Bản án số 42/2026/HS-PT ngày 24/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 42/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 42/2026/HS-PT ngày 24/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 42/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/03/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo Nguyễn Bá L bị kết án về tội "Bắt người trái pháp luật" theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN T
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 42/2026/HS-PT.
Ngày: 24/3/2026.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vũ;
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Phượng;
Bà Lê Thị Thọ.
- Thư phiên tòa: Ông Phan Minh Nhựt - Thư viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Ttham gia phiên tòa:
Ông Bùi Văn- Kiểm sát viên.
Ngày 24/3/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ (Số A, đường
N, phường A, thành phố Cần Thơ), xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hình sự thụ
số 17/2026/TLPT-HS ngày 29/01/2026 đối với bị cáo Nguyễn L do kháng
cáo của bị cáo Nguyễn L đối với Bản án hình sự thẩm số 39/2025/HS-ST
ngày 16/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực X - Cần Thơ.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn L; sinh ngày: 20/11/1991; nơi sinh: thành
phố Cần Thơ (tỉnh Sóc Trăng cũ); nơi trú: Ấp Đ, xã N, thành phố Cần Thơ;
nghề nghiệp: nguyên cán bộ Công an; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ú
Đặng Thu H; vợ Trần Ngọc L1; sinh năm: 1993 (đã ly hôn)
Nguyễn Thị Kim N; sinh năm: 1988 (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 2018;
tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi
nơi cư trú từ ngày 17/6/2025 cho đến nay. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá L: Ông Nguyễn Văn Đ - luật sư của
Công ty L4 thuộc Đoàn luật sư thành phố C; địa chỉ trụ sở Công ty: Số B, đường
T, phường N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Bị hại: Ông Phạm Minh K; sinh ngày: 15/8/1987; nơi trú: ấp H, H,
thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công an N, thành phố
Cần Thơ.
2
Người đại diện hợp pháp của Công an N: Ông Nguyễn Thanh B; chức
vụ: Phó Trưởng Công an xã N, thành ph Cần Thơ; địa chnơi làm việc: Công an
xã N, thành ph Cần Thơ. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị Kim N; sinh năm: 1988; nơi cư trú: ấp L, xã N, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt)
2. Lê Thị T; sinh ngày: 10/10/1988; nơi trú: ấp H, H, thành phố Cần
Thơ. (có mặt)
3. Ông Phát Tấn Đ1; sinh năm: 1981; nơi trú: ấp H, H, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt)
4. Ông TThanh H1; sinh năm: 1978; nơi trú: ấp H, phường M, thành
phố Cần Thơ. (vắng mặt)
5. Ông Lý Minh H2; sinh năm: 1991; nơi cư trú: ấp T, phường M, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt)
6. Ông Lê Thanh T1; sinh năm: 1966; nơi cư trú: ấp K, xã N, thành phố Cần
Thơ. (vắng mặt)
7. Thạch Thị K1; sinh năm: 1978; nơi trú: ấp S, N, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt)
8. Ông Tấn H3; sinh năm: 2000; nơi trú: ấp P, N, thành phố Cần
Thơ. (vắng mặt)
9. Ông Bạch H4; sinh năm: 1987; nơi trú: ấp H, phường M, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt)
- Điều tra viên: Ông Trần Văn N1; nơi công tác: Công an N, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Bá L và bà Nguyễn Thị Kim N là vợ chồng, thời gian chung
sống từ năm 2022. Ngày 15/9/2023, bị cáo L hợp đồng thuê ncủa ông Thanh
C ấp S, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay xã N, thành phố Cần T) để mở
quán ăn uống Ngc L2 và giao cho bà N trực tiếp buôn bán hàng ngày. Đến ngày
19/9/2023, bị cáo và bà N ly hôn, nhưng bà N vẫn tiếp tục bán tại quán mà bị cáo
L2 đã thuê.
Vào năm 2022, bà N vay của ông Phạm Minh K số tiền 97.000.000 đồng.
Từ cuối năm 2023, ông K có đến quán N2 nhiều lần yêu cầu bà N trả tiền, nhưng
bà N chỉ hứa hẹn mà chưa hoàn trả. Đến sáng ngày 02/01/2024, ông K điều khiển
xe mô tô chở vcùng con là bà Lê Th Tcháu Phạm Xuân L3 đến quán gặp bà
N đòi nợ. Khi biết ông K chuẩn bị đến đòi nợ, N gọi điện thoại báo cho Nguyễn
3
L biết, thời điểm này L đang công tác tại Công an T (nay N), đang học
nghị quyết tại Ủy ban nhân dân T, L đang không trong ca trực cũng không
được lãnh đạo phân công giải quyết công việc, nhưng sau khi nghe N điện thoại
thì L tự ý bỏ học mặc trang phục cảnh sát chạy xe đến ngồi bên trong
quán với bà N.
Khi ông K đến đậu xe ở quán cà phê đối diện quán của L, ông K để cho vợ,
con vào uống nước, còn ông K đi bộ qua lộ đứng trước sân quán của L, thấy
có L ở bên trong và đang mặc trang phục cảnh sát nên ông K nói muốn gặp bà N
vì bà N hứa trả nợ cho ông K, thì L và bà N không nói gì. Ông K đứng trước cửa
quán đợi một lúc, thì L đứng dậy dùng tay chỉ vào ông K và nói ông K xâm nhập
gia cư bất hợp pháp, yêu cầu ông K ra khỏi nhà L, thì ông K không đồng ý và nói
mình không xâm nhập gia bất hợp pháp. Thấy ông K không đồng ý ra khỏi
quán nên bị cáo L đi lại xe mô tô của L đang đậu gần đó và mở cốp xe mô tô lấy
01 khóa số 8 (còng số 8) đi lại chỗ ông K đứng ri dùng tay trái chụp tay trái của
ông K, còn tay phải L cầm Khóa số 8 khóa vào cổ tay trái ông K và bóp khóa lại,
ông K xoay người vung tay phải lên thì bị L dùng tay trái tiếp tục chụp tay phải
ông K o xuống tra Khóa số 8 khóa vào cổ tay phải của ông K rồi bóp lại, khiến
cho 02 tay ông K đều bị còng lại với nhau trong tư thế 02 tay đặt phía trước bụng.
Tiếp theo, L dẫn ông K đi lại xe mô tô của L và kêu ông K n xe để đi đến tr s
Công an T nhưng ông K không chịu đi. Lúc này, T bên quán phê đối
diện thấy ông K bị L còng tay nên mới chạy qua dùng điện thoại ghi hình ghi âm
lại vụ việc, đồng thời yêu cầu L mở còng tay cho ông K nhưng L không mở
lên xe ngồi. Ngay sau đó, L gọi điện thoại cho ông Phát Tấn Đ1
Trưởng Công an T thông tin ông K tới quậy nên L còn ông K. Đồng thời,
ông K cũng gọi điện thoại báo cho ông Đ1 nói bL còng tay trái pháp luật tại quán
của L. Ông Đ1 phân công ông Tạ Thanh H1 Phó trưởng Công an xã T đến nơi
xảy ra vụ việc để xử lý. Khi ông H1 đến thì ông K không đồng ý cho mở còng tại
chỗ mà yêu cầu phải đến Công an xã T để giải quyết nên ông H1 chở ông K đến
trụ sở Công an xã T để làm việc và lập biên bản mở khóa còng cho ông K niêm
phong Khóa số 8 lại. Sau đó, ông K làm đơn tố giác L hành vi bắt người trái
pháp luật.
Trong quá trình điều tra, quan điều tra đã tiến hành thu giữ: 03 (ba) tiệp
video ghi nhận sviệc Phạm Minh K bị còng tay (do bà Thị T giao nộp), được
trích xuất ra đĩa DVD niêm phong đưa vào hồ vụ án; 01 (một) Giấy chứng nhận
sử dụng công cụ hỗ trợ, số hiệu I1719775; 01 (một) Khóa số 8 màu trắng, số hiệu
I1719775 (đã được niêm phong).
Trong quá trình điều tra, L khai nhận Khóa số 8 (còng s8) L dùng để
còng tay ông K là công cụ hỗ trợ được cấp cho Công anT, do ca trực trước đó
L được cấp mang theo, tuy nhiên khi hết ca trực thì L không bàn giao lại cho Công
an xã theo quy định mà vẫn để trong cốp xe ca mình cho đến ngày 02/01/2024.
Tại Bản kết luận giám định số 108/KLKTSĐT-KTHS ngày 23/01/2025 của
Phòng K2 - Công an tỉnh S kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa
nội dung hình ảnh trong các tệp video mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 và A3.
4
* Tại Bản án hình sự thẩm số 39/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực X - Cần Thơ quyết định như sau:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 157; điểm i khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và
Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024,
2025) đối với bị cáo Nguyễn Bá L.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá L phạm tội “Bắt người trái pháp luật”.
- X pht b cáo Nguyễn Bá L 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt
được tính kể từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc b bắt thi hành án.
- Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên vtrách nhiệm dân sự, vnghĩa vụ
chậm thi hành án, vxử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo
người tham gia tố tụng khác.
* Ngày 26/12/2025, bị cáo Nguyễn Bá L có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án thẩm số 39/2025/HS-ST ngày
16/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ, trả hồ sơ cho quan điều
tra.
* Ngày 24/3/2026, bị cáo Nguyễn Bá L nộp đơn xin thay đổi yêu cầu kháng
cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm hình phạt, cho bị cáo hưởng án
treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Bá L giữ nguyên nội dung kháng cáo đã thay đổi là yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc
giải quyết vụ án: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm
tội đã thực hiện, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm ti đã thực hiện. Hội đồng
xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Nguyễn Bá L phạm tội “Bắt người trái pháp luật”
theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung các năm 2017, 2024, 2025) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Đồng
thời, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự và áp dụng đối với bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại điểm i khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) là đúng quy định của pháp luật. Xét
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo L mức hình phạt 06 tháng tù là phù hợp, tương
xứng tính chất, mức đhành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo. Trong giai
đoạn xét xphúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo ăn
năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện, tự nguyện nộp số tiền 4.680.000
đồng tại Thi hành án dân sthành phố C để bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm
hình phạt cho bcáo. Đây là các tình tiết mới, đề nghị Hội đng xét xphúc thẩm
áp dụng thêm đối với bị cáo L các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình snăm 2015 (sửa đổi, bổ
sung các năm 2017, 2024, 2025). Xét bị cáo L bị xphạt không quá 03 năm,
5
có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ
ràng, bị cáo đã nhận thức được vi phạm, ăn năn hối cải và bị cáo còn khả năng tự
cải tạo đủ điều kiện xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65
của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025). Từ
những cơ sở trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm b khoản 1
Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tng hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025), chấp nhận một phần kháng cáo của bị
cáo Nguyễn Bá L, sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo hưởng án treo.
- Quan điểm ca người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá L: Thống nhất quan
điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên
tòa phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, áp dụng đối với bị
cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm i, điểm
s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung các năm 2017, 2024, 2025), từ đó chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, cho bị
cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025).
- Nói lời sau cùng tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn L xin giảm
hình phạt, xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên
tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Công an N, người làm chứng Nguyễn Thị Kim N, Phát Tấn Đ1, Tạ
Thanh H1, Minh H2, Thanh T1, Thạch Thị K1, Tấn H3, Bạch
H4 vắng mặt không do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; Điều tra viên
Trần Văn N1 đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét sự vắng mặt của họ không
gây cản trở cho việc xét xử vụ án, căn cứ vào các điều 351 và 299 của Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025), Hội đồng
xét xử phúc thẩm thống nhất quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn L lập ngày 25/12/2025 nộp tại Tòa án
cấp sơ thẩm vào ngày 26/12/2026 là đúng quy định của pháp luật về người kháng
cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều
331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm
2021, 2024, 2025). Đến ngày 24/3/2026, bị cáo Nguyễn L nộp tại Tòa án nhân
dân thành phố Cần Thơ đối với Đơn xin thay đổi yêu cầu kháng cáo do bị cáo L
lập ngày 24/3/2026, theo đó bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo. Căn
cứ vào các điều 342 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung các năm 2021, 2024, 2025), Hội đồng xét xphúc thẩm xem xét nội dung
6
kháng cáo của bị cáo Nguyễn L, về việc xin giảm hình phạt, xin hưởng án treo
theo trình tự phúc thẩm.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn L như sau: Vào lúc khoảng
gần 09 giờ ngày 02/01/2024, tại khu vực trước quán ăn N2 ấp S, xã T, huyện M,
tỉnh Sóc Trăng cũ (nay là ấp S, xã N, thành phố Cần Thơ), xuất phát từ việc ông
Phạm Minh K đến đòi nợ Nguyễn Thị Kim N (là vợ đã ly hôn của bị cáo
Nguyễn Bá L), giữa ông K bị cáo L xảy ra cự cãi, sau đó bị cáo L đã mở cốp
xe môlấy 01 khóa số 8 (còng số 8) khóa vào hai cổ tay của ông K yêu cầu
ông K lên xe của L về trụ sở Công an xã T làm việc nhưng ông K không đồng ý.
Sau đó, ông Tạ Thanh H1 là Phó trưởng Công an xã T được phân công đến xử lý
vụ việc, ông H1 chở ông K đến trụ sở Công an xã T để làm việc và lập biên bản
mở khóa còng cho ông K niêm phong Khóa số 8 lại. Đối với Nguyễn Bá L
cán bộ Công an T, tuy nhiên ngày 02/01/2024 L không được lãnh đạo Công an
T phân công trực phân công đến giải quyết vụ việc ông Phạm Minh K đòi
nợ bà Nguyễn Thị Kim N. Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân mà bị cáo L đã dùng
Khóa số 8 (còng s 8) khóa hai tay của ông K, khống chế ông K với mc đích đưa
về Công an T. Do đó, Hội đồng xét x sơ thẩm kết luận bị cáo Nguyễn L
phạm tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ
luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) là có căn cứ,
đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá L, về việc xin giảm hình phạt, xin
hưởng án treo: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử thẩm xác định bị cáo L
người có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có căn
cứ, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định b
cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo công
với cách mạng và áp dụng đối với bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) căn cứ, đúng pháp
luật. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai
nhận hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã
thực hiện, tự nguyện nộp số tiền 4.680.000 đồng tại Thi hành án dân sự thành phố
C để bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình
tiết mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm đối với bị cáo các tình tiết
giảm nhtrách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025). Xét Hội
đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo L mức án 06 tháng tù phù hợp quy định của
pháp luật và tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội của bị cáo gây ra, đặc điểm nhân thân các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo L bị xử phạt tù
không quá 03 năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nơi trú ràng
đủ điều kiện để xem xét, cân nhắc thể cho hưởng án treo theo quy định tại Điều
65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025)
và xét thấy bị cáo L còn có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo s
7
không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương
nên chấp nhận cho bcáo hưởng án treo ấn định thời gian thử thách theo quy
định của pháp luật.
[5] Từ những nhận định trên, căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 357 của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025), Hội
đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Cần Thơ, chấp nhận một phần đề nghị của người bào chữa cho bị cáo
Nguyễn L, chấp nhận mt phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá L, sửa quyết
định về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn L của bản án thẩm, cho bị cáo
hưởng án treo.
[6] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024,
2025) và điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ pTòa án. Do kháng cáo được chấp
nhận nên bị cáo Nguyễn Bá L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Giao Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ tiếp tục quản số tiền
4.680.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Bá L đã nộp theo Biên lai thu tiền s 0000917
ngày 24/3/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ để đảm bảo thi hành
án.
[8] Các phần khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 355 điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025).
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn L, về việc xin giảm
hình phạt, xin hưởng án treo. Sửa phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn
L của Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực X - Cần Thơ.
2. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 157; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51,
khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) đối với bị cáo Nguyễn Bá L.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về
tội “Bắt người trái pháp luật” và 01 (một) năm thử thách, thời gian thử thách tính
từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 24/3/2026.
Giao bị cáo Nguyễn L cho Ủy ban nhân dân N, thành phố Cần Thơ
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn L thay
đổi nơi trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Điều 68 của Luật
Thi hành án hình sự năm 2019.
8
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn L cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt
tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí phúc thẩm:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bsung năm 2021) điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
- Bị cáo Nguyễn Bá L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Giao Thi nh án dân sự thành phố Cần Thơ tiếp tục quản số tiền
4.680.000 đồng (bốn triệu, sáu trăm tám mươi ngàn đồng) mà bị cáo Nguyễn Bá
L đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000917 ngày 24/3/2026 của Thi hành án dân
sự thành phố Cần Thơ để đảm bảo thi hành án.
5. Các phần Quyết định khác của bản án hình sự thẩm không bị kháng
cáo, kháng nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
6. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ GĐ, KT 1-TANDTC (01);
- VKSND TP. Cần Thơ (01);
- TAND khu vực X-Cần Thơ (02);
- VKSND khu vực X-Cần Thơ (01);
- THADS TP. Cần Thơ (01);
- CQCSĐT-Công an TP. Cần Thơ (01);
- CQTHAHS-Công an TP. Cần Thơ (01);
- THADS khu vực X-Cần Thơ (01);
- UBND, Công an xã Nhu Gia,
TP.Cần Thơ (02);
- Bị cáo (01);
- Bị hại (01);
- Người TGTT khác (01);
- P.GĐ, KT, TTr & THA-TAND TP. CT (01);
- CQTHAHS-Công an TP. Cần Thơ (01);
- Phòng HSNV-Công an TP. Cần Thơ (01);
- Lưu HSVA, THS (04).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thanh Vũ
Tải về
Bản án số 42/2026/HS-PT Bản án số 42/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 42/2026/HS-PT Bản án số 42/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất