Bản án số 639/2026/DS-PT ngày 08/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 639/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 639/2026/DS-PT ngày 08/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 639/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ THUÝ L - NGUYỄN THỊ NH
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thm phán - Ch ta phiên tòa:
Bà Hoàng Th Thuý Lành
Các Thm phán:
Bà Phùng Th Cm Hng
Bà Nguyn Th Dim Hng
- Thư ghi biên bản phiên tòa: Phan Ngọc Nhẩn Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Tho, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 273/2026/TLPT-DS ngày 10
tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2026/DS-ST ngày 29/01/2026 Tòa án nhân
dân Khu vực 10 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 362/2026/QĐ-PT ngày
15 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1974
Địa chỉ: Số I, ấp T, xã N, tỉnh Tây Ninh (có mặt)
Bị đơn:Nguyễn Thị N, sinh năm 1974
Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã N, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của N: Nguyễn Kim H, sinh năm 1973
Địa chỉ: Khu phố L, phường H, tỉnh Tây Ninh (có mặt)
Người quyền lợi, nghĩa vliên quan: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 2001.
Đ chỉ: Ấp T, xã N, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 639/2026/DS-PT
Ngày: 08 - 5 - 2026
Về việc “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Người kháng cáo: Nguyễn Thị N, bị đơn. Ông Nguyễn Văn H1 người
có quyền và nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn –Nguyễn Thị Thúy L trình bày:
L N mối quan hệ vay mượn bà chơi hụi của N,
mua hụi của bà N.
chơi hụi của N nhiều dây hụi, hốt hụi từ năm 2021, hụi đã mãn.
Sau đó năm 2023, mua hụi của bà N, đã giao tiền mua hụi cho bà N là
372.000.000 đồng vào ngày 26/5/2023. Đối với tiền hụi giữa và N, đã đóng
hụi chết xong, vì khi hốt hụi, hai bên tính toán xong bà N mới đăng tiền hụi cho bà.
Về việc viết bảng thoả thuận bán đất do N viết, N mượn tiền nhiều
lần, giấy này là chốt nợ tiền vay giữa N tính đến ngày 06/9/2023
700.000.000 đồng, sau đó mượn thêm 100.000.000 đồng không ghi giấy; ngày
12/10/2023 N cầm 400.000.000 đồng tiền mặt đến nhà bà, sau đó năn nỉ bà trả lại
bản chính giấy đất để vay tiền trả cho bà, bà đồng ý; ngay sau đó N than thở, năn
nỉ mượn lại 400.000.000 đồng, cũng cho mượn nên cùng ngày 12/10/2023 N
mới ghi tổng tiền ợn 800.000.000 đồng. Đến ngày 15/10/2025, N mượn
thêm của bà 100.000.000 đồng. Tổng cộng tiền mượn bà N thiếu bà là 900.000.000
đồng. Ban đầu ghi thời hạn trả ntrong vòng 01 năm. Bà đòi tiền nhiều lần nhưng
bà N không trả.
Tiền lãi hai bên thoả thuận miệng, ban đầu thoả thuận 2,5%/tháng/01 tỷ
đồng nhưng bà N đã đóng lãi được mấy tháng thông qua bà H2, bà H3. Tiền bà H2,
H3 đưa là tiền lãi của số tiền 900.000.000 đồng.
Ni dung trong cun tp màu xanh do bà N cung cấp cho Toà án có đoạn ghi
“06/12/2023, Nhà mượng L 626.000.000 đồng” ch ký, ch viết mang tên
Nguyn Th Thúy L là ch ký, ch viết của bà. Đây là khoản n cũ của bà N, mượn
bà 600 triệu đồng nm trong khon n đã gút nợ ngày 06/9/2023, còn 26 triệu đồng
tin hi N chưa đăng đủ. N n tin rt nhiu ln, nhiu khon, tin
hụi tkhông đăng 01 lần đăng nhiều ln hi nhiu dây nhiu phn, vì N
hn tr khon tiền này trước nên bà mới đồng ý ghi s tiền này. Đến ngày 25/5/2024
thì ghi s tiền 625.000.000 đồng này N mun tr khon n này trước nên
hai bên tho thun chia ra 30 ln góp, mi lần góp 25.000.000 đồng nhưng
N không có góp k nào. Ni dung này ghi trong cun tp màu xanh là do bà viết ra,
ch tho thun nên ch ghi ni dung góp 30 ln. Vic N nói đã góp là
không đúng. Số tin 600 triệu đồng này là n cũ, bà N năn nỉ tách ra để tr góp, còn
khong 300 triệu đồng tr riêng. Trong quan h làm ăn vi bà N, hai bên viết nhiu
giy n, cái nào b hoc chuyn n, gút n gch b, nếu ghi cái khác hoc N
tr n thì bt buc phi gch giy n. N chưa trả n nên vn còn gi bn
chính Bng tho thuận bang đất ghi ngày 06/9/2023 không có gch xoá, gch b
như những giy n khác.
3
Ngoài n tiền mượn, gia bà và bà N còn quan h góp hi, bà ht nhng dây
hi mua ca N thì bà N không đăng hụi mt lần mà đăng hụi nhiu ln, tin hi
chưa đăng và tiền hi chết đã tính toán xong không dính tới tin vay.
Nay L khởi kiện yêu cầu Nguyễn Thị N anh Nguyễn Văn H1 nghĩa
vụ liên đới trả cho số tiền 700.000.000 đồng theo Bảng thoả thuận báng đất ghi
ngày 06/9/2023, tiền nợ lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 06/9/2023 đến khi
xét xử thẩm; buộc N trả số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng mượn sau ngày
06/9/2023 và tiền nợ lãi từ ngày 15/10/2023 theo lãi suất quy định của pháp luật đến
ngày xét xử sơ thẩm; bà đồng ý khấu trừ tiền nợ lãi bà N đã đóng thông qua bà H3,
H2 và tiền anh H1 chuyển khoản.
Bị đơn bà Nguyễn Thị N và người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Bà và bà L có mối quan hệ vay mượn và chơi hụi, bà là chủ hụi, bà L có chơi
hụi của bà và có bán hụi cho bà L.
Vào ngày 06-9-2023, bà có thoả thuận bán cho bà L phần đất rẫy cao su theo
“Bảng thoả thuận báng đất” với số tiền cọc 700.000.000 đồng, nếu không bán t
phạt cọc gấp đôi trong vòng 01 năm nhưng thực tế đây là giao dịch vay mượn,
thế chấp đất cho L, đưa cho L bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất để làm tin; chữ ký chữ viết mang tên Nguyễn Thị N do bà ký và viết ra. Con bà
Nguyễn Văn H1 ký chứng kiến việc bà nhận của L 700 triệu đồng H1 có
cam kết nếu không khả năng trả thì anh H1 trả thay cho bà. Sau đó mượn
thêm của L 100.000.000 đồng, tổng cộng là 800.000.000 đồng. Đến ngày
12/10/2023, bà có lấy bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về và trả trước
cho bà L 400.000.000 đồng. Ngay sau đó thì bà mượn lại L số tiền 400.000.000
đồng, tổng cộng nợ 800.000.000 đồng. Đến ngày 15-10-2023, mượn L thêm
100.000.000 đồng, tổng cộng 900.000.000 đồng. Hai bên thoả thuận miệng tiền
lãi là 1.000.000.000 đồng là 26.000.000 đồng/tháng, bà có đóng tiền lãi hàng tháng,
đóng từ tháng 9/2023 đến ngày 06/12/2023.
Bà L có chơi hụi của bà nhiều dây hụi, bà bị bể hụi tháng 10/2023 nhưng đến
tháng 12/2023 mới đến gút hụi với L hụi của bà L là hụi chết, gút tiền hụi
tính đến ngày 06/12/2023 thì bà L còn nợ tiền hụi chết của bà là 240.000.000 đồng.
Còn việc mua bán hụi trước khi bà bể hụi vào tháng 10/2023, L đã hốt hụi trước
khi bà bể hụi, bà đã đăng hụi đầy đủ cho bà L, bà L còn nợ tiền hụi chết của bà, gút
tổng cộng tiền hụi chết còn lại tính đến tháng 12/2023 240.000.000 đồng. Giấy
mua hụi trên giấy tập học sinh, ghi mực màu đỏ do bà L cung cấp là chữ ký, chữ viết
của bà, bà đã nhận đủ tiền bán hụi của bà L.
Vào ngày 06/12/2023, hai bên gút n li gm tin hi chết, tin vay
900.000.000 đồng, tin hi chết L tham gia chưa mãn còn n li 240.000.000
đồng, đưa tiền mặt 60.000.000 đồng nên còn lại 600.000.000 đồng, bà L nói bà ph
tiền lãi 26.000.000 đồng nên cộng thêm thành 626.000.000 đng, chia ra 30 phn
góp mỗi tháng 25.000.000 đồng, góp đến 26/5/2024 thì hết, H2 ghi nhn
tin ca bà và ký tên trong cun tp màu xanh.
4
Vic bà N không ly li bn chính giy n do suất. Nay N không đồng
ý yêu cu khi kin ca bà L vì bà N đã trả n xong.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông H1 trình bày:
Mẹ anh làm ăn mượn tiền L, hàng tháng bà L đến nhà bà L hoặc bà
L lên nhà mẹ anh để lấy tiền, cụ thể lấy tiền gì thì do N L bàn bạc anh không
rành. Thỉnh thoảng khi bà N bận công chuyện thì nhờ anh đem tiền xuống nhà
đưa cho L, đưa nhiều lần nên anh cũng không nhớ số tiền thời gian nào. Ngày
28/01/2025 từ tài khoản ngân hàng A của Nguyễn Văn H1 chuyển qua tài khoản V
của bà Nguyễn Thị Thúy L số tiền 20.000.000 đồng, tiền này là bà N góp cho bà L,
do tháng đó N thiếu tiền góp với L, L đến nhà quậy nên anh phải đem xe
của N đi thế chấp được 20.000.000 đồng, anh nhận tiền thế xe xong thì chuyển
khoản trả cho bà L.
Nội dung cam kết trong Bảng thoả thuận bang đất ghi ngày 06/9/2023 do
L đọc cho anh viết ra, là chữ viết của anh, chữ mang tên anh là do anh
viết ra, thời điểm này anh viết cam kết để L làm ăn với bà N, lúc này hai mẹ con
anh cùng mặt, chỉ ký giấy, không có đưa tiền gì, không biết N có đưa giấy đất
cho bà L không.
Theo trình bày của N thì N đã trả tiền cho L xong nên anh không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L.
Tại Bản án thẩm 45/2026/DS-ST ngày 29/01/2026 Tòa án nhân dân Khu
vực 10 - Tây Ninh quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy L đối với
Nguyễn Thị N về hợp đồng vay tài sản.
Buộc Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn H1 nghĩa vụ liên đới trả cho
Nguyễn Thị Thúy L số tiền nợ gốc là 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng.
Buộc Nguyễn Thị N trả cho Nguyễn Thị Thúy L tiền nợ gốc 500.000.000
(năm trăm triệu) đồng và tiền nợ lãi là 151.333.000 đồng, tổng cộng là 651.333.000
(sáu trăm năm mươi mốt triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn) đồng.
Kể tngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong,
người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của stiền còn phải thi hành
tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyễn Thị Thúy L không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả
cho bà Nguyễn Thị Thúy L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.500.000 (mười chín
triệu, năm trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0009872 ngày 28/10/2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn H1 phải cùng chịu tiền án phí dân sự
5
sơ thẩm là 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
Nguyễn Thị N phải chịu tiền án phí dân sự thẩm là 30.053.000 (ba mươi
triệu, không trăm năm mươi ba nghìn) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/1/2026 Nguyễn Thị N ông Nguyễn Văn H1 kháng cáo yêu cầu
cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn, Nguyễn Thị N người quyền và nghĩa vụ liên quan, ông
Nguyễn Văn H1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyễn Thị N cung cấp 10 nh
chụp màn hình điện thoại từ tài khoản zalo có tên Nguyễn Thị N, có nội dung chụp
giao dịch chuyển tiền đến tài khoản thụ hưởng Nguyễn Thị Thúy L, tổng số
tiền 72.000.000 đồng. Các giao dịch không thể hiện tài khoản gửi tiền, không thể
hiện thời gian giao dịch.
Bị đơn người đại diện của bị đơn đề nghị cấp phúc thẩm xem xét các
chứng cứ mới do bị đơn cung cấp, đồng thời cho rằng khoản tiền bà L mua hụi của
bà N là khoản nợ 400.000.000 đồng trong tổng số nợ 900.000.000 đồng.
Người có quyền nghĩa vụ liên quan không đồng ý liên đới với bị đơn trả nợ
cho L, cho rằng bị L ép buộc viết cam kết trả nợ mới trả giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Mặt khác, N đã trả hết tiền cho bà L nên không đồng ý trả
tiền cho bà L.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý với yêu cầu kháng
cáo của bị đơn và người có quyền nghĩa vụ liên quan.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên
tòa:
Về tố tụng: Vic tuân theo pháp lut ca Thm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa thc hiện đúng trình tự, th tục theo quy định ca B lut T tng dân s.
Các đương s thc hiện đúng quyn nghĩa vụ của mình theo quy định ca B lut
T tng dân s.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án thẩm, không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa; ý kiến Tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
6
Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn H1 nộp trong thời hạn
luật định, vhình thức nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272,
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn H1, Hội đồng
xét xử xét thấy:
[2.1] Tại cấp thẩm, bà N và L trình bày thống nhất viết giấy bảng
thoả thuận bán đất ghi ngày 06/9/2023, chữ ký chữ viết mang tên Nguyễn Thị N là
của N viết ra, ông H1 con N cam kết trả thay cho N số tiền
700.000.000 đồng nếu bà N không trả tiền được cho L. Bà N thừa nhận sau ngày
gút nợ mượn thêm tiền của L ghi tiếp vào Bảng thoả thuận báng đất ghi
ngày 06/9/2023, tính đến ngày 15/10/2023 tổng cộng là 900.000.000 đồng. Các bên
xác định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đặt cọc không thật, nội
dung bảng thoả thuận bán đất thực chất việc chốt nợ giữa L N số tiền
700.000.000 đồng, khoản nợ này bà N mượn của bà L nhiều lần và hẹn 01 năm trả.
Ngoài bảng thoả thuận này, các đương sự cung cấp thêm các giấy tờ mượn tiền, mua
bán hụi.
Tại phiên toà phúc thẩm, bà Nguyễn Thị N cho rằng số tiền mượn thêm
400.000.000 đồng tiền nợ bán hụi cho L. Lời trình bày này không được L
thừa nhận. Đồng thời bà N cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh số tiền
ghi nợ 400.000.000 đồng ngày 12/10/2023 là tiền mua bán hụi với L. Lời trình
bày của N mâu thuẫn với lời trình bày tại cấp sơ thẩm nên không được chấp nhận.
Cấp sơ thẩm xác định số tiền nợ vay bà N nợ bà L là 900.000.000 đồng là
căn cứ.
[2.2] Về số tiền nợ đã trả:
L cho rằng N mượn tiền nhiều lần, tính đến ngày 15/10/2023 N n
tổng cộng là 900.000.000 đồng. Bà N cho rằng ngày 06/12/2023, bà L đã gút nợ lại
với bà ghi nội dung “06/12/2023, Nhà mượng bà L 626.000.000 đồng” và tính đến
ngày 25/5/2024 thì bà N đã trả tiền xong cho bà L. Bà L thừa nhận chữ viết, chữ ký
của bà tuy nhiên không thừa nhận việc gút nợ mà cho rằng đây khoản nợ nằm trong
số tiền nợ gốc 900.000.000 đồng.
Xét thấy, L N quan hệ làm ăn vay mượn nhiều lần, mua bán hụi,
các bên cung cấp nhiều giấy nợ đều trình bày các khoản nào trả xong hoặc gút nợ
thành khoản khác thì gạch bỏ giấy nợ cũ. Đối với khoản nợ 626.000.000 đồng, nội
dung trong cuốn tập màu xanh do bà N cung cấp chỉ ghi “06/12/2023, Nhà mượng
L 626.000.000 đồng” “Nhà còn nợ L: 6.250.000 sáu trăm hai mươi lăm
triệu: 25/5/2024 30 phần” không thể hiện về việc gút nợ liên quan đến
khoản nợ 900.000.000 đồng. Hơn nữa, bà L không thừa nhận đây là gút nợ mà cho
7
rằng viết tách khoản nợ này ra đN điều kiện trả nợ cho bà từng khoản nên
hai bên không gạch bỏ bản chính Bảng thoả thuận báng đất ghi ngày 06/9/2023
L vẫn giữ bản chính. N cho rằng, tại thời điểm 25/5/2024 chỉ còn nsố tiền
625.000.000 đồng. Tuy nhiên bà N không chứng minh được số tiền đã trả cho bà L
vào thời điểm nào. Mặt khác, giấy biên nhận nợ 900.000.000 đồng L còn ginên
không có cơ sở xác định N đã trả cho bà L số tiền 300 triệu nhưN trình bày.
N cho rằng, sau khi viết giấy nội dung “Nhà còn nợ L: 6.250.000
sáu trăm hai mươi lăm triệu: 25/5/2024 30 phần”, bà N đã trả cho bà L 19 lần, mỗi
lần 30.000.000 đồng thông qua H2, H3ông H1. Tuy nhiên, số tiền bà H2,
H3 thừa nhận nhận giùm N đóng cho bà L phù hợp với các chứng cứ các
bên cung cấp 42.000.000 đồng, số tiền anh H1 chuyển khoản cho N
20.000.000 đồng. Như vậy căn cứ N đã trả cho L 62.000.000 đồng. Do số
tiền bà H2, bà H3 và ông H1 chuyển cho bà L không thể hiện là trả lãi hay gốc nên
cấp sơ thẩm tính lãi khoản tiền vay, sau đó khấu trừ khoản tiền N đã trả cho bà L
là phù hợp.
[2.3] Về tiền lãi:
N trình bày hai bên thoả thuận miệng tiền lãi 1.000.000.000 đồng
26.000.000 đồng/tháng, đóng tiền lãi hàng tháng, đóng từ tháng 9/2023 đến
ngày 06/12/2023. L trình bày tiền lãi hai bên thoả thuận miệng, ban đầu thoả
thuận là 2,5%/tháng/01 tỷ đồng, bà N đã đóng lãi được mấy tháng thông qua bà H2,
H3. Tiền bà H2, bà H3 đưa là tiền lãi của số tiền 900.000.000 đồng.
Xét thấy, theo bảng thoả thuận mua bán đất ghi ngày 06/9/2023 ngày
15/10/2023 các bên không thoả thuận lãi, việc thoả thuận lãi là thoả thuận miệng,
các bên tranh chấp về lãi suất nên cấp thẩm xác định lãi suất theo khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là 10%/năm là đúng quy định của pháp luật. Các
bên không kháng cáo về cách tính lãi.
[2.3] Về nghĩa vụ liên đới: Các bên đều trình bày thống nhất ông H1 con của
N cam kết nếu N không trả tiền được cho L thì ông H1 trả thay,
vào bảng thoả thuận bán đất ngày 06/9/2023 đối với khoản tiền nợ gốc 700.000.000
đồng, tại phiên toà L chỉ yêu cầu ông H1 liên đới với N trả tiền nợ gốc
700.000.000 đồng, không yêu cầu ông H1 liên đới trả tiền nlãi. Xét thấy sau khi
gút nợ ngày 06/9/2023, L N đều thừa nhận bà N mượn thêm 100.000.000
đồng tổng cộng 800.000.000 đồng, sau đó ngày 12/10/2023 N trả cho L
400.000.000 đồng, còn nợ lại 400.000.000 đồng. Ngay sau đó, N mượn lại
400.000.000 đồng của bà L không có sự cam kết trả thay của ông H1. Do đó,
căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu của L về nghĩa vụ liên đới. Ông H1 kháng
cáo không đồng ý liên đới không có căn cứ chấp nhận
[2.4] Kèm theo đơn kháng cáo, bà N nộp bổ sung các hình ảnh chụp từ màn
hình điện thoại qua tin nhắn zalo, hình ảnh thể hiện giao dịch chuyển khoản, tài
8
khoản thụ hưởng Nguyễn Thị Thúy L, tổng số tiền 72.000.000 đồng. Tuy
nhiên, các giao dịch này không tài khoản chuyển, thời gian chuyển, nội dung
chuyển. Mặt khác bà L không thừa nhận số tiền này thanh toán cho số nợ
900.000.000 đồng. L cho rằng, các khoản tiền N chuyển cho bà là tiền bà L
mua hụi của bà N, số tiền 372.000.000 đồng. Sau khi mua hụi thì bà N nghĩa vụ
trả lại số tiền hụi theo từng đợt cho bà L. Lời trình bày của bà L phù hợp với chứng
cứ L cung cấp giấy mua hụi chữ của bà N. N cho rằng, số tiền mua
bán hụi thực chất là số nợ 400.000.000 đồng N nhận ngày 12/10/2023 không
sở chấp nhận. Do đó, các tài liệu N cung cấp kèm theo đơn kháng cáo không
được coi chứng cứ chứng minh việc N trả tiền cho bà L trong số nợ 900.000.000
đồng.
[3] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án thẩm đã
đánh giá đúng bản chất vụ án, áp dụng đúng pháp luật. Nguyễn Thị N ông
Nguyễn Văn H1 kháng cáo nhưng không chứng minh được yêu cầu kháng cáo là
căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Giữ nguyên bản án thẩm như ý
kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm.
[4] Tại phiên tòa ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về đề nghị Hội đồng xét
xử, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo Nguyễn Thị N ông Nguyễn Văn H1 không được chấp
nhận nên Nguyễn Thị N ông Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyễn Thị N và ông Nguyễn
Văn H1.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 45/2026/DS-ST ngày 29-01-2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H1, mỗi người phải chịu 300.000 đồng
tiền án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng án phí Nguyễn Thị N
300.000 đồng án phí ông Nguyễn Văn H1 đã nộp theo biên lai thu số 0003290
0003291, ngày 12 tháng 02 năm 2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
9
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật Thi hành án dân sự.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND tnh Tây Ninh;
- TAND Khu vc 10 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân s tnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tp án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Hoàng Th Thuý Lành
Tải về
Bản án số 639/2026/DS-PT Bản án số 639/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 639/2026/DS-PT Bản án số 639/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất