Bản án số 263/2026/DS-PT ngày 07/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 263/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 263/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 263/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 263/2026/DS-PT ngày 07/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 263/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 263/2026/DS-PT
Ngày: 07 - 5 - 2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
và hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Quang và bà Lưu Thị Thu Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Minh Hiền - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Bà Lương Thị Diệu Anh -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 07 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 07/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 01
năm 2026 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2025/DSST ngày 19/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 12 - Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm số 187/2026/QĐ-PT ngày 19 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên
tòa số 258/2026/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn M, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Phường H, tỉnh
Đắk Lắk. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Xuân T, sinh năm 1979 và bà Lê Thị Thu H, sinh năm
1980; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Phường P, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Cù Quang T1, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1987; Nơi
cư trú: Phường H, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
+ Bà Ngô Thị Y, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Phường A, tỉnh Đắk Lắk. Vắng
mặt.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Yên: Ông Lê Văn M, sinh năm 1973;
Nơi cư trú: Phường A, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trình bày của nguyên đơn ông Lê Văn M: Ông M và vợ chồng ông
Trần Xuân T, bà Lê Thị Thu H có mối quan hệ quen biết. Ngày 19/10/2024, ông T,
bà H có vay ông M số tiền 2.680.000.000đồng, thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, thời
hạn vay 10 ngày, hai bên có lập giấy mượn tiền viết tay. Đến hạn ông M nhiều lần
yêu cầu vợ chồng ông T, bà H trả lại số tiền trên nhưng vợ chồng ông T, bà H không
trả. Do đó ông M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T, bà H phải trả số
tiền nợ gốc 2.680.000.000đồng và tiền lãi theo mức lãi suất quy định của pháp luật
là 20%/năm từ ngày 30/10/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ.
Đối với lời khai của ông T, bà H về việc khoản nợ 2.680.000.000 đồng thực
chất là cộng dồn của số tiền nợ gốc 1.430.000.000 đồng và nợ lãi thì ông M không
thừa nhận và cũng không đồng ý với đề nghị của ông T, bà H về việc chỉ trả khoản
nợ gốc 1.430.000.000 đồng.
Ông M yêu cầu tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời số 08/2024/QĐ-BPKCTT ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Phong tỏa tài sản của
người có nghĩa vụ” để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của ông T, bà H.
2. Trình bày của bị đơn ông Trần Xuân T và bà Lê Thị Thu H: Ông T, bà
H thừa nhận ngày 19/10/2024 ông T, bà H và ông M có lập giấy mượn tiền viết tay
thể hiện ông bà có vay của ông M số tiền 2.680.000.000 đồng với lãi suất và thời
hạn như ông M trình bày. Tuy nhiên, ông T, bà H cho rằng trên thực tế số tiền này là
cộng dồn các khoản bao gồm nợ gốc, và nợ lãi cao của các khoản vay trước đó, số
nợ gốc thực tế ông T, bà H vay của ông M là 1.430.000.000 đồng. Do công việc làm
ăn không thuận lợi, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn nên đề nghị ông M cho ông
bà trả khoản nợ gốc là 1.430.000.000 đồng và xin không trả lãi.
Đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số
1367 và yêu cầu trả lại số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận của người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cù Quang T1 thì ông T, bà H đồng ý.
Đối với việc Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 08/2024/QĐ-
BPKCTT ngày 20 tháng 11 năm 2024 phong toàn tài sản là thửa đất số 1367 , tờ bản
đồ số 353-D tại địa chỉ: Phường B, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là phường A, tỉnh
Đắk Lắk) thì ông T, bà H không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án xử lý theo quy định
của pháp luật.
* Trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập, ông Cù Quang T1: Ngày 12/11/2024, vợ chồng tôi có mua của vợ chồng ông
T, bà H diện tích 100m
2
đất ở đô thị; thuộc thửa đất số 1367, tờ bản đồ số 353-D tại
địa chỉ: Phường B, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là phường A, tỉnh Đắk Lắk). Theo

3
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số BA 710664, số vào sổ cấp GCN: CH 00036 được UBND huyện Đông Hòa
cấp ngày 19/4/2010. Chuyển nhượng cho ông Trần Xuân T, sinh năm 1979; Địa chỉ:
Phường B, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên theo hồ sơ số 000037.CN004 ngày 30/5/2022 với
giá 1.026.868.000 đồng và đã giao đủ tiền cho vợ chồng ông T, bà H.
Trong thời gian làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì
được biết thửa đất trên đang được Tòa án nhân dân thị xã Đ (nay là TAND Khu vực
12 - Đắk Lắk) ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản
của người có nghĩa vụ nên không thể thực hiện việc sang tên chủ sở hữu theo quy
định. Sau đó vợ chồng tôi nhiều lần liên hệ vợ chồng ông T, bà H giải quyết sớm để
chúng tôi làm thủ tục sang tên nhưng không thực hiện được.
Vì vậy ông T1 yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số
công chứng 2489 Quyển số 04/2024/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/11/2024 tại Văn
phòng công chứng Võ Hùng đối với thửa đất nêu trên. Yêu cầu vợ chồng ông T, bà
H trả lại số tiền 1.026.868.000 đồng, không yêu cầu tính lãi và ông T1 sẽ trả lại cho
vợ chồng ông T, bà H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số BA 710664, số vào sổ cấp GCN: CH 00036 được
UBND huyện Đông Hòa (nay là thị xã Đ) cấp ngày 19/4/2010.
Tại bản án sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân
Khu vực 12 – Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 147; Điều 165; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật TTDS;
Căn cứ các Điều 117, Điều 119, Điều 423, Điều 427; Điều 463; Điều 466;
Điều 357; Điều 468 và khoản 2 Điều 470; Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều
503 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai 2013;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 và khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí,
lệ phí Tòa án.
Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn M.
Buộc bị đơn ông Trần Xuân T và bà Lê Thị Thu H phải có trách nhiệm liên đới trả
cho nguyên đơn ông Lê Văn M số tiền 3.155.905.467 đồng (nợ gốc:
2.680.000.000đồng và tiền lãi tính đến ngày 19/9/2025: 475.905.467 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, nếu bị đơn chưa thanh toán
xong khoản tiền nói trên thì phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 1
Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thanh toán xong.

4
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Cù Quang T1 và bà Nguyễn Thị L. Hủy
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng: 2489, quyển số
04/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/11/2024, giữa vợ chồng ông Trần Xuân T, bà
Lê Thị Thu H với vợ chồng ông Cù Quang T1, bà Nguyễn Thị L đối với thửa đất số
1367, tờ bản đồ số 353-D, diện tích 100m² tại phường B, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên
(nay là phường A, tỉnh Đắk Lắk), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA
710664, số vào sổ cấp GCN: CH 00036 do UBND huyện Đông Hòa cấp ngày
19/4/2010 (ông Trần Xuân T nhận chuyển nhượng theo hồ sơ số 000037.CN.004
được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Đ, tỉnh Phú Yên xác nhận ngày
30/5/2022).
2.1. Buộc vợ chồng ông T, bà H hoàn trả cho vợ chồng ông T1, bà L số tiền
đã nhận 1.026.868.000 đồng (một tỷ không trăm hai mươi sáu triệu, tám trăm sáu
mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nói trên
thì phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân
sự, tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chưa thi hành án.
2.2. Ông T1, bà L có trách nhiệm hoàn trả cho vợ chồng ông T, bà H Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 710664,
số vào sổ cấp GCN: CH 00036 do UBND huyện Đông Hòa cấp ngày 19/4/2010.
Chuyển nhượng cho ông Trần Xuân T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Phường B, thị xã Đ,
tỉnh Phú Yên (nay là khu phố Uất Lâm, phường A, tỉnh Đắk Lắk) theo hồ sơ số
000037.CN004 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Đ, tỉnh Phú Yên
xác nhận ngày 30/5/2022.
3. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
08/2024/QĐ-BPKCTT ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đ,
tỉnh Phú Yên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12) về áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ, gồm: Diện tích 100m
2
đất ở đô thị;
thuộc thửa đất số 1367, tờ bản đồ số 353-D tại địa chỉ: Phường B, thị xã Đ, tỉnh Phú
Yên (nay là phường A, tỉnh Đắk Lắk). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 710664, số vào sổ cấp
GCN: CH 00036 được UBND huyện Đông Hòa cấp ngày 19/4/2010. Chuyển
nhượng cho ông Trần Xuân T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Phường B, thị xã Đ, tỉnh Phú
Yên (nay là phường A, tỉnh Đắk Lắk) theo hồ sơ số 000037.CN004 ngày 30/5/2022.
4. Hoàn trả cho nguyên đơn ông Lê Văn M số tiền 160.000.000đồng thực hiện
biện pháp bảo đảm trong tài khoản phong tỏa tại Ngân hàng Thương mại cổ phần
Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Đông Hòa (Tiết kiệm có kỳ hạn số
225019015614; tên khách hàng Lê Văn M) khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền
kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

5
* Kháng cáo: Ngày 30/9/2025, bị đơn bà Lê Thị Thu H có đơn kháng cáo
bản án sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét để xác định số tiền nợ gốc mà vợ
chồng bà còn nợ của ông M là 1.430.000.000 đồng và áp dụng mức tính lãi suất là
10%/năm để vợ chồng ông bà có điều kiện trả nợ vì hiện rất khó khăn.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Lê Thị Thu H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ
thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Lê Thị Thu H nộp đơn kháng cáo trong hạn
luật định, có đơn xin được miễn nộp án phí do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, được
chính quyền địa phương xác nhận nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Lê Thị Thu H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các
đương sự thì ngày 19/10/2024 nguyên đơn ông Lê Văn M và bị đơn là ông Trần
Xuân T, bà Lê Thị Thu H có lập Giấy vay mượn tiền viết tay thể hiện nội dung ông
T, bà H vay của ông M số tiền 2.680.00.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, thời
hạn vay 10 ngày.
Ông T, bà H cho rằng thực chất số tiền này là khoản cộng gộp nợ gốc và nợ
lãi của các khoản vay trước đó, thực tế ông T, bà H chỉ vay của ông M số tiền nợ
gốc là 1.430.000.000 đồng. Ông T, bà H đề nghị cấp phúc thẩm xem xét quyết định
chỉ buộc ông bà trả cho ông M số tiền nợ gốc là 1.430.000.000 đồng và lãi suất ở
mức 10%/năm.
Lời khai của ông T, bà H không được ông M chấp nhận, các tài liệu chứng cứ
ông T, bà H đã cung cấp không đủ cơ sở để chứng minh. Do đó việc Tòa án cấp sơ
thẩm tuyên xử buộc ông T, bà H có nghĩa vụ trả cho ông M số tiền 3.155.905.467
đồng (nợ gốc: 2.680.000.000đồng; nợ lãi tính đến ngày 19/9/2025: 475.905.467
đồng) và tiếp tục chịu lãi suất phát sinh kể từ ngày tiếp theo sau ngày 19/9/2025 theo
6
mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và
thời gian chưa thanh toán xong là phù hợp
Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Thu H mà
cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 12 - Đắk Lắk.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Lê Thị
Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ vào số tiền
300.00 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001269 ngày
01/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Thu H. Giữ nguyên bản án
Dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân Khu vực 12 –
Đắk Lắk.
[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án
phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.00 đồng đã nộp theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001269 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân
sự tỉnh Đắk Lắk.
[3] Các quyết định khác của bản án sô thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-
VKSND tỉnh Đắk Lắk;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND Khu vực 12;
- Cục THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng THADS Khu vực 12
;
Đã ký
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Thu Trang
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 13/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Bản án số 917/2026/DS-PT ngày 11/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 04/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Bản án số 852/2026/DS-PT ngày 29/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Bản án số 835/2026/DS-PT ngày 28/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 28/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 28/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Bản án số 826/2026/DS-PT ngày 24/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 24/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Bản án số 810/2026/DS-PT ngày 23/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Bản án số 779/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm