Bản án số 889/2026/DS-PT ngày 07/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 889/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 889/2026/DS-PT ngày 07/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 889/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 889/2026/DS-PT
Ngày 07-5-2026
V/v Tranh chấp yêu cầu bồi thường
thiệt hại liên quan đến hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Cường;
Ông Bùi Ngọc Thạch.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa
án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ số 291/2026/TLPT-DS
ngày 22/01/2026 về việc: “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại liên quan
đến hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”.
Do Bản án sơ thẩm số 305/2025/DS-ST ngày 17/11/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1925/2026/-PT
ngày 31/3/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 5609/2026/QĐ-PT ngày
21/4/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Thị N, sinh năm 1987; địa chỉ: số A, khu phố B,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hp pháp của nguyên đơn: Ông Minh T, sinh năm
1989; địa chỉ: số A, tổ B, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh;
người đại diện theo ủy quyền, theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 04/8/2025. Vắng
mặt, có văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1979; địa chỉ: T, tổ B, khu phố B,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Trọng V, sinh năm 1956;
2
2. Ông Huỳnh Phú S, sinh năm 1975;
3. Bà Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1976;
4. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1985;
5. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1993;
6. Ông Nguyễn Hồng C, sinh năm 1995;
Cùng địa chỉ: số A, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông V, ông S, T1, P, H1, ông C đều yêu cầu giải quyết vắng
mặt.
7. Phùng Thị Thanh T2, sinh năm 1987; địa chỉ: T, tổ B, khu phố B,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị N.
NHẬN THẤY:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn
người đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Minh T thống nhất trình
bày:
Mẹ ruột bà N là bà Trần Thị S1. S1 chủ sở hữu các thửa đất: 36, 37,
242, TBĐ sA3, diện tích 9.164m
2
, toạ lạc tại ấp B + H, T, huyện T, tỉnh
Bình Dương (nay 1/44, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 01467 cấp ngày 29/12/2000. Ngày 09/11/2018, S1 cho ông
Nguyễn Đức H thuê quyền sdụng (đất trống) với diện tích 1.008m
2
thuộc một
phần thửa đất số 37, tờ bản đồ số A3 nêu trên, với g7.492.800 đồng/tháng; từ
ngày 09/11/2019 đến ngày 09/11/2022, mỗi năm tiền thuê quyền sdụng đất
được điều chỉnh tăng thêm 531.300 đồng; thời hạn thuê 04 năm, được tính từ
ngày 09/11/2018; tiền đặt cọc 25.000.000 đồng. Hết thời hạn thuê đất, nếu
ông H tiếp tục thuê đất nữa thì tiền thuê đất hàng tháng 9.085.000 đồng/
tháng, thời hạn bắt đầu từ ngày 10/11/2022. Tuy nhiên, ông H không tiếp tục
thuê đất nữa và đã tháo dỡ các công trình đã xây dựng trên đất thuê nhưng để lại
một lượng rất lớn rác thải (nệm, mút, bao ni lông…). Ông H cam kết sẽ dọn dẹp
sạch sẽ, trả lại mặt bằng đất trống cho gia đình N chậm nhất vào đầu năm
2023. Tuy nhiên, sau đó ông H chỉ dọn dẹp được một phần nhỏ, để lại phần lớn
rác thải trên phần đất của gia đình N như hiện nay. Hành vi để lại rác thải trên
đất thuê của ông H đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xung quanh, làm
cho gia đình N không thể trực tiếp sử dụng hoặc cho thuê đất. Do đó, N
làm đơn khởi kiện ông H, yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Đức H phải dọn dẹp, xử lý toàn bộ rác
thải trên phần đất thuê thuộc thửa đất 37, tờ bản đồ số A3 (DC10), toạ lạc tại
khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay 1/44, khu phố B,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) với chi phí dọn dẹp là 100.000.000 đồng.
3
- Yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Đức H phải thanh toán thiệt hại
khoản thu nhập bị mất cho gia đình bà Trần Thị N tạm tính từ ngày 10/11/2022
đến ngày 09/6/2025 là 31 tháng x 9.085.800 đồng = 281.659.800 đồng.
Tổng stiền ông Nguyễn Đức H trách nhiệm thanh toán cho gia
đình bà N là 381.659.800 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, ông H đã tự nguyện dọn dẹp, xử lý toàn bộ rác
thải (nệm, mút, bao ni lông…) trên phần đất đã thuê của gia đình N. Do đó,
vào ngày 23/9/2025, bà N đã làm đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể
bà N xin rút yêu cầu Tòa án buộc ông H phải dọn dẹp, xử lý toàn bộ rác thải trên
phần đất thuê thuộc thửa đất 37, tờ bản đồ số A3 (DC10), toạ lạc tại khu phố B,
phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay 1/44, khu phố B, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh). Và vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc ông H bồi thường
thiệt hại là khoản thu nhập bị mất cho gia đình N theo đơn khởi kiện ngày
05/6/2025.
Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông T xác
nhận: Ông H đã đã tự nguyện dọn dẹp, xử toàn bộ rác thải (nệm, mút, bao ni
lông…) trên phần đất đã thuê của gia đình bà N vào ngày 18/9/2025, các bên đã
có xác nhận sự việc này nên bà N đã rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với vấn
đề dọn dẹp rác thải trên đất. Nguyên đơn vẫn giữ một phần yêu cầu khởi kiện
buộc bị đơn phải trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình bà N do việc
để rác thải của bị đơn trên đất làm cho gia đình nguyên đơn không sử dụng đất
hay cho thuê đất được, số tiền tạm tính tngày 10/11/2022 đến ngày 16/9/2025
34 tháng 07 ngày x 9.085.800 đồng/tháng = 311.000.000 đồng. Sau khi
Trần Thị S1 chết ny 26/12/2021, thì những hàng thừa kế của S1 bao gồm
chồng các con của S1 chưa phân chia di sản thừa kế của S1 (kể cả
phần diện tích đất mà bà S1 cho ông H thuê). Khi bà N làm đơn khởi kiện ông H
thì những người thừa kế của bà S1 mới đồng ý cho bà N đứng khởi kiện và nhận
tiền thay gia đình. Đối với số tiền ông H đặt cọc 25.000.000 đồng thì N
đồng ý trả lại cho ông H số tiền cọc này đề nghị khấu trừ vào tiền ông H
có trách nhiệm bồi thường cho nguyên đơn.
- Theo bản tường trình và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn
ông Nguyễn Đức H trình bày:
Ông H thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về hợp đồng thuê đất
giữa ông H với Trần Thị S1 (mẹ ruột N). Theo đó, ngày 09/11/2018 giữa
ông H với S1 Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất diện tích 1.008m
2
thuộc một phần thửa đất 37, tờ bản đồ số A3, toạ lạc tại khu phố B, phường T,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay 1/44, khu phố B, phường T, Thành phố
Hồ Chí Minh) để m kho xưởng với thời hạn thuê 04 năm kể t ngày
09/11/2018; giá thuê ban đầu 7.492.800 đồng/tháng tăng thêm 531.300
đồng/tháng sau mỗi năm, số tiền đặt cọc thuê là 25.000.000 đồng. Sau khi S1
chết (ngày 26/12/2021) thì anh Nguyễn Hồng C (là một trong những người con
của S1) thay thế S1 cho ông H thuê đất hàng tháng vcủa ông H là bà
4
Phùng Thị Thanh T2 đều chuyển tiền thuê đất vào tài khoản của ông C. Sau
khi hợp đồng thuê đất hết thời hạn vào tháng 11/2022 thì ông H và ông C không
tiếp tục hợp đồng thuê đất nữa ông H vẫn tiếp tục kinh doanh trên đất
được vài tháng, sau đó do ông C nói với ông H là cần làm thủ tục đối với đất của
S1 nên ông C yêu cầu ông H tháo dỡ di dời các công trình tài sản ra khỏi đất,
thu dọn i sản đến đâu sẽ trừ phần tiền thuê đất ra đến đây, nên từ tháng
02/2023 cho đến khi tháng 3/2024, ông H chỉ trả tiền thuê đất với s tiền
3.030.000 đồng/ tháng (tương đương với phần diện tích khoảng 300m
2
đất) để
rác thải công nghiệp như nệm, mút, bao ni lông…vẫn còn trên đất chưa di di
được. Đến ngày 07/01/2025 thì giữa ông H với Nguyễn Thị H1 (là một trong
những người con của S1) thoả thuận tất toán hợp đồng cho thuê, nội dung
ông H và H1 thoả thuận thống nhất dùng số tiền 25.000.000 đồng tiền đặt
cọc bên cho thuê n giữ để làm chi phí xử rác thải còn lại trên đất. Sau
khi nguyên đơn khởi kiện, thì trong quá trình giải quyết vụ án, ông H đã tự dọn
dẹp, di dời rác thải ra khỏi đất được nguyên đơn xác nhận ngày 18/9/2025.
Do đó, đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn thì ông H không
đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền 311.000.000 đồng, ông H chỉ đồng ý bồi
thường số tiền 100.000.000 đồng, nhưng phải khấu trừ số tiền đặt cọc
25.000.000 đồng mà nguyên đơn còn giữ của ông H.
Tại phiên toà, ông H thay đổi ý kiến không đồng ý bồi thường số tiền
100.000.000 đồng như trong quá trình giải quyết vụ án ông H đã trình bày
ông H chỉ bồi thường cho gia đình nguyên đơn thiệt hại từ tháng 4/2024 đến
ngày 18/9/2025 với số tiền 3.030.000 đồng/ tháng. Đối với số tiền chi pxem
xét thẩm định tại chỗ thì ông H tự nguyện bàu.
- Theo bản tường trình lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông
Nguyễn Trọng V, ông Huỳnh Phú S, Huỳnh Thanh T1, Nguyễn Thị P,
Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Hồng C người quyền, nghĩa vụ liên quan
cùng thống nhất trình bày:
Ông V (chồng của Trần Thị S1) ông S, T1, P, H1, ông C
(con của bà Trần Thị S1). Ông V, ông S, bà T1, P, H1, ông C thống nhất
với lời trình bày và đơn khởi kiện của nguyên đơn là Trần Thị N. Đối với chi
phí dọn dẹp, tiền bồi thường N yêu cầu ông H thanh toán thì ông V, ông
S, T1, P, H1, ông C đồng ý cho Trần Thị N nhận thay nếu ông V,
ông S, T1, P, H1, ông C được nhận theo quy định của pháp luật
yêu cầu xin giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Theo bản tường trình lời khai trong quá trình giải quyết vụ án,
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phùng ThThanh T2 trình bày cụ thể
như sau:
Vào tháng 9/2017, chồng T2 (là ông Nguyễn Đức H) thỏa thuận
thuê đất trống của Trần Thị S1 trong vòng 10 năm. Sau đó, vợ chồng bà thuê
người dựng xưởng dọn đến ở, làm việc nhưng sau đó chủ đất thông báo sẽ
làm hợp đồng thuê với vợ chồng thời hạn 05 năm 01 lần, hết 05 năm sẽ gia
5
hạn lại hợp đồng. Do chồng bà đã thuê đất từ năm 2017 không có giấy tờ
nên đến năm 2018 mới hợp đồng thuê đất nên thời hạn thuê giảm lại còn
01 năm như trong Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 09/11/2018 các
bên đã ký. Nội dung hợp đồng thuê đất đúng như những chồng bà trình bày.
Trong quá trình thuê đất, chồng bà T2 đã sử dụng đất đúng mục đích, thanh toán
tiền thuê đầy đủ tuân thủ các thỏa thuận giữa hai bên. Đến tháng 11/2022,
phía gia đình chủ đất đại diện ông C thông báo cần thu hồi mặt bằng để thực
hiện thủ tục hành chính về đất đai đnghị bên thuê hỗ trợ chi phí tháo dỡ
phần kho xưởng. Sau đó, giữa ông H ông C thỏa thuận bằng miệng thu
dọn đến đâu sẽ trừ phần tiền ra đến đấy nên từ tháng 11/2022 đến tháng 3/2024,
chồng bà đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ cho ông C. Đến ngày
07/01/2025, hai bên ký Biên bản thanh lý hợp đồng thuê đất và bên cho thuê nói
sẽ tự xử phần rác thải còn lại chi phí dọn dẹp sẽ được khấu trừ vào số tiền
đặt cọc 25.000.000 đồng. Do đó, trước yêu cầu khởi kiện về bồi thường thiệt hại
của nguyên đơn thì bà T2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà, bà T2 thống nhất với lời trình bày của chồng bà là ông H
Tại Bản án thẩm s305/2025/DS-ST ngày 17/11/2025, Tòa án nhân
dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N
đối với bđơn ông Nguyễn Đức H về việc yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn
Đức H phải dọn dẹp, xử toàn bộ rác thải trên phần đất thuê thuộc thửa đất 37,
tờ bản đồ số A3 (DC10), toạ lạc tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh
Bình Dương (nay 1/44, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) với
chi phí dọn dẹp là 100.000.000 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị N
đối với bị đơn ông Nguyễn Đức H về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành
vi để rác thải ng nghiệp trên đất, gây ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của gia
đình bà Trần Thị N.
Buộc ông Nguyễn Đức H trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn
Trọng V, anh Huỳnh Phú S, bà Huỳnh Thanh T1, Nguyễn Thị P, Trần Thị
N, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Hồng C (do Trần Thị N đại diện cho gia
đình nhận thay) số tiền 26.510.000 đồng (hai mươi sáu triệu, năm trăm mười
nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án
xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên Trần Thị
N đối với bị đơn ông Nguyễn Đức H về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với
số tiền 259.490.000 đồng (hai trăm năm mươi chín triệu, bốn trăm chín mươi
nghìn đồng).
6
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi ptố tụng quyền
kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 28/11/2025 nguyên đơn Trần Thị N
đơn kháng cáo bản án thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị
đơn bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
vắng mặt, văn bản trình bày ý kiến giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn. Bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phùng
Thiện Thị Thanh T2 không đồng ý yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, người tham gia tố tụng thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Tòa án cấp
thẩm giải quyết căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật. Nguyên
đơn kháng o nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh
cho yêu cầu kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định, đã thực
hiện xong nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn
ông Minh T văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ
luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn.
[2] Về nội dung: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt
hại cho gia đình của nguyên đơn do hành vi không dọn dẹp, xử rác thải sau
khi bị đơn thuê đất, gây thiệt hại làm gia đình nguyên đơn không thể sử dụng đất
hoặc cho người thuê quyền sử dụng đất. Số tiền nguyên đơn yêu cầu bồi thường
9.085.800 đồng x thời gian từ ngày 10/11/2022 (ngày hết hạn hợp đồng thuê)
đến ngày 16/9/2025 = 311.000.000 đồng.
Bị đơn trình bày sau khi hết thời hạn thuê đất, bị đơn chưa dọn dẹp hết số
lượng rác thải trên đất thuê cho đến ngày 16/9/2025 mới thực hiện xong, tuy
nhiên bị đơn trả tiền thuê đất từ tháng 11/2022 đến tháng 3/2024 cho nguyên
đơn (do ông Nguyễn Hồng C con S1 nhận). Do đó, bị đơn chỉ đồng ý trả
7
tiếp tiền thuê đất với giá 3.030.000 đồng/ tháng từ tháng 4/2024 đến 16/9/2025
và đồng ý cấn trừ số tiền đặt cọc 25.000.000 đồng của bị đơn.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
- Hợp đồng thuê đất kinh doanh ngày 09/11/2018 thời hạn 04 năm từ
09/11/2018 đến ngày 08/11/2022 được giữa bị đơn với Trần Thị S1 (mẹ
ruột của nguyên đơn). Sau khi hết thời hạn thuê, các bên không tiếp tục tái
hợp đồng mà chỉ thỏa thuận với nhau bằng miệng giữa bị đơn với các con của bà
S1 (chủ sử dụng phần đất thuê).
Qua chứng cứ là sao kê tài khoản của bà Phùng Thị Thiện T3 (vợ của bị
đơn) thể hiện từ tháng 11/2022 đến tháng 3/2024 bà T3 có 15 lần chuyển khoản
cho ông Nguyễn Hồng C (con trai bà S1) với giao dịch cụ thể như sau:
+ Ngày 10/11/2022 thanh toán số tiền 9.166.700 đồng;
+ Ngày 06/12/2022 thanh toán số tiền 9.166.700 đồng;
+ Ngày 03/01/2023 thanh toán số tiền 8.166.700 đồng;
+ Ngày 22/02/2023 thanh toán số tiền 3.028.900 đồng;
+ Ngày 27/3/2023 thanh toán số tiền 3.029.000 đồng;
+ Ngày 19/4/2023 thanh toán số tiền 3.029.000 đồng;
+ Ngày 14/5/2023 thanh toán số tiền 3.028.000 đồng;
+ Ngày 12/6/2023 thanh toán số tiền 3.030.000 đồng;
+ Ngày 13/7/2023 thanh toán số tiền 3.030.000 đồng;
+ Ngày 10/8/2023 thanh toán số tiền 3.030.000 đồng;
+ Ngày 10/9/2023 thanh toán số tiền 3.030.000 đồng;
+ Ngày 10/11/2023 thanh toán số tiền 3.030.000 đồng;
+ Ngày 25/12/2023 thanh toán số tiền 3.030.000 đồng;
+ Ngày 08/01/2024 thanh toán số tiền 3.030.000 đồng;
+ Ngày 14/3/2024 thanh toán số tiền 4.060.000 đồng;
Quá trình chuyển khoản nêu trên của bị đơn phù hợp với lời trình bày của
bị đơn cho rằng sau khi hết thời hạn thuê, thì ông H ông C không tiếp tục
hợp đồng thuê đất nữa ông H vẫn tiếp tục kinh doanh trên đất được vài
tháng, sau đó do ông C nói với ông H cần làm thủ tục thừa kế đối với đất của
S1 nên ông C yêu cầu ông H tháo dỡ di dời các công trình tài sản ra khỏi đất,
thu dọn i sản đến đâu sẽ trừ phần tiền thuê đất ra đến đấy, nên từ tháng
02/2023 cho đến tháng 3/2024, ông H chỉ trả tiền thuê đất với số tiền 3.030.000
đồng/ tháng (tương đương với phần diện tích khoảng 300m
2
đất) để rác thải
công nghiệp như nệm, mút, bao ni lông…vẫn còn trên đất chưa di dời được. Đến
ngày 07/01/2025 thì giữa ông H với bà Nguyễn Thị H1 (là một trong những
người con của S1) lập biên bản tất toán hợp đồng cho thuê, nội dung: ông H
8
và bà H1 có thoả thuận thống nhất dùng số tiền 25.000.000 đồng tiền đặt cọc mà
bên cho thuê còn giữ để làm chi pxử rác thải còn lại trên đất. Tuy nhiên,
sau đó số lượng rác thải trên đất vẫn chưa được xử lý cho đến ngày 16/9/2025 bị
đơn mới dọn sạch số lượng rác thải do bị đơn để lại. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm
buộc bị đơn trả tiếp cho nguyên đơn số tiền thuê đất chưa trả là 3.030.000 đồng/
tháng x thời gian từ tháng 4/2024 đến tháng 9/2025 17 tháng = 51.510.000
đồng (trong đó cấn trừ số tiền đặt cọc của bị đơn 25.000.000 đồng nên bị đơn
phải trả cho nguyên đơn 26.510.000 đồng căn cứ, phù hợp với thỏa thuận
giữa bị đơn với ông C, bà H1 (là con của bà S1).
Nguyên đơn yêu cầu bđơn trả số tiền 9.085.000 đồng từ tháng 11/2022
đến tháng 9/2025 không phù hợp với thực tế diễn biến quá trình thực hin
việc thuê đất sau khi chấm dứt hợp đồng giữa bị đơn với ông C, H1. Tòa án
cấp sơ thẩm không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là
căn cứ, phù hợp với các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án
[4] Từ các phân tích trên xét thấy, nguyên đơn kháng cáo nhưng không
cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của
mình nên Hội đồng phúc thẩm không căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[6] Ván phí phúc thẩm: nguyên đơn phải chịu do yêu cầu kháng cáo
không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 148; khoản 1, Điều 308; Điều 313 Bộ luật Tố tụng
dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của Trần Thị N. Giữ nguyên Bản án
thẩm số 305/2025/DS-ST ngày 17/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16,
Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0045087 ngày 02/12/2025 của Thi hành án
dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
07/5/2026)./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND Thành phố HCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 16, TP HCM; (đã ký)
9
- Phòng THADS khu vực 16, TP HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự, VTLT.
Nguyễn Văn Huỳnh
Tải về
Bản án số 889/2026/DS-PT Bản án số 889/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 889/2026/DS-PT Bản án số 889/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất