Bản án số 451/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 451/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 451/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 451/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 10 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn Huỳnh Thị L có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 451/2026/DS-PT
Ngày: 20 - 05 - 2026
“V/v Tranh chấp dân sự - Nợ
hụi, hợp đồng vay tài sản,
tiền thuê nhà và thực hiện
nghĩa vụ do người chết để
lại”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đạt
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Ái Đoan
Ông Trương Vĩnh Hữu
- Thư phiên tòa: Mai Gia Khánh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa:
Bùi Thị Thanh Bạch - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 ngày 20 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
226/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 03 năm 2026 về Tranh chấp dân sự - Nợ
hụi, hợp đồng vay tài sản, tiền thuê nhà và thực hiện nghĩa vụ do người chết để
lại”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 144/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 929/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 04 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Huỳnh Thị L, sinh năm 1970 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn:
1. Ông Trần Thế H, sinh năm 1952 (có mặt);
2
2. Chị Trần Lê Cẩm H1, sinh năm 2001;
Cùng địa chỉ: Số I, tổ D, ấp Đ, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của chị H1 ông Trần Thế H, sinh năm
1952; Địa chỉ: Số I, tổ D, ấp Đ, xã M, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Huỳnh Thị L, bị đơn Trần Thế H.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo án thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh
Nguyễn Trường T trình bày: Do mối quan hệ quen biết nên L (N) tham
gia chơi hụi do Thị Cẩm T1 (T) vợ của ông Trần Thế H mẹ của
Trần Lê Cẩm H1, gồm các dây hụi sau:
Đối với dây hụi do bà Lê Thị Cẩm T1 làm đầu thảo:
- Dây hụi 2.000.000 đồng, một tháng khui một lần, mở ngày 08/6/2018
(âm lịch), 13 thành viên tham gia, gồm 18 phần, L tham gia 01 phần
đã đóng cho bà T1 được 13 tháng với số tiền là 26.000.000đồng.
- Dây hụi 3.000.000 đồng, một tháng khui một lần, mngày 10/01/2019
(âm lịch), 15 thành viên tham gia, gồm 18 phần, L tham gia 01 phần
đã đóng cho bà T1 được 8 tháng với số tiền là 24.000.000đồng.
- Dây hụi 2.000.000 đồng, một tháng khui một lần, mở ngày 02/5/2018
(âm lịch), 15 thành viên tham gia, gồm 20 phần, L tham gia 01 phần
đã đóng cho bà T1 được 16 tháng với số tiền là 32.000.000đồng.
Đối với dây hụi do bà Huỳnh Thị L làm đầu thảo:
- Đối với 02 dây hụi ngày 30/4/2019 và ngày 10/11/2018 (âm lịch) bà T1
đóng hụi sống ít hơn số tiền chơi hụi 5.000.000đồng, nhưng L không nhớ
cụ thể số tiền đóng hụi sống ít hơn là bao nhiêu. Do đó bà L thống nhất có nhận
của bà T1 là 5.000.000đồng cho mỗi lần đóng hụi sống của 02 dây hụi.
- Dây hụi 5.000.000đồng, một tháng khui một lần, mở ngày 30/4/2019
(âm lịch), 17 thành viên tham gia, gồm 19 phần, T1 tham gia 02 phần.
Trong đó: phần hụi đã lãnh: T1 lãnh lần thứ nhất ngày 30/4/2019, góp hụi
lại được 03 tháng, còn nợ lại 15 tháng với số tiền 75.000.000đồng. Phần hụi
chưa lãnh: T1 đóng được 04 tháng, mỗi tháng 4.000.000đồng với số tiền
16.000.000đồng. L đồng ý trả cho ông H, chị H1 số tiền T1 đã đóng 04
lần của dây hụi này là 20.000.000đồng.
- Dây hụi 5.000.000đồng, một tháng khui một lần, mở ngày 10/11/2018
(âm lịch), có 19 thành viên tham gia, gồm 19 phần, bà T1 tham gia 01 phần. Bà
3
T1 hốt hụi vào lần thứ 9 vào ngày 15/7/2019, góp hụi được 02 tháng, còn nợ lại
08 tháng với số tiền 40.000.000đồng.
Như vậy, tổng cộng số tiền T1 còn nợ lại dây hụi do L làm đầu
thảo 95.000.000đồng (115.000.000đồng 20.000.000đồng =
95.000.000đồng).
Đối với số tiền vay: L cho Thị Cẩm T1 mượn số tiền
20.000.000đồng vào ngày 20/5/2019 âm lịch số tiền 200.000.000đồng vào
ngày 30/12/2018 âm lịch, không thỏa thuận lãi suất, thời hạn trả khi nào
nhu cầu thì T1 trả lại cho L. Sau đó, ông H đã trả được cho L
100.000.000đồng. Như vậy T1 còn nợ lại stiền 120.000.000đồng. Ngày
06/9/2019 (âm lịch) T1 chết. Bà L yêu cầu ông H và chị H1 là người thừa kế
của bà T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông H và chị H1 không thực hiện.
- Đối với yêu cầu phản tố của ông Trần Thế H về việc yêu cầu L trả
tiền thuê nhà còn thiếu 46 tháng, mỗi tháng 2.000.000đồng với tổng số tiền
92.000.000đồng thì L không đồng ý. L thừa nhận thuê nhà của bà
T1 46 tháng, mỗi tháng 1.000.000đồng đã đưa trước cho T1
10.000.000đồng, nên chỉ còn nợ lại T1 tiền thuê n36.000.000đồng.
L không đồng ý với trình bày và yêu cầu phản tố của ông H.
Tại đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của Huỳnh Thị L ngày
07/3/2025 trình bày như sau: Đối với dây hụi 5.000.000đồng do L làm chủ
thì bà L rút lại 10.000.000đồng (trong số tiền 95.000.000đồng).
Nay bà Huỳnh Thị L làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Đối với phần tiền hụi: Yêu cầu ông Trần Thế H chị Trần Lê Cẩm H1
người thừa kế của Lê Thị Cẩm T1 phải nghĩa vụ trả cho Huỳnh Thị
L số tiền 157.000.000đồng còn thiếu và không yêu cầu tính lãi.
- Đối với số tiền vay: Yêu cầu ông Trần Thế H chị Trần Cẩm H1
người thừa kế của Thị Cẩm T1 phải nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị L
số tiền 120.000.000đồng và không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn ông Trần Thế H đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của
Trần Cẩm H1 trình bày: Khi T1 còn sống, mượn của bà L số tiền là:
200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng) ngày 30/12/2018. Số tiền này đã trả rồi,
có biên nhận.
* Các khoản tiền bà T1 còn thiếu bà L:
- Tiền vay: Số tiền 20.000.000đồng tháng 5 âm lịch năm 2019.
4
- Tiền nợ hụi (do bà T1 làm chủ thảo):
+ Dây hụi ngày 02/5/2018 số tiền: 32.000.000đồng (Ba mươi hai triệu
đồng).
+ Dây hụi ngày 10/01/2019 stiền: 24.000.000đồng (Hai mươi bốn triệu
đồng).
Đối với dây hụi ngày 08/06/2018 L đã hốt hụi rồi, còn phải đóng lại
cho bà T1 là 8.000.000đồng, nhưng bà L chưa đóng. Đối với dây hụi này, khi
đóng hụi sống L đóng ít hơn số tiền chơi hụi là 2.000.000đồng, nhưng ông
H không biết cụ thể số tiền đóng hụi sống ít hơn bao nhiêu. Do đó ông H
thống nhất T1 nhận của bà L 2.000.000đồng cho mỗi lần đóng hụi
sống.
Như vậy T1 còn n lại L vừa tiền H2, vừa tiền mượn
68.000.000đồng (Sáu mươi tám triệu đồng).
* Các khoản tiền bà L còn thiếu lại bà T1 như sau:
Các dây hụi bà T1 tham gia, do bà L làm chủ thảo.
- Tiền hụi sống dây 5.000.000đồng, khui ngày 10/11/2018 âm lịch, bà T1
đã đóng tiền đến tháng 8/2019 âm lịch (đóng được 10 tháng) với số tiền
50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng).
- Tiền hụi sống dây 5.000.000đồng, khui ngày 30/4/2019 âm lịch, T1
chơi 02 phần đã đóng tiền đến tháng 8/2019 âm lịch (đóng được 5 tháng/02
phần) với số tiền là: 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng).
- Bà L có thuê nhà của bà T1 để kinh doanh bao bì và giấy gói xoài là 46
tháng chưa trả tiền (tính từ tháng 7/2019 đến ngày 30/4/2023) giá thuê mỗi
tháng là 2.000.000đồng. Như vậy, tiền thuê nhà L còn thiếu T1
92.000.000đồng (Chín mươi hai triệu đồng).
Số tiền L còn nợ T1 là: 192.000.000đồng (Một trăm chín mươi hai
triệu đồng).
Như vậy số tiền L thiếu T1 trừ đi stiền T1 thiếu L tsố
tiền bà L còn nợ lại T1 là: 124.000.000đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu
đồng)
Cụ thể: (Tiền hụi 100.000.000đồng + 92.000.000đồng tiền thuê nhà)
68.000.000đồng bà T1 thiếu bà L = 124.000.000đồng.
Nay ông H yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 9 Đồng Tháp giải quyết:
5
Yêu cầu Huỳnh Thị L trả lại cho người thừa kế của Thị Cẩm T1
ông Trần Thế H và chị Trần Lê Cẩm H1 số tiền: 124.000.000đồng (Một trăm
hai mươi bốn triệu đồng).
* Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ:
- Biên nhận vay tiền 20.000.000đồng, ngày 20/5/2019al (bản chính);
- Biên nhận vay tiền 200.000.000đồng ngày 30/12 tết (bản chính);
- Biên nhận ngày 14/01/2020 L L nhận 100.000.000đồng
của ông H (bản phô tô có đóng dấu quốc huy của TAND tỉnh Đồng Tháp).
- Biên nhận có nội dung 50.000.000đồng trả rồi không lấy biên nhận (bản
phô tô có đóng dấu quốc huy của TAND tỉnh Đồng Tháp).
- Biên nhận ngày 30/11/2019 của bà L nhận của ông H 50.000.000đồng
(bản phô tô có đóng dấu quốc huy của TAND tỉnh Đồng Tháp).
- Biên nhận tiền tháng ngày 30 chỉ là 200.000.000đồng (bản phô
đóng dấu quốc huy của TAND tỉnh Đồng Tháp).
- Giấy xác nhận của Trần Văn S, ngày 06/7/2023 (bản chính);
- Giấy xác nhận của Dương Thị Kiều T2, ngày 12/7/2023 (bản chính);
- Giấy xác nhận của Trần Văn D, ngày 13/7/2023 (bản chính);
- Giấy xác nhận của Trần Thị Kim X, ngày 12/7/2023 (bản chính);
- Giấy xác nhận của Đoàn Thị Kim P, ngày 13/7/2023 (bản chính);
- Biên bản thỏa thuận ngày 16/4/2024 Huỳnh Thị L ông Trần Thế
H (bản phô tô);
- Biên bản hòa giải ngày 16/8/2023 của TAND huyện Cao Lãnh (bản phô
tô có đóng dấu quốc huy của TAND tỉnh Đồng Tháp).
- Biên bản hòa giải ngày 07/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh
(bản chính);
- Tờ tường trình ngày 25/9/2025 của ông Trần Thế H (bản chính);
- Hợp đồng thuê mặt bằng giữa ông Trần Thế H Huỳnh Thị S1 (bản
chính);
- Đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của Huỳnh Thị L (bản
chính);
- Tờ khai mối quan hệ hàng thừa kế (bản chính).
6
Tại bản án dân sự thẩm số 144/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 Đồng Tháp áp dụng Khoản 3 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 244, Điều 271 Điều 273 của Bộ
luật tố tụng dân sự dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 117, Điều 463, Điều 466,
khoản 2 Điều 468, Điều 471, Điều 472, Điều 481, Điều 612 Điều 615 Bộ
luật dân sự năm 2015; Điều 17; Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP
ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Huỳnh Thị L về việc
yêu cầu ông Trần Thế H và chị Trần Lê Cẩm H1 là người thừa kế của bà Lê Thị
Cẩm T1 cùng trách nhiệm liên đới trả tiền nợ hụi tiền nợ vay mà
Thị Cẩm T1 còn nợ.
Buộc ông Trần Thế H chị Trần Cẩm H1 phải nghĩa vụ trả cho
Huỳnh Thị L số tiền 142.000.000đồng (một trăm bốn ơi hai triệu đồng),
trong phạm vi di sản mà bà Lê Thị Cẩm T1 để lại.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Thế H về việc yêu
cầu Huỳnh Thị L nghĩa vụ trả lại tiền nợ hụi tiền thuê tài sản cho
người thừa kế của bà Lê Thị Cẩm T1.
Buộc Huỳnh Thị L phải nghĩa vtrả cho ông Trần Thế H chị
Trần Lê Cẩm H1 là hàng thừa kế của bà T1 với số tiền là 96.000.000đồng (chín
mươi sáu triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân s
năm 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 10 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn Huỳnh Thị L có đơn kháng cáo
yêu cu Tòa án cp phúc thm gii quyết bao gồm: Sửa Bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.
Ngày 10 tháng 10 năm 2025, bị đơn Trần Thế H đơn kháng cáo yêu
cu Tòa án cp phúc thm gii quyết bao gồm: Sửa Bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
oTại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
7
đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố. Nguyên đơn bị đơn vẫn giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết toàn bộ vụ án.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử phúc thẩm các
đương sự chấp hành đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự
kháng cáo trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Trần Thế H chị Trần
Cẩm H1 phải nghĩa vụ dùng di sản thừa kế của Thị Cẩm T1 để thực
hiện nghĩa vụ cho Huỳnh Thị L với số tiền nợ hụi là 122.000.000đồng, tiền
nợ vay 20.000.000đồng. Tổng cộng 142.000.000đồng. Đồng thời buộc
Huỳnh Thị L trả cho ông Trần Thế H chị Trần Cẩm H1 người thừa kế
của bà Thị Cẩm T1 số tiền nợ hụi 50.000.000đồng tiền thuê nhà
46.000.000đồng.Tổng cộng 96.000.000đồng là có căn cứ.
Bà L, ông H kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới chứng minh
cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không sở chấp nhận. Do đó, căn cứ
khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơnHunh Th L và b đơn
ông Trn Thế H, giữ nguyên Bn án dân s thẩm s 144/2025/DS-ST ngày
30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Tháp.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được
thẩm tra tại phiên tòa, nội dung yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn
Trần Thế H, lời trình bày của các đương sự kết quả tranh tụng tại phiên tòa
phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng
Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ “Tranh chấp dân sự - Nợ
hụi, hợp đồng vay tài sản, tiền thuê nhà và thực hiện nghĩa vụ do người chết để
lại” căn cứ. Sau khi xét xthẩm thì L, ông H cùng kháng cáo bản
án trong thời hạn luật định. L nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ,
ông H được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, nên được xem xét theo thủ tục phúc
thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: Thị Cẩm T1 (chết ngày 04/10/2019) vợ
của ông Trần Thế H, chị Trần Lê Cẩm H1 là con chung của bà T1 - ông H. Khi
8
còn sống, vào khoảng năm 2018 T1 tham gia giao dịch chơi hụi, vay tiền
và cho thuê nhà với bà L. Năm 2019 bà T1 chết thì phát sinh tranh chấp giữa bà
L với ông H, chị Cẩm H1 đối với các giao dịch do T1 xác lập với L.
Huỳnh Thị L khởi kiện yêu cầu ông H và chH1 là các đồng thừa kế của T1
phải liên đới trả cho bà L số tiền nợ hụi là 157.000.000đồng không yêu cầu tính
lãi. yêu cầu ông H phải trả số tiền nợ mà T1 còn thiếu
120.000.000đồng. Tổng cộng 277.000.000đồng. Bị đơn ông Trần Thế H phản
tố yêu cầu bà Huỳnh Thị L trả cho ông H chị H1 người thừa kế của bà
Thị Cẩm T1 (sau khi cấn trừ tiền nợ hụi, tiền nợ vay với L) số tiền nợ hụi
32.000.000đồng tiền thuê nhà 92.000.000đồng, tổng cộng 124.000.000
đồng. Sau khi Tòa án thẩm xét xử tL ông H cùng kháng cáo bản án
sơ thẩm.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thị L và kháng cáo của ông Trần
Thế H nhận thấy: Khi bà T1 còn sống thì bà T1 có làm chủ hụi, bà L là hụi viên
tham gia chơi hụi. Bà L cũng có làm chủ hụi , bà T1 là hụi viên có tham gia các
dây hụi của L làm chủ thảo. Ngoài ra T1 còn vay của L số tiền
220.000.000đồng, T1 cho L thuê nhà để mua bán trong thời gian 46
tháng. Ngoài chứng cứ là biên nhận vay số tiền 220.000.000đồng (do bà T1 vay
của L) thì các bên đương sự không có chứng cứ để chứng minh về các dây
hụi tranh chấp ng như hợp đồng thnhà (chỉ thỏa thuận miệng). Căn cứ
tài liệu thu thập trong hồ vụ án, kết quả đối chất tại phiên tòa phúc thẩm.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[3.1] Trước hết đối với c dây hụi do T1 làm chủ thảo hụi, L hụi
viên:
- Tại phiên tòa thẩm và phiên tòa phúc thẩm thì ông H bà L cùng
thống nhất: Dây hụi khui ngày 02/5/2018 ngày 10/01/2019 hai bên thống
nhất T1 còn nợ lại L 56.000.000đồng. Đây sự kiện không cần phải
chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Dây hụi ngày 08/6/2018al ông H thừa nhận L đóng hụi 13 lần
đã hốt rồi nhưng L không thừa nhận đồng thời ông H không chứng cứ
chứng minh việc L hốt hụi. L cũng không thừa nhận đã hốt dây hụi này.
Bản án thẩm xác định Thị Cẩm T1 còn nợ Huỳnh Thị L
26.000.000đồng đối với dây hụi này là có căn cứ.
[3.2] Đối với các dây hụi do L làm chủ thảo, bà T1 là hụi viên:
- Dây hụi tháng 5.000.000đồng, mở ngày 30/4/2019 (âm lịch), gồm 19
9
phần, T1 tham gia 02 phần. Nguyên đơn trình bày, T1 tham gia 02 phần;
T1 đã hốt 01 phần kỳ khui thứ nhất, góp lại 04 kỳ, n nợ 14 kỳ với số
tiền 60.000.000đồng; T1 còn 01 phần hụi sống đã đóng được 05 ktương
đương số tiền 25.000.000đồng. Ông H không thừa nhận hốt hụi dây hụi này,
bà L không có chứng cứ chứng minh đã giao hụi cho bà T1. Tòa án sơ thẩm xác
định đối với dây hụi này L phải nghĩa vụ trả cho ông H, chị H1
50.000.000đồng là có căn cứ.
- Dây hụi tháng 5.000.000đồng, mở ngày 10/11/2018 (âm lịch), gồm 19
phần, T1 tham gia 01 phần, được ông H chị H1 thừa nhận. Đối với dây
hụi này ông H thừa nhận đóng 5.000.000đồng vào tháng 8/2019 (có viết
giấy tay), nhưng đóng theo trình bày của L. Mặt ông H không thừa nhận
hốt hụi nhưng tại giấy viết tay nộp cho Tòa án nội dung “Hụi 30/2 phần
9.000.000đ đống hụi lại cho T3 6.100.000đ còn lại 2.900.000đ. Hụi 10
5.000.000đ có cơ sở chứng minh ông H đóng 5.000.000đồng cho dây hụi ngày
10/11/2018 hụi chết (do hụi lãi), từ đó sở chứng minh dây hụi này
T1 đã hốt đóng lại hụi chết. Tòa án thẩm đã căn cứ vào tờ giấy đóng
hụi chết do ông H ghi để xác định đây tiền hụi chết, nghĩa rằng T1 đã
hốt dây hụi này là có căn cứ. Bà L trình bày bà T1 còn nợ lại 8 lần hụi chết tổng
số tiền là 40.000.000đồng. Tòa án thẩm xác định T1 nợ L số tiền
40.000.000đồng của dây hụi y là có cơ sở chấp nhận.
[3.3] Đối với phần nợ vay: L khởi kiện cho rằng T1 vay 02 lần
với số tiền 220.000.000đồng. L chứng minh bằng 02 biên nhận nợ, được
ông H thừa nhận. Cho nên, sở xác định số tiền 220.000.000đồng T1
vay của L thật. Quá trình tranh chấp thì L thừa nhận trả được
100.000.000đồng, sau đó ông H chứng minh trả thêm được 100.000.000đồng,
tổng cộng 200.000.000đồng. L cho rằng số tiền 100.000.000đồng do ông H
chứng minh bằng các tờ biên nhận trả cho số tiền vay khác, ông H không
thừa nhận khoản vay khác, bà L không chứng cứ khác đchứng minh.
Tòa án thẩm xác định tiền vay bà T1 còn nợ L 20.000.000đồng là có căn
cứ.
[3.4] Đối với tiền thuê nhà: L ông H cùng thống nhất thời gian vợ
chồng ông H - T1 cho L thuê 46 tháng là đúng, vấn đề này được hai bên
thừa nhận. Các bên tranh chấp với nhau về số tiền thuê hàng tháng và số tiền đã
trả. L trình bày gthuê 1.000.000đồng/tháng, ông H cho rằng cho thuê
với giá 2.000.000đồng/tháng. Cả hai bên đương sự đều không có lập văn bản và
không chứng cứ chứng minh, nên Tòa án thẩm chấp nhận theo sự thừa
10
nhận của L tiền thuê nhà mỗi tháng 1.000.000đồng. L cho rằng đã trả
được 10.000.000đồng nhưng ông H không thừa nhận, L cũng không
chứng cứ để chứng minh trả số tiền 10.000.000đồng. Tòa án thẩm xác định
bà L phải có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền 46.000.000đồng là có căn cứ.
[4] Từ những căn cứ phân tích như trên, xét nội dung bản án thẩm đã
xét xử căn cứ, đúng pháp luật. L và ông H cùng kháng cáo nhưng cả
hai bên cũng không cung cấp thêm chứng cứ mới để chứng minh cho yêu
cầu kháng cáo của mình sở, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của bà L, không chấp nhận kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án
sơ thẩm theo qui định tại khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự .
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận ý kiến đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về án phí: L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo qui định,
được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm xem như thi hành xong án
phí dân sự phúc thẩm. Ông H được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 117, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều
471, Điều 472, Điều 481, Điều 612 và Điều 615 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều
17; Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ,
hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
* Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Huỳnh Thị L; Không chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Thế H. Giữ nguyên bản án dân sự
thẩm số 144/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 9 – Đồng Tháp.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Huỳnh Thị L về việc
yêu cầu ông Trần Thế H và chị Trần Lê Cẩm H1 là người thừa kế của bà Lê Thị
Cẩm T1 cùng trách nhiệm liên đới trả tiền nợ hụi tiền nợ vay
Thị Cẩm T1 còn nợ.
11
Buộc ông Trần Thế H chị Trần Cẩm H1 phải nghĩa vụ trả cho
Huỳnh Thị L số tiền 142.000.000đồng (một trăm bốn ơi hai triệu đồng),
trong phạm vi di sản mà bà Thị Cẩm T1 để lại.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Thế H về việc yêu
cầu Huỳnh Thị L nghĩa vụ trả lại tiền nợ hụi tiền thuê tài sản cho
người thừa kế của bà Lê Thị Cẩm T1.
Buộc Huỳnh Thị L phải nghĩa vtrả cho ông Trần Thế H chị
Trần Lê Cẩm H1 là hàng thừa kế của bà T1 với số tiền là 96.000.000đồng (chín
mươi sáu triệu đồng).
4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015.
5. Về án phí:
- Huỳnh Thị L phải chịu tiền án phí dân s thẩm
11.550.000đồng, và phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, tổng cộng
11.850.000đồng. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng tạm
ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0006800 ngày 03/11/2025 của
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp số tiền 7.425.000đồng theo biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009242, ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Huỳnh Thị L phải nộp thêm
4.125.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Trần Thế H không phải chịu tiền án pdân sự thẩm án phí
dân sự phúc thẩm, do người cao tuổi đơn xin miễn tiền án phí dân sự
thẩm, phúc thẩm.
- Chị Trần Cẩm H1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần
yêu cầu của L được chấp nhận 3.550.000đồng trong phạm vi di sản do
Lê Thị Cẩm T1 để lại.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân scó
quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi
12
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên án công khai lúc 08 giờ 00 phút ngày 20 tháng 5 năm 2026.
Nơi nhn:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vc 9 Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương s;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Trần Văn Đạt
Tải về
Bản án số 451/2026/DS-PT Bản án số 451/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 451/2026/DS-PT Bản án số 451/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất