Bản án số 27/2024/DS-PT ngày 22/03/2024 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 27/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 27/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 27/2024/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 27/2024/DS-PT ngày 22/03/2024 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lâm Đồng |
Số hiệu: | 27/2024/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 22/03/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vụ Tuyến Ân |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 37/2024/DS-PT
Ngày: 22 - 3 - 2024
V/v “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế
để thi hành án theo quy định của pháp luật
về thi hành án dân sự”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Tâm
Ông Đặng Ngọc Bình
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm
Đồng.
- Đi din Vin Kim st nhân dân tnh Lâm Đồng: Bà Nguyễn Thị Thanh
Hương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 18 và 22 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 248/2023/TLPT-
DS ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng
chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án
nhân dân thành phố Đà Lạt bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 396/2023/QĐ-PT ngày
04/12/2023 và Thông báo số 69/TB-PT ngày 08/3/2024 về việc mở lại phiên tòa
xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Kim T, sinh năm 1979; địa chỉ: Số G Đ,
Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai S, sinh năm 1998; địa chỉ: Số A T,
Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Văn bản ủy quyền ngày 18/01/2024.
Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Phương Đại N -
Công ty L - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L; địa chỉ: Số A T, Phường D, thành phố
Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
2
2. Bị đơn: Ông Hoàng Thái Â, sinh năm 1978; bà Phan Thị T1, sinh năm
1979; địa chỉ: Lô A Khu Q - H, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa
chỉ liên lạc: Số A N, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Ông  có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị T1: Ông Hoàng Thái Â. Văn
bản ủy quyền ngày 02/8/2023. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Ngô Huy C; địa chỉ: Số G Đ, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm
Đồng. Vắng mặt.
3.2. Bà Vi Thị Thu T2; địa chỉ: Số A thôn A, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Có mặt.
3.3. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; trụ sở:
Số H đường C tháng B, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang K; chức vụ: Chi cục
trưởng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Xuân T3; chức vụ: Chấp hành viên.
Văn bản ủy quyền ngày 14/8/2023. Có mặt.
3.4. Văn phòng C1; trụ sở: Số E T, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương A; chức vụ: Trưởng Văn phòng.
Vắng mặt.
3.5. Chị Hoàng Thị Phương U; địa chỉ: Lô A Khu Q - H, Phường B, thành
phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
3.6. Anh Phan Văn B; địa chỉ: Lô A Khu Q - H, Phường B, thành phố Đ,
tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
3.7. Cháu Hoàng Thái T4, sinh năm 2006; địa chỉ: Lô A Khu Q - H, Phường
B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thái Â, bà Phan Thị T1; địa chỉ:
Lô A Khu Q - H, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Ông  có mặt.
4. Người làm chứng:
4.1. Bà Đặng Thị N1; địa chỉ: Số G T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm
Đồng. Vắng mặt.
4.2. Bà Ngô Thị Minh T5; địa chỉ: Số E B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh
Lâm Đồng. Vắng mặt.
4.3. Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh Đ1; trụ sở: Số B Khu H,
Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Hoàng Thị Kim T trình bày:
3
Ngày 01/9/2018, giữa bà và ông Â, bà T1 ký hợp đồng đặt cọc (viết tay)
thỏa thuận chuyển nhượng nhà và đất thuộc thửa đất số 630, tờ bản đồ số 10 (C69-
IV-B-a) tại Lô A, khu quy hoạch dân cư P-H, Phường B, thành phố Đ; ngày
01/9/2018, bà đưa trước cho ông Â, bà T1 1.800.000.000đ; ngày 01/10/2018, tại
Văn phòng C1 hai bên ký với nhau “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất” số 9139, quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGG với giá thỏa
thuận chuyển nhượng 5.500.000.000đ, ngày 01/10/2018 hai bên thỏa thuận hủy
hợp đồng trên bằng “Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất)” công chứng số 9140, quyển số 35TP/CC-
SCC/HĐGG và thỏa thuận ký “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất” công chứng số 9141, quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGG với
giá ghi trong hợp đồng 1.000.000.000đ. Ngày 01/10/2018, bà thanh toán số tiền
còn lại 3.700.000.000đ cho ông Â, bà T1, mục đích ký hợp đồng 9141 thay hợp
đồng 9139 để giảm thuế cho ông Â, bà T1. Còn giá chuyển nhượng thực tế vẫn là
5.500.000.000đ, bà đã thanh toán đủ; ngày 01/10/2018, ông Â, bà T1 giao nhà đất
cho bà. Sau khi nhận chuyển nhượng bà nộp hồ sơ chuyển nhượng đến Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ để sang tên nhưng do Tòa án áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của bà T2 và Chi cục thi hành án dân
sự thành phố Đà Lạt có văn bản yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nên
chưa thực hiện được thủ tục sang tên cho bà, hiện nay giấy chứng nhận quyền sử
dụng nhà đất vẫn đứng tên ông Â, bà T1.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận “Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” số 9139, quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGG
do Văn phòng C1 công chứng ngày 01/10/2018; hủy “Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất)” số 9140, quyển
số 35TP/CC-SCC/HĐGG và hủy “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất” số 9141 do Văn phòng C1 công chứng cùng ngày
01/10/2018 vì hợp đồng số 9140 và 9141 vô hiệu do giả tạo nhằm cho dấu hợp
đồng số 9139. Nguyên đơn không yêu cầu đo vẽ, thẩm định giá tài sản tranh chấp,
không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Hiện hộ khẩu của bà đăng ký tại số G Đ, Phường H, thành phố Đ, nhà đất
tại Lô A khu Q-H, Phường B, thành phố Đ chỉ có một mình bà sinh sống, còn
chồng con của bà sinh sống tại số G Đ, Phường H, thành phố Đ.
Bị đơn ông Hoàng Thái Â, bà Phan Thị T1 trình bày:
Ông bà thống nhất với trình bày và yêu cầu của nguyên đơn. Ông bà đã
chuyển nhượng nhà đất trên cho bà T với giá 5.500.000.000đ theo “Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” số 9139, quyển số
35TP/CC-SCC/HĐGG do Văn phòng C1 công chứng ngày 01/10/2018. Để giảm
thuế, hai bên thỏa thuận hủy hợp đồng số 9139 bằng “Hợp đồng hủy bỏ Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất)” công chứng số
9140, quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGG do Văn phòng C1 công chứng ngày
01/10/2018, cùng ngày hai bên ký “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất” số 9141 do Văn phòng C1 công chứng ngày 01/10/2018
4
với giá ghi trong hợp đồng 1.000.000.000đ. Việc ký kết các hợp đồng trên là sự
tự nguyện của hai bên, không bị ai ép buộc, ông bà xác định mục đích ký lại hợp
đồng chuyển nhượng với giá 1.000.000.000đ thay cho hợp đồng giá
5.500.000.000đ là để giảm tiền đóng thuế với Nhà nước. Sau khi ký xong hợp
đồng chuyển nhượng, ông bà đã nhận đủ số tiền 5.500.000.000đ của bà T, khoản
tiền này trả nợ vay cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ để lấy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ra giao cho bà T và ông bà đã bàn giao nhà đất cho bà T, khi
giao nhà đất hiện trạng đúng như thời điểm Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ, bà
T quản lý sử dụng không xây dựng gì thêm.
Ông bà đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không yêu cầu
đo vẽ, thẩm định giá đối với tài sản tranh chấp, không yêu cầu giải quyết hậu quả
của hợp đồng vô hiệu.
Ngoài tài sản trên ông bà không còn tài sản nhà đất nào khác, hiện ông bà
đang cư trú tại số A N, Phường E, thành phố Đ là ở nhờ nhà của bố mẹ ông Â.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vi Thị Thu T2 trình bày:
Giữa bà và ông Â, bà T1 có mối quan hệ làm ăn với nhau từ năm 2017; ông
Â, bà T1 là người thu mua heo và bà là người chỉ dẫn cho ông Â, bà T1 để mua
heo. Quá trình thỏa thuận làm ăn, ông Â, bà T1 trả tiền mua heo cho bà, còn bà là
người đứng ra trả tiền cho các chủ heo. Tuy nhiên, thời gian sau đó ông Â, bà Thu
M heo mà không trả tiền cho bà nên bà khởi kiện ông Â, bà T1.
Trong quá trình bà đang yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án, được biết ông Â,
bà T1 đã làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất cho bà T (em gái ông Â) nên bà yêu
cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm ngăn chặn không cho ông
Â, bà T1 tẩu tán tài sản để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà.
Vụ kiện của bà được Tòa án giải quyết bằng Bản án số 109/2020/DS-PT
ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Sau khi bản án có hiệu lực
pháp luật, bà làm đơn yêu cầu Chi cục Thi hành án nhân dân thành phố Đà Lạt thi
hành án để yêu cầu ông Â, bà T1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bà
5.788.037.000đ.
Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T, hiện tài sản trên đứng tên
ông Â, bà T1 và là tài sản để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án cho bà. Bà không có
yêu cầu độc lập, không yêu cầu đo vẽ, thẩm định giá, đề nghị Tòa án giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt do ông Cao Xuân T3 đại diện
theo ủy quyền trình bày:
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt không đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của bà T. Đề nghị Tòa án không công nhận “Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” số công chứng 9139, quyển số
35TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/10/2018 do Văn phòng C1. Do hiện nay tài sản
nhà đất trên đứng tên ông Â, bà T1, là tài sản duy nhất của ông Â, bà T1 được Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt thực hiện thủ tục kê biên để bảo đảm
5
nghĩa vụ thi hành án của ông Â, bà T1 theo đơn yêu cầu thi hành án của bà T2
theo nội dung Bản án số 109/2020/DS-PT ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng. Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt không có yêu cầu
độc lập, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Huy C trình bày:
Ông là chồng của bà T. Ngày 01/9/2018, vợ chồng ông lập hợp đồng đặt
cọc để nhận chuyển nhượng nhà đất trên của ông Â, bà T1. Ngày 01/10/2018, vợ
chồng ông cùng ông Â, bà T1 thỏa thuận ký hợp đồng để nhận chuyển nhượng
nhà đất trên do Văn phòng C1 chứng nhận. Ngay sau khi hợp đồng được ký kết,
vợ chồng ông đã thanh toán đủ tiền, nhận tài sản nhà đất, có lập giấy nhận tiền
bán nhà và bàn giao nhà đất, nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa của Ủy ban nhân dân
thành phố Đ để hoàn tất thủ tục sang tên.
Ngày 08/10/2018, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt ban hành Quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 12/2018/QĐ-BPKCTT về việc phong tỏa
khối tài sản trên để đảm bảo việc thi hành án đối với người có nghĩa vụ là ông Â,
bà T1. Ngày 09/10/2020, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt ban hành Quyết định
hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số 569/2020/QĐ-BPKCTT để hủy bỏ Quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 12/2018/QĐ-BPKCTT ngày
08/10/2018. Ngày 02/11/2020, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt ban
hành Quyết định về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất số 05/QĐ-
CCTHADS.
Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Văn phòng C1 do ông Trương A trình bày:
Ngày 01/10/2018, Văn phòng C1 chứng thực các hợp đồng gồm: Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 9139,
quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất) số công chứng 9140, quyển số
35TP/CC-SCC/HĐGD và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất số công chứng 9141, quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGD theo yêu
cầu của bà T và ông Â, bà T1.Nay các bên tranh chấp, đề nghị Tòa án giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Anh Phan Văn B trình bày: Anh là cháu của bà T, anh xác nhận anh chỉ đến
nhà bà T chơi và ở lại mấy hôm tại địa chỉ Lô A khu Q-H, Phường B, thành phố
Đ, anh không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án này.
Chị Hoàng Thị Phương U, anh Hoàng Thái T4 trình bày: Anh chị là con
của ông Â, bà T1; hiện anh chị không sinh sống tại Lô A khu Q-H, Phường B,
thành phố Đ. Anh chị đang sinh sống tại số A N, Phường E, thành phố Đ, anh chị
không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án này.
Người làm chứng Ngân hàng thương mại cổ phần Đ-Chi nhánh Đ1 do ông
Cao Tiến T6 đại diện trình bày:
6
Ngày 07/02/2018, bà T1 ký hợp đồng vay vốn số
115/2018/7412520/HĐTD tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ-Chi nhánh Đ1
với số tiền 2.500.000.000đ, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CD484348 do Sở tài nguyên và Môi trường
tỉnh L cấp ngày 15/02/2017. Ngày 01/10/2018, bà T1 tất toán khoản vay trên,
ngân hàng đã giao trả tài sản thế chấp trên cho bà T1, ông Â. Hiện tại bà T1, ông
 không có bất kỳ nghĩa vụ trả nợ nào tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ-Chi
nhánh Đ1.
Người làm chứng bà Ngô Thị Minh T5 trình bày:
Bà T cần một khoản tiền để mua lại nhà đất đang thế chấp tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Đ-Chi nhánh Đ1 của ông Â, bà T1 nên ngày 01/10/2018 bà
cho vợ chồng bà T vay tiền và đích thân bà đã nộp số tiền 1.200.000.000đ vào
Ngân hàng để giải chấp tài sản trên. Đối với việc khởi kiện của bà T, bà không có
ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng bà Đặng Thị N1 trình bày:
Bà T cần một khoản tiền để mua lại nhà đất đang thế chấp tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Đ-Chi nhánh Đ1 của ông Â, bà T1 nên ngày 01/10/2018 bà
cho vợ chồng bà T vay tiền và đích thân bà đã nộp số tiền 1.300.000.000đ vào
Ngân hàng để giải chấp tài sản trên. Đối với việc khởi kiện của bà T, bà không có
ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án
nhân dân thành phố Đà Lạt. Xử.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp liên quan đến
tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân
sự” của bà Hoàng Thị Kim T đối với ông Hoàng Thái Â, bà Phan Thị T1 về việc
yêu cầu tuyên hủy “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất” công chứng số 9141, quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng
C1 công chứng ngày 01/10/2018.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Kim T đối
với ông Hoàng Thái Â, bà Phan Thị T1 về việc công nhận “Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” số 9139, quyển số
35TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 công chứng ngày 01/10/2018 và yêu cầu
hủy “Hợp đồng hủy hỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tài sản
gắn liền với đất” số 9140, quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 công
chứng ngày 01/10/2018.
Hủy “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất” công chứng số 9141, quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 lập
ngày 01/10/2018 giữa bà Hoàng Thị Kim T và ông Hoàng Thái Â, bà Phan Thị
T1 đối với việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất thuộc thửa đất số 630, tờ bản đồ số 10 (C69 - IV - B - a) tại Lô A, khu quy
hoạch dân cư P-H, Phường B, thành phố Đ với giá chuyển nhượng là
1.000.000.000đ.
7
Ngoài ra quyết định của bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền
kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Ngày 27/9/2023, nguyên đơn bà Hoàng Thị Kim T kháng cáo đề nghị sửa
bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa,
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn ông  và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T2, Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Đà Lạt (do ông T5 là người đại diện theo ủy quyền)
không kháng cáo, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực
hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Về nội dung: đề
nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng số
9139 quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 công chứng ngày
01/10/2018, tuyên bố hợp đồng này không còn hiệu lực pháp luật; tuyên bố hợp
đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đát có tài sản gắn liền với
đất được công chứng số 9140 quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1
công chứng ngày 01/10/2018 không bị vô hiệu; còn các phần khác giữ nguyên
như bản án sơ thẩm đã tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xuất phát từ việc bà T khởi kiện yêu cầu công nhận “Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” số 9139, quyển số
35TP/CC-SCC/HĐGG do Văn phòng C1 công chứng ngày 01/10/2018 (viết tắt là
hợp đồng số 9139); hủy “Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất (có tài sản gắn liền với đất” số 9140, quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGG
do Văn phòng C1 công chứng ngày 01/10/2018 (viết tắt là hợp đồng số 9140);
hủy “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” số
9141 do Văn phòng C1 công chứng ngày 01/10/2018 (viết tắt là hợp đồng số
9140). Bị đơn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T. Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà T2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T nên phát sinh
tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp liên quan
đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án
dân sự” là có căn cứ.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn thấy rằng:
[2.1] Ông Â, bà T1 và bà T lập hợp đồng đặt cọc viết tay ghi ngày
01/9/2018, thể hiện bà T đặt cọc 1.800.000.000đ để thỏa thuận nhận chuyển
nhượng tài sản nhà đất thuộc thửa đất số thửa 630, tờ bản đồ số 10 (C69-IV-B-a)
tại Lô A, khu quy hoạch dân cư P-H, Phường B, thành phố Đ. Tại thời điểm ký
8
kết hợp đồng đặt cọc tài sản đang được ông Â, bà T1 thế chấp tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Đ-Chi nhánh Đ1 để vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số
115/2018/7412520/HĐTD ngày 07/02/2018. Ngày 01/10/2018, bà Đặng Thị N1,
bà Ngô Thị Minh T5 cho bà T vay tiền để nộp cho Ngân hàng và giải chấp lấy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra để làm thủ tục chuyển nhượng.
Ngày 01/10/2018, ông Â, bà T1 và bà T ký “Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” số 9139, quyển số 35TP/CC-
SCC/HĐGD do Văn phòng C1, thể hiện hai bên thỏa thuận chuyển nhượng diện
tích đất 64m2 (diện tích xây dựng 63,80m2, diện tích sàn 191,40m2) thuộc thửa
đất số 630, tờ bản đồ số 10 (C69-IV-B-a) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L
cấp cho ông Nguyễn Văn B1, bà Lương Thị Thùy D ngày 15/02/2017 theo giấy
chứng nhận số CD 484348 được điều chỉnh sang tên ông Â, bà T1 ngày 13/3/2017
tại Lô A, khu quy hoạch dân cư P-H, Phường B, thành phố Đ với giá
5.500.000.000đ.
Ngày 01/10/2018, hai bên ký “Hợp đồng hủy hỏ hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất” số 9140, quyển số 35TP/CC-
SCC/HĐGD do Văn phòng C1 để hủy bỏ hợp đồng chyển nhượng số 9139 và ký
lại “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” số
9141, quyển số 35TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 công chứng với giá
1.000.000.000đ.
Ngày 01/10/2018, hai bên lập “Giấy nhận tiền bán nhà và bàn giao nhà” thể
hiện bà T giao số tiền 3.700.000.000đ cho ông Â, bà T1 và nhận nhà đất bàn giao.
Như vậy, trên thực tế, hợp đồng số 9139 đã bị hủy bỏ bằng hợp đồng số
9140 và được thay thế bằng hợp đồng số 9141, ông Â, bà T1 đã nhận số tiền
5.500.000.000đ và giao nhà đất cho bà T quản lý, sử dụng từ ngày 01/10/2018
đến nay.
[2.2] Ông Â, bà T1 và bà T2 có mối quan hệ làm ăn với nhau, ông Â, bà T1
vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền cho bà T2, do đó bà T2 khởi kiện ông Â, bà T1
yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt ban
hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 12/2018/QĐ-BPKCTT
ngày 08/10/2018 và Quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời số 569/2020/QĐ-BPKCTT ngày 09/10/2020. Sau khi bản án có hiệu lực
pháp luật, bà T2 có đơn yêu cầu thi hành án, Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Đà Lạt ban hành Quyết định số 02/QĐ-CCTHADS ngày 16/10/2020 về việc
tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản
đối với nhà đất trên. Ngày 02/11/2020 ban hành Quyết định số 05/QĐ-CCTHADS
về việc cưỡng chế kê biên đối với tài sản trên của ông Â, bà T1 để bảo đảm nghĩa
vụ thi hành án đối với số tiền 5.788.037.000đ theo yêu cầu thi hành án của bà T2.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc công nhận hợp đồng số 9139 và yêu cầu hủy hợp đồng số
9140 là có căn cứ vì hợp đồng số 9139 đã được các bên tự nguyện hủy bỏ bằng
hợp đồng số 9140 và được thay thế bằng hợp đồng số 9141 nhưng phần quyết
định của bản án sơ thẩm không tuyên hợp đồng số 9139 không còn hiệu lực và
9
hợp đồng số 9140 không bị vô hiệu là chưa xem xét, giải quyết triệt để những vấn
đề khởi kiện của nguyên đơn.
[2.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn thừa nhận nội
dung của hợp đồng số 9141 ghi giá trị hợp đồng 1.000.000.000đ nhằm mục đích
trốn thuế và là hợp đồng giả tạo để nhằm che dấu hợp đồng số 9139 mà các bên
đã ký kết trước đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn tuyên hủy hợp đồng số 9141 là có căn cứ. Tuy nhiên, trên thực tế ông
Â, bà T1 thừa nhận đã nhận đủ số tiền 5.500.000.000đ do bà T thanh toán (gồm
số tiền trả tại ngân hàng và số tiền đưa thêm trực tiếp) và giao nhà đất cho bà T
quản lý, sử dụng từ ngày 01/10/2018. Mặt khác, nhà đất đứng tên ông Â, bà T1
này đã bị Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt kê biên theo yêu cầu của
bà Vi Thị Thu T2. Như vậy, trong trường hợp này cần giải quyết hậu quả của việc
hủy hợp đồng nói trên vì tài sản này hiện đang bị kê biên và người quản lý tài sản
này là nguyên đơn thì mới đảm bảo được quyền lợi của các bên.
[2.4] Xét thấy, các nội dung trên Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh thu
thập làm rõ, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên hủy toàn bộ
bản án sơ thẩm, giao cho Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết lại theo thủ tục
chung. Do hủy án nên không xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo của nguyên
đơn.
[3] Về án phí: Do hủy án nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa
án nhân dân thành phố Đà Lạt.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt giải quyết lại vụ
án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo quy
định của pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho bà Hoàng Thị Kim T số tiền
300.000đ đã tạm nộp theo biên lai thu số 0012147 ngày 29/9/2023 của Chi cục
Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.
10
3. Về chi phí tố tụng: Sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo quy
định của pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng KTNV&THA;
- TAND thành phố Đà Lạt;
- Chi cục THADS thành phố Đà Lạt;
- Người tham gia tố tụng (12);
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
ĐÃ KÝ
Nguyễn Thành Tâm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 07/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm