, thửa đất 550c bị thu hồi, được bồi thường, hỗ trợ số tiền 160.656.000đ,
trong đó: Bồi thường đất nông nghiệp 38.277.600đ, hỗ trợ tự chuyển đổi nghề
nghiệp việc làm 114.832.800đ; hỗ trợ ổn định đời sống 5.445.000đ bồi
thường về hoa màu thực tế có trên đất 2.100.600đ. Xét thấy:
Đối với khoản bồi thường về hoa màu 2.100.600đ: Các đương sự thống nhất
giao cho hộ gia đình ông Phạm Thế V, không tranh chấp số tiền này.
Đối với số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp 114.832.800đ tiền hỗ trợ
ổn định đời sống 5.445.000đ, tổng cộng 120.277.800đ: Tại thời điểm Nhà nước thu
hồi thửa đất, cụ Đ cụ T2 đã chết. Hộ ông Phạm Thế V đang trực tiếp quản
canh tác thửa đất này và sử dụng sản xuất nông nghiệp ổn định. Do đó, cấp
thẩm xác định số tiền 120.277.800đ không phải di sản thừa kế của cụ Đ, cụ T2
hộ gia đình ông Phạm Thế V được nhận số tiền 120.277.800đ đúng quy định
Điều 83, Điều 84 Luật Đất đai năm 2013 Điều 109 Luật Đất đai năm 2024:
“…htrợ đào tạo, chuyển đổi nghề tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân
trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp”.
Đối với số tiền bồi thường về đất: Diện tích đất bị thu hồi 466,8m² được bồi
thường số tiền 38.277.600đ. Cấp thẩm xác định stiền 38.277.600đ tài sản
12
chung của cụ Nguyễn Thị T2, cụ Huỳnh Trọng Đ là đúng như đã phân tích tại mục
[2.3.2], mỗi người 19.138.800đ. Di sản của cụ Huỳnh Trọng Đ 19.138.800đ
nhưng hết thời hiệu khởi kiện ông Huỳnh Trọng Q yêu cầu áp dụng thời
hiệu. Do đó, cấp thẩm xác định số tiền 19.138.80thuộc vngười trực tiếp
quản di sản, ông Phạm Thế V đúng quy định khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân
sự.
[2.3.4] Cụ Nguyễn Thị T2 chết không để lại di chúc. Di sản của cụ T2 để lại
là số tiền 19.138.800đ. Cấpthẩm chia số tiền 19.138.800đ cho hàng thừa kế thứ
nhất của cụ Nguyễn Thị T2 gồm ông Huỳnh B2, Huỳnh Thị H, ông Huỳnh
Trọng Q, Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị Thu B3, mỗi người 3.827.760đ đúng
quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự.
[2.3.5] Ông Huỳnh B2 chết năm 2019. Phần ông B2 được chia từ cụ T2
3.827.760đ được cấp sơ thẩm chia cho Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị Thu H1,
ông Huỳnh Huy H2, mỗi người 1.275.920đ đúng quy định tại Điều 651 Bộ luật
Dân sự.
[2.3.6] Huỳnh Thị Thu B3 chết năm 2017. Phần B3 được chia từ cụ
T2 3.827.760đ được cấp sơ thẩm chia cho ông Phạm Thế V, ông Phạm Thế V1,
Phạm Thị H3, mỗi người 1.275.920đ đúng quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân
sự. Tổng cộng, ông Phạm Thế V được nhận 20.414.720đ = 19.138.800đ +
1.275.920đ.
[2.3.7] Phần ông Phạm Thế V1 1.275.920đ. Ông V1 tự nguyện giao kỷ phần
thừa kế của mình cho ông Huỳnh Trọng Q. Sự tự nguyện của ông V1 không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức hội nên cấp thẩm ng nhận
đúng quy định Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tổng cộng, ông Huỳnh Trọng Q
được nhận 5.103.680đ = 3.827.760đ + 1.275.920đ.
[2.4] Về yêu cầu của ông Huỳnh Trọng Quốc T5 số tiền bỏ ra sửa chữa nhà
26.860.000đ vào số tiền bồi thường đất giao số tiền này cho ông Phạm Thế V
quản lý:
Ông Quốc cung C bản đơn giá phần thô nội thất số tiền 26.860.000đ (bút
lục 103) nhưng chỉ bảng đơn giá không thể hiện việc sửa chửa nhà tại đâu.
Việc ông Q sửa chữa nkhông được các thừa kế khác thừa nhận. Tại phiên a
phúc thẩm ông Q xác định chi phí sữa chữa liên quan nhà đất thuộc thửa 47, không
chi phí cho thửa đất số 550c bị thu hồi. Do đó, cấp thẩm không chấp nhận yêu
cầu của ông Q căn cứ. Ông Q được quyền khởi kiện yêu cầu khi chia di sản
thừa kế của thửa đất số 47 nếu cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh.
[2.5] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của ông Huỳnh Trọng Q, bà Huỳnh Thị H, bà Huỳnh Thị S.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 2 của Luật Người cao tuổi
điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
13
thu, nộp quản sử dụng án phí lệ p Tòa án, ông Huỳnh Trọng Q,
Huỳnh Thị H, bà Huỳnh Thị S thuộc người cao tuổi nên được miễn án phí.
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị không chấp nhận
kháng cáo của ông Huỳnh Trọng Q, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị S, giữ nguyên
Bản án dân ssố 21/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 2 – Gia Lai là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ c Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật
Dân sự;
Căn cứ các Điều 83, 84 Luật Đất đai năm 2013, các Điều 26, 27, 109 Luật
Đất đai năm 2024;
Căn cứ Điều 2 của Luật Người cao tuổi điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Trọng Q, Huỳnh Thị H,
Huỳnh Thị S.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Trọng Q, Huỳnh Thị H, bà Huỳnh
Thị S được miễn nộp án phí.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tnh Gia Lai;
- TAND khu vc 2 Gia Lai;
- Phòng THADS khu vc 2, tnh Gia Lai;
- Các đương sự;
- Lưu: TDS, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TO PHIÊN TOÀ
Võ Th Hng Thu
Tải về
Bản án số 74/2026/DS-PT Bản án số 74/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 74/2026/DS-PT Bản án số 74/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất