Bản án số 260/2026/DS-PT ngày 13/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 260/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 260/2026/DS-PT ngày 13/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 260/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Đình T1; giữ nguyên phần quyết định của Bản án Dân sự sơ thẩm số 15/2026/DS-ST ngày 28/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng về việc giải quyết số tiền 20.000.000đ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 260/2026/DS-PT
Ngày: 13-5-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng Dân sự
vay tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Ông Nguyễn Công Hoàn
- Thư ký phiên toà: Trần Thị Tâm Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Lâm Đồng: Nguyễn Thị Thanh
Hương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 199/2026/TLPT-DS ngày 09 tháng 4 năm
2026 về tranh chấp: “Hợp đồng Dân sự vay tài sản”.
Do Bản án Dân sự thẩm số 15/2026/DS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026
của Toà án nhân khu vực 4 - Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố 288/2026/QĐ-PT ngày 17 tháng 4
năm 2026; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1972; trú tại tổ dân phố C,
Phường B B, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
Bị đơn: Ông Lê Đình T1, sinh năm: 1975; cư trú tại thôn A B, xã B, tỉnh Lâm
Đồng, có mặt.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Tuấn N, sinh năm: 1993;
cư trú tại tổ dân phố C, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Lê Đình T1 Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
- Theo nội dung đơn khởi kiện ghi ngày 18/3/2025, lời trình bày tại các bản tự
khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm của ông Trần Văn T,
thì:
Vào năm 2023 ông gặp ông T1 đthuê vườn sầu riêng, bơ, chăm sóc
thu hái trong mùa vụ 2024. Sau đó ông vào để coi vườn, ông T1 nói vườn
này là của chủ khác, ông nói phải gặp chủ vườn thì mới thuê. Ông T1 nói
chuyển tiền đi rồi sẽ gọi chủ vườn lên. Sau đó ông nhờ con trai Trần Tuấn N,
sinh năm 1993 chuyển khoản cho ông T1 số tiền 40.000.000đ để thuê vườn sầu
riêng, việc thuê vườn như trên thì hai bên mới trao đổi bằng lời nói, chưa làm giấy
tờ gì.
Tuy nhiên do sau đó ông không gặp được chủ vườn nên không thuê nữa, ông
đã đòi lại số tiền nói trên từ ông T1. Ông T1 hứa sẽ trả lại tiền cho ông nhưng
không thực hiện. Đến ngày 17/4/2024 ông T1 vào giấy vay tiền, nội dung của
giấy vay tiền này do ông viết, ông T1 ghi đã nhận đủ tiền, tên, ghi họ tên
“Lê Đình T1”. Thực tế do không trả được số tiền ông đã đưa 40.000.000đ nên
ông T1 mới vào giấy vay tiền, chuyển thành nợ vay. Theo giấy vay tiền trên thì
ông T1 hẹn đến ngày 15/7/2024 sẽ trả. Sau đó bị đơn chuyển khoản trả lại cho
ông được 20.000.000đ, còn lại 20.000.000đ đến nay không trả mặc ông T2 đòi
nợ nhiều lần.
Nay ông đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông T1 phải trả
cho ông số tiền còn nợ là 20.000.000đ, yêu cầu tính lãi từ ngày 15/7/2024 đến ngày
15/5/2025 là 10 tháng x 1,1%/tháng x 20.000.000đ = 4.400.000đ, tổng cộng cả gốc
và lãi là 24.400.000đ.
Việc thỏa thuận giữa ông T1 với chủ vườn thì không liên quan đến ông vì ông
chỉ biết chuyển tiền cho ông T1 nên sau đó ông T1 mới giấy nhận nợ chỉ trả
lại cho ông 20.000.000đ.
- Theo lời trình bày của ông Lê Đình T1 thì: ông hợp đồng thuê vườn sầu
riêng, của Thị H tại L, huyện B (cũ), tỉnh Lâm Đồng, thời hạn thuê
05 năm, thanh toán tiền thuê hàng năm, giá thuê như sau: năm đầu tiên
50.000.000đ, năm thhai là 120.000.000đ. Thời điểm 2023 - 2024 giá cho thuê
năm thứ hai. Do sau đó ông không làm vườn được, người giới thiệu nên ông T
đã gặp ông để thỏa thuận thuê lại, ông dẫn ông T đi coi vườn nguyên đơn
đồng ý thuê với giá 120.000.000đ mùa vụ năm 2024. Sau khi thống nhất thì ông T
chuyển khoản cho ông đặt cọc số tiền 40.000.000đ (con ông T1 anh Trần Tuấn
N chuyển khoản), sau đó ông chuyển số tiền này cho bà H luôn. Tuy nhiên sau đó
thì ông T không thuê nữa, ông có báo lại cho bà H. Sau đó nhờ ông ký hộ vào giấy
vay tiền để về nói với vợ của ông T, ông đã ghi nhận đủ tiền, ký, ghi họ tên, thực tế
không phải tiền vay cũng không phải nhận đủ tiền như trong giấy vay thể
hiện. Sau đó khoảng tháng 7 - 8/2024 thì bà H chuyển trả lại cho ông 20.000.000đ,
3
ông đã chuyển khoản trả số tiền này cho ông T; còn lại 20.000.000đ do bà H không
trả cho ông nên ông cũng không trả lại cho ông T, đồng thời do đây là tiền cọc, ông
T không thuê nữa thì phải bị mất số tiền còn lại. Do vậy ông không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Theo lời trình bày của anh Trần Tuấn N thì: anh con ruột của ông T; số
tiền 40.000.000đ anh chuyển cho ông T1 do ông T nhờ anh chuyển vào tài
khoản cho bị đơn; đây là tiền của cha ông, việc thỏa thuận giữa ông T, ông Thắng
T3 nào thì ông không , không tham gia. Nay các bên xảy ra tranh chấp ông đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án số 15/2026/DS - ST ngày 28/01/2026; Tòa án nhân dân khu vực 4
- Lâm Đồng đã xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T đối với
Đình T1 về việc: “Tranh chấp đòi tài sản”.
Buộc ông Đình T1 nghĩa v trả cho ông Trần Văn T số tiền
20.000.000đ.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T đối với ông
Đình T1 về việc yêu cầu trả tiền lãi số tiền là 4.400.000đ.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo trách nhiệm thi
hành án của các đương sự.
Ngày 10/02/2026 ông Đình T1 đơn kháng cáo không đồng ý tách phần
yêu cầu của bị đơn về việc yêu cầu nguyên đơn bồi thường cây sầu riêng, đnghị
Tòa án đưa Thị H vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Tại phiên tòa,
Ông Lê Đình T1 vẫn giữ nguyên kháng cáo, không đồng ý trả lại tiền cho ông
T như Bản án sơ thẩm đã tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử các
đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: đề nghị không chấp nhận
kháng cáo của ông T1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp thẩm xác định
theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của ông Đình T1; thủ tục
kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật
4
Tố tụng Dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông T1 thì thấy rằng:
[2.1] Theo nội dung của “Giấy vay tiền” ngày 17/4/2024 thì: “Hôm nay ngày
17/4 dương lịch năm 2024. Tôi tên Lê Đình T1...thường tthôn A Lộc Bảo vay
của ông Trần Văn T, thôn A Đ, thành phố B, số tiền 40.000.000đ (bằng chữ:
bốn mươi triệu), hẹn ngày 15/7 dương lịch tôi sthanh toán đầy đủ, nếu sai tôi
chịu hoàn toàn trách nhiệm”. Phía dưới ghi nội dung “đã nhận đủ tiền,
ghi họ tên Lê Đình T1”.
Quá trình giải quyết vụ án, ông T1 thừa nhận dòng chữ “đã nhận đủ tiền”, ký
tên ghi họ tên “Lê Đình T1” do ông viết, tuy nhiên thời điểm thì
không nhận số tiền 40.000.000đ như trong giấy vay tiền là do anh N (con trai
ông T) chuyển để thuê vườn trước đó.
Theo ông T thì do chuyển tiền cho ông T1 do hai bên thỏa thuận thuê
vườn sầu riêng, bơ, trái cây tại L, huyện B (nay xã B), tỉnh Lâm Đồng thu
mùa vnăm 2024. Tuy nhiên giữa hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói, do sau đó
thỏa thuận không thành nên ông T đòi lại số tiền đã đưa cho ông T1, ông T1
không tiền trả cho nên đã vào giấy vay tiền ngày 17/4/2024. Đồng thời theo
nội dung giấy vay, ông T1 cam kết hẹn ngày 15/7/2024 trả nợ cho ông T. Quá trình
thực hiện thỏa thuận ông T1 đã trả cho ông T số tiền 20.000.000đ, còn nợ lại
20.000.000đ chưa trả. Ông T1 cho rằng số tiền nói trên ông T đặt cọc thuê vườn
từ vườn cây ăn trái ông T1 thuê của người khác. Ngày 17/4/2024 do ông T nhờ ông
vào giấy vay tiền đlàm bằng chứng đưa cho vợ ông T nên ông đã vào
giấy vay tiền. Do ông T không thuê vườn nữa, chủ vườn trả lại 20.000.000đ và ông
cũng đã trả cho ông T, số tiền còn lại ông T phải bị mất cọc.
Xét thấy, việc ông T1 vào giấy vay tiền và đã nhận số tiền 40.000.000đ,
ông T1 đã trả cho ông T số tiền 20.000.000đ và còn nợ số tiền 20.000.000đ
xảy ra trong thực tế, được các bên đương sự thừa nhận. Quá trình giải quyết vụ án
ông T1 không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc thỏa thuận giữa hai bên
được H (chủ vườn) đồng ý. Do ông T1 người trực tiếp nhận tiền của nguyên
đơn, việc thuê vườn không thành nên phải trách nhiệm trả số tiền đã nhận cho
ông T.
Do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc
bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 20.000.000đ là có căn cứ.
[2.3] Đối với yêu cầu của ông T1 về việc đưa bà H vào tham gia tố tụng với tư
cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì thấy rằng: ông T1 thừa nhận chữ
chữ viết đã nhận đủ số tiền 40.000.000đ tại giấy vay tiền ngày 17/4/2024
của ông, các đương sự cũng thống nhất số tiền này dùng để trả cho việc thuê vườn
5
phê, sầu riêng và bơ, tuy nhiên việc thuê không thành do đó cấp thẩm không
đưa H tham gia tố tụng trong vụ án này phù hợp việc tham gia của H
cũng không làm thay đổi bản chất hậu qupháp ông T1 phải trả lại cho
nguyên đơn số tiền còn thiếu. Nếu ông T1 cho rằng đã chuyển số tiền này cho bà H
cũng như yêu cầu ông T phải bồi thường cây sầu riêng thì được quyền khởi kin
yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3] Từ những phân tích trên, ông T1 có đơn kháng cáo nhưng không xuất trình
được tài liệu, chứng cứ nào mới so với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập tại
giai đoạn sơ thẩm để làm thay đổi bản chất của vụ án nên không có căn cứ để chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông T1 phải chịu án phí Dân sự
phúc thẩm đồng thời phải chịu án phí Dân sự thẩm đối với số tiền phải trả cho
nguyên đơn.
[5] Các phần khác của Bản ánthẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Đình T1; giữ nguyên phần quyết
định của Bản án Dân sthẩm số 15/2026/DS-ST ngày 28/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng về việc giải quyết số tiền 20.000.000đ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc:
“Tranh chấp kiện đòi tài sản” đối với ông ông Lê Đình T1.
Buộc ông Đình T1 nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn T số tiền
20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
2. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Ông Trần Văn T phải chịu 300.000đ án phí Dân sự thẩm; được trừ vào số
tiền 610.000đ tạm ứng án phí Dân sự thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án
6
phí, lệ phí Tòa án số 0004852 ngày 09/6/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự
huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (nay Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 4
Lâm Đồng). Ông T được nhận lại số tiền 310.000đ tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm
còn thừa.
Ông Lê Đình T1 phải chịu 1.000.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.
- Án phí phúc thẩm:
Ông Đình T1 phải chịu 300.000đ án phí Dân sự phúc thẩm; được trừ vào
số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 003772 ngày 09/3/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh
Lâm Đồng, ông T1 đã nộp đủ án phí Dân sự phúc thẩm.
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể tngày Bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với c khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi
hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án Dân sự.
4. Các phần khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng Gđ – Ktr, Ttr & THA (01);
- TAND khu vực 4 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS KV4 - Lâm Đồng (01);
- Các đương sự (03);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Tải về
Bản án số 260/2026/DS-PT Bản án số 260/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 260/2026/DS-PT Bản án số 260/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất