Bản án số 242/2025/DS ngày 25/01/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 242/2025/DS

Tên Bản án: Bản án số 242/2025/DS ngày 25/01/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 242/2025/DS
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn bà Trương Thị Bảo K và bị đơn ông Ngô Văn P xác nhận, ông P có viết Giấy mượn tiền ghi ngày 11/4/2015 thể hiện ông P có mượn của bà K số tiền 800.000.000 đồng. Về nguồn gốc số tiền nợ là do ông P cùng ông Nguyễn Thành T và vợ chồng ông Lê Văn N, bà Trương Thị Bảo K hợp tác làm ăn dẫn đến khoản nợ. Thời điểm viết giấy nợ là 11/4/2015 (23/02/2015 Âm lịch) và hẹn đến 30/4/2015 Âm lịch (02 tháng 07 ngày) sẽ thanh toán đủ số tiền nợ cho bà K. Tuy nhiên, hết thời hạn cam kết trả nợ vào ngày 30/4/2015 Âm lịch đến khi khởi kiện tháng 12/2023, hơn 08 năm không có tài liệu, chứng cứ nào có cơ sở xác định bà K có yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết tại Giấy mượn tiền ghi ngày 11/4/2015
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 242/2025/DS - PT
Ngày: 25-9-2025
V/v: Tranh chp hợp đồng vay tài
sn
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Hiếu
Các Thẩm phán: Bà Mai Vương Thảo
Bà Trần Thị Thanh Mai
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Hồng Diễm - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Lương Quc
Phòng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 62/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 7
năm 2025 về vic Tranh chp hợp đồng vay tài sn.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2025 của
Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân Khu vực
11 - thành phố Đà Nẵng) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 304/2025/QĐ-PT ngày
15 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 377/2025/QĐ – PT
ngày 27 tháng 8 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 413/2025/QĐPT-
DS ngày 12/9/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trương Thị Bảo K, sinh năm 1973; CCCD số
049173005xxx; Địa ch: Thôn L, V, thành phố Đà Nẵng (xã Đ, huyện Đ, tỉnh
Quảng Nam cũ). Có mặt
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Thế B, sinh năm 1987,
CCCD số 049087015xxx; Địa chỉ: thôn T, Q, thành phố Đà Nẵng; người
được ủy quyền (theo Hợp đồng ủy quyền số 18xx/2025/CCGD tại Văn phòng Công
chứng Đ, số 9x H, xã Đ, thành phố Đà Nẵng). Có mặt
2
2. Bị đơn: Ông Ngô Văn P, sinh năm 1975; CCCD số 049075018xxx; Địa
chỉ: Thôn M, V, thành phố Đà Nẵng (xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cũ).
mặt
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Phan Q, sinh năm 1995,
CCCD số 049095015xxx Dương Thị Ngọc T, sinh năm 1998, CCCD số
051198011xxx; Cùng địa chỉ liên hệ: Số 5x M, phường H, thành phố Đà Nẵng
người đại diện theo uỷ quyền. (Theo Giấy uquyền lập ngày 11/6/2025 tại Văn
phòng Công chứng L, thành phố Đà Nẵng). Ông Q có mặt; Bà T vắng mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Văn N, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn L, V, thành phố Đà
Nẵng (xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam ). Ông N ủy quyền cho Trương Thị
Bảo K đại diện tham gia tố tụng (theo Giấyy quyền lập ngày 24/9/2025 tại Ủy ban
nhân dân xã V, thành phố Đà Nẵng). Bà K có mặt.
3.2. Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn N, xã H, thành phố
Đà Nẵng (xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cũ). Hiện đang thi hành án phạt tại
Trại tạm giam 2C. Có đơn xin xét xử vắng mặt
3.3. Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn N, xã H, thành
phố Đà Nẵng (xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cũ). Có đơn xin xét xử vắng mặt
3.4. Ông Đức D, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn P, Đ, thành phố Đà
Nẵng (nay là xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cũ). Có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Ngô Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Trương Thị Bo K, ti Đơn khởi kin ngày 15/12/2023, quá
trình tham gia t tng và ti phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 11/4/2015 ông Ngô Văn P vay của Trương Thị Bo K s tin
800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng) để làm ăn. Ông P ghi Giấy mượn tin
hẹn đến 30/4 Âm lch năm 2015 sẽ thanh toán đủ tin. Tuy nhiên, t đó đến nay,
ông P không trả. Do đó, K khi kin yêu cu Toà án nhân dân huyn Đ buc ông
P tr s tiền 800.000.000 đng gc lãi phát sinh t ngày 30/4 âm lịch 2015 đến
khi tr xong n gc vi lãi sut 10%/năm. Ti phiên toà thẩm, K rút li yêu
cu tính lãi 10%/ năm từ ngày 30/4 âm lịch 2015 cho đến khi tr xong n gc.
Ông Ngô Thế B là ni bo v quyn và li ích hp pháp ca Trương Thị
Bo K trình bày: Đề ngh Hội đồng xét x áp dng khoản 3 Điều 26, điểm a khon 1
Điều 35, đim a khoản 1 Điều 39 B lut T tng dân sự; Điều 463; 466; 468 ca
B lut dân s, chp nhn yêu cu ca nguyên đơn Trương Thị Bo K buc ông
Ngô Văn P phải nghĩa v thanh toán cho K s tiền 800.000.000 đồng; Đình
ch yêu cầu tính lãi 10%/ năm từ ngày 30/4 âm lch 2015 cho đến khi tr xong n
gc, do K rút yêu cu.
3
* B đơn Ngô Văn P, người đi din theo y quyn ca ông P ông Hunh
Phan Q Dương Thị Ngc T trong quá trình gii quyết v án ti phiên tòa
sơ thẩm trình bày:
Khoảng năm 2014 - 2015 ông Ngô Văn P làm ăn chung vi ông Nguyn
Thành T v chồng Trương Thị Bảo K, anh Văn N. Quá trình cùng làm ăn,
ông P ghi n v chng bà K s tiền 800.000.000 đồng, ông Nguyn Thành T
cũng có n tin ông P.
Năm 2010, ông Nguyễn Thành T có nhn chuyn nhưng t nhóm h ông
Đức D thông qua giy t viết tay chuyn quyn s dng 10,1ha đt rng ti thửa đất
s 4, t bản đ 2xx (nay tha s 1xx, t bản đồ s 2), mục đích s dụng đất
rng sn xuất, địa ch ti thôn T, Đ, huyn Đ, tnh Qung Nam (cũ), Giy chng
nhn quyn s dụng đất do nhóm h ông Đức D. Theo đó, các bên tho thun:
Ông T s chuyn quyn s dng 10,1ha đất rng cho v chng bà K và ông N; bà K
xoá n cho ông P, ông P xoá n cho ông T. Các s kin xy ra đều phù hp vi
nhau v mt thi gian, s tin n 800.000.000 đồng, giá tr chuyển nhượng din
tích đất rng chuyển nhượng, c thể: Ngày 11/4/2015 ông Ngô Văn P lp giy nhn
n vi K s tiền 800.000.000 đồng. Đến ngày 03/8/2015, Nguyn Th Kim H
(v ông T) viết giy nhn n vi K s tiền 800.000.000 đng. Cùng trong ngày
03/8/2015, v chng ông Nguyn Thành T Nguyn Th Kim H cũng viết giy
n tiền ông Ngô Văn P số tiền 600.000.000 đồng. Sau đó ông Nguyễn Thành T lp
giy chuyn 10,1ha đất rng cho v chng bà K, ông N với giá 800.000.000 đồng.
Ti Biên bn ghi li khai ngày 12/9/2024, Nguyn Th Kim H trình bày:
Giấy mượn tin ngày 03/8/2015 do ghi viết theo ý kiến ca ông T (chng
H) ch ông T không vay tin ca K. H cũng khẳng định rng gia ông T vi
ông P cũng không còn nợ nần hay liên quan gì đến nhau nên hơn mười năm nay các
bên không còn liên lc vi nhau.
Ti bn t khai ngày 29/10/2024 ông Đc D trình bày: Chúng tôi
chuyển nhượng viết tay cho ông Nguyn Thành T Đ, Đ chúng tôi giao hn
Giy chng nhn Quyn s dụng đất cho ông T, mi th tc pháp lý chuyn cho ông
T t làm i không biết, cũng không biết bao nhiêu s dng s tin làm ". T
đó cho thấy, h ông D không chuyển nhượng 10,1ha đất rng cho ông N, bà K,
do ông T thc hiện, ông D cũng không biết không nhn tin t v chng ông N
và bà K.
Vi li khai của nguyên đơn K ngưi quyn lợi nghĩa vụ liên
quan ông Văn N: Tại Biên bn ghi li khai ngày 11/9/2024, Bn t khai ngày
22/01/2023 ghi li khai bà K cũng thừa nhn K xác lập văn bản xoá n
800.000.000 đồng cho ông P. K, ông N đã thừa nhn nhn chuyển nhượng
10.1ha đất rng t ông T do h ông Lê Đc D đại din đứng tên.
T các tài liu chng c li khai nêu trên cho thy ông T đã chuyển
nhưng 10,1ha đất rng ca h ông Đức D đi din cho ông Văn N
Trương Thị Bo K. Đồng thi, ông T đã giao toàn bộ Giy chng nhn quyn s
dụng đất h ông Đức D cho ông P cùng v chng ông N K để làm th tc
sang tên. Do, 10,1ha đất rng ca ông T chuyển nhượng nhưng giy chng nhn còn
4
đứng tên h ông Đức D đại din, do đó, để được đứng tên trong giy chng 10.1
ha đất rng, bà K mi lập văn bản xoá n điều kin cho ông P ngày 30/9/2015.
Ghi nhn "Nếu khi nào ông Ngô Văn P làm th tc chuyển nhượng bìa đỏ quyn s
dụng đất rừng 10 ha sang tên Văn N, tôi đng ý xoá n 800.000.000 đồng cho
ông Ngô Văn P". Ngày 04/8/2016 v chng K, ông N đưc cp giy chng nhn
quyn s dụng đất s CC996242 đối vi 10,1ha do nhn chuyển nhượng t h ông
D. Như vậy, ông P hoàn thành nghĩa v tr n đưc xác lp theo giấy mượn tin
ngày 1/4/2015 cho bà K.
Căn cứ khoản 1 Điều 120 BLDS v giao dch dân s điều kiện quy định:
“Trường hp các bên tho thun v điu kin phát sinh hoc hu b giao dch dân
s thì khi điều kiện đó xảy ra giao dch dân s phát sinh hoc hu b". Căn cứ quy
định tại Điều 373 BLDS 2015 quy định: Nghĩa vụ được hoàn thành khi bên có nghĩa
v thc hin toàn b hoc thc hin mt phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên
có quyn cho min thc hin.
T căn cứ trên, ông P đã hoàn thành nghĩa v cho K, K khi kin yêu
cu Toà án buc ông P tr cho bà K s tiền 800.000.000 đồng là không có cơ sở.
Đối vi yêu cu khi kin tin lãi chm tr vi lãi sut 10% t ngày
30/4/2015 Âm lịch đến khi tr xong n gc ca s tin vay 800.000.000 đồng. Ti
phiên toà nguyên đơn đã rút yêu cầu đề ngh Hội đồng xét x đình chỉ. T các căn
c trên, đ ngh áp dng khoản 1 Điều 120, khoản 3 Điều 150, khoản 1 Điều 370;
Điều 373: Điu 429 ca B lut dân s 2015, không chp nhn yêu cu khi kin
của nguyên đơn v vic buc ông Ngô Văn P phải nghĩa vụ thanh toán cho bà
Trương Thị Bo K s tin gốc 800.000.000 đồng.
* Những người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan trong v án:
- Ông Nguyn Thành T ti Biên bn ghi li khai ngày 30/10/2024 ngày
19/3/2025 trình bày: Trước đây, ông T n ông Ngô Văn P 300.000.000 đồng
còn các khon n khác cng dồn là 800.000.000 đng. Ông P lên nói vi ông T vic
ông P n v chng K, ông N cũng 800.000.000 đng. Ông P nói vy nên ông
T giao s đỏ cho anh P để chuyển nhượng 10ha đt rng trên cho K, ông N.
Ông T không nhn tin chuyển nhượng. Vic chuyn tr khon n mà ông n ông P
tr thay cho khon n ông P n bà K, ông N thì không lp biên bn ghi li. Tại
Biên bản đối chất giữa ông Nguyễn Thành T, bà Trương Thị Bảo K, ông Ngô Văn P
ngày 19/3/2025, ông T nhiều lần xác định: Ông T nhận tiền của ông P ông N
nhiều lần cộng dồn là 800 triệu, bà K buộc vợ ông (bà H) viết giấy nợ bà K 800 triệu
ông T đã nhận của ông P ông N. Ông T đã chuyển 10,1ha đất rừng cho bà K
để trả số tiền 800 triệu đồng mà vợ ông đã viết giấy nợ bà K.
- Ti Bn t khai ngày 12/9/2024 và Biên bn ghi li khai ngày 12/9/2024
Đơn xin xét x vng mt bà Nguyn Th Kim Htrình bày: Ông T chng bà H có làm
ăn với ông P và v chng ông N, bà K. Bà H không có quan h gì, không làm ăn với
ba người này. Bà H viết giy nhn n vi bà K s tiền 800.000.000 đồng là viết theo
ý kiến ca ông T, bn gc không còn chắc đã thanh toán xong. Mi quan h làm ăn,
mua bán 10ha đt rng vi ông N, bà K như thế nào do ông T làm vic, bà H không
biết, không nhn tin, không biết vic v chồng bán 10ha đất rng 800.000.000
5
đồng để cn tr tin ông P n ông N, bà K. Gia đình bà H có n ông P tin gì không
thì do ông T làm vic trc tiếp vi ông P, theo chắc không còn liên quan , hơn
10 năm nay không thấy ông P lên.
- Ti Bn t khai ngày 29/01/2024, Biên bn ly li khai ngày 24/01/2024
ông Văn N trình bày: Việc ông Ngô Văn P ghi giấy mượn tin K v ông thì
ông không biết. Ông N không biết v ông viết giy v vic ông P chuyn 10ha rng
cho ông txóa n cho ông P như ông P trình bày, cũng không biết ông P rng
hay không. T năm 2014 đến nay ông P không có chuyển nhượng diện tích đất rng
cho v chng ông, ch ông Nguyn Thành T chuyển nhượng cho v chng ông
10,1ha đất rng. Vic chuyển nhượng đt rng ca ông T không liên quan đến ông
P.
- Ti Bn t khai ngày 29/10/2024 Biên bn ghi li khai ngày 27/12/2024
ông Đức D trình bày: Ông đứng tên đại din nhóm h trong giy chng nhn
10,1ha đt rng, gm: ông Huỳnh Văn H, ông Mai Văn A, ông Đoàn Ngọc Qg.
Nhóm h ông chuyển nhượng 10,1 ha rng này cho ông Nguyn Thành T, ông
đại din viết giy tay làm y quyn cho ông T làm t tc sang tên cho ông T
hoc chuyển nhượng li cho ai tùy ông T. Sau này ông T chuyển nhượng đất rng
này cho ai thì ông không biết, ông cũng không biết s tin chuyển nhượng được bao
nhiêu và dùng s tin chuyển nhượng vào vic gì.
* Với nội dung vụ án như trên, Bản án dân sự thẩm số: 42/2025/DS-ST
ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
(nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11 - thành phố Đà Nẵng) quyết định:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản
2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
- Khoản 2 Điều 155; Điều 429, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Bảo K, buộc
bị đơn ông Ngô Văn P có nghĩa vụ trả cho Trương Thị Bảo K số tiền
800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng) về khoản nợ gốc ông Ngô Văn P viết giấy
mượn ngày 11/4/2025.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án của bà
Trương Thị Bảo K, thì hàng tháng ông Ngô Văn P còn phải chịu khoản lãi của số
tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật dân sự.
2. Đình chỉ yêu cầu tính lãi 10%/năm phát sinh từ ngày 30/4 âm lịch năm
2015 cho đến khi trả xong khoản nợ gốc 800.000.000 đồng.
3. Về án phí dân sự thẩm: Ông Ngô văn P phải chịu 36.000.000 đồng. Trả
lại cho Trương Thị Bảo K số tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.000.000 đồng theo
6
Biên lai thu số 0016586 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại
Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 - Đà Nẵng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo của đương sự.
* Ngày 11 tháng 6 năm 2025, bị đơn ông Ngô Văn P Đơn kháng cáo một
phần bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn Trương Thị Bảo K về việc yêu cầu ông P nghĩa vụ thanh toán số
tiền 800.000.000 đồng. Lý do, theo giấy xoá n có điều kin bà K viết ngày
30/9/2015: "Nếu khi nào ông Ngô Văn P làm th tc chuyển nhượng bìa đ quyn
s dụng đất rừng 10 ha sang tên Lê Văn N, tôi đồng ý xoá n 800.000.000 đồng cho
ông Ngô Văn P". Ông P đã thc hin xong vic chuyn quyn 10,1ha đất rng ca
ông T (do ông T nhn chuyển nhượng ca nhóm h ông Lê Đức D) cho v chng bà
K và ông N, do đó không còn nợ số tiền 800.000.000 đồng như bà K khởi kiện.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn ông Ngô Văn P, người đại diện theo ủy
quyền của ông P giữ nguyên nội dung đã kháng cáo. Các bên không tha thuận được
vi nhau v vic gii quyết v án.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
V th tc t tng: Những người tiến hành t tng tham gia t tng ti cp
phúc thẩm đã thc hiện đúng, đầy đủ quy đnh ca B lut T tng dân s trong quá
trình gii quyết v án ti cp phúc thm.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa ngày 12/9/2025, ông Lê Văn P trình bày các
nội dung liên quan đến quá trình tham gia thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử
dụng 10,1ha đất rừng từ giấy chứng nhận đứng tên nhóm hộ Lê Đức D (ông Nguyễn
Thành T đã nhận chuyển nhượng nhưng chưa sang tên) qua cho ông Lê Văn N
Trương Thị Bảo Kh, cụ thể: ông P đã liên hệ với ông V cán bộ Văn phòng đăng
đất đai huyện Đ (cũ) cùng ông V ông N thực hiện việc đo đạc diện tích đất
rừng để chuyển nhượng qua tên ông N, bà K. Quá trình thực hiện việc đo đạc có làm
rơi cái nắp của máy đo. Ông P cũng cùng ông V, ông N đến nhà ông Đức D để
tờ khai về đất đai. Ông D ủy quyền cho T vợ ông D, ông Q ủy quyền cho mẹ
là bà Y đại diện ký giấy tờ chuyển nhượng 10,1ha đất rừng từ giấy chứng nhận đứng
tên hộ ông Đức D qua cho K ông N. Nội dung, ông P trình bày, ông N
K không xác nhận, cho rằng ông P trình bày không căn cứ. Do đó, đại diện
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thu thập
thêm tài liệu, chứng cứ liên quan để làm rõ nội dung ông Ngô Văn P trình bày.
Trong thời gian tạm ngừng, nguyên đơn Trương Thị Bảo K cung cấp tài
liệu, chứng cứ trong đó có Giấy ủy quyền ngày 09/4/2016 của ông Lê Đức D cho vợ
Huỳnh Thị T, ông Đoàn Ngọc Q ủy quyền cho mẹ Thị Y thay mặt
các văn bản để chuyển nhượng 10,1ha đất rừng từ hộ ông Đức D đại diện cho
ông N K. Tòa án đã xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Khu vực
6 (Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cũ). Ông Nguyễn Quốc V hiện
Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Khu vực x, đồng thời là người
7
trực tiếp thực hiện việc đo đạc thực hiện các thủ tục về việc chuyển nhượng
10,1ha đất rừng từ nhóm hộ ông Đức D qua cho ông N, bà K, thể hiện: Ông P là
người liên hệ VPĐKĐĐ huyện Đ cũ (trực tiếp là ông Nguyễn Quốc V) trao đổi, nhờ
thực hiện thủ tục đo đạc đối với diện tích 10,1ha đất rừng từ hộ ông D qua cho ông
N bà K. Sau khi thống nhất, ông P mới dẫn ông N và bà K đến gặp ông V mang theo
bìa đỏ để thực hiện việc đo đạc. Quá trình thực hiện việc đo đạc ông P cùng ông V
ông N thực hiện rớt nắp của máy đo nên quay lại tìm. Ông P dẫn ông V
và ông N đến nhà ông Lê Đức D để ký tờ khai về đất đai. Quá tnh thực hiện thủ tục
cấp Giấy CNQSDĐ rừng đứng tên từ hộ ông Lê Đức D qua cho ông N, bà K có ông
P tham gia. Ông P và ông N đều nói để cấn nợ từ ông T số tiền 800.000.000 đồng.
Căn cứ nội dung trình bày của ông Ngô Văn P, tài liệu, chứng cứ các bên
cung cấp trong hồ vụ án xác minh của Tòa án, sở xác định trình bày
của ông Ngô Văn P là căn cứ. Ông P đã tham gia thực hiện thủ tục chuyển
nhượng quyền sử dụng 10,1ha đất rừng qua tên ông N, K để cấn trừ số tiền
800.000.000 đồng như Giấy cam kết xóa nợ điều kiện K viết ngày 30/9/2015.
Do đó, kháng cáo của ông Ngô Văn P là có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX chấp nhận
kháng cáo của bị đơn Ngô Văn P. Sửa Bản án thẩm, không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của Trương Thị Bảo K về việc buộc ông Ngô Văn P nghĩa vụ trả
cho bà Trương Thị Bảo K số tiền 800.000.000 đồng vkhoản nợ gốc ông Ngô n
P viết giấy mượn ngày 11/4/2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng.
[1.1] Về thời hạn, nội dung kháng cáo của đương sự: Bị đơn ông Ngô Văn P
có đơn kháng cáo vào ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với một phần Bản án dân sự sơ
thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đ,
tỉnh Quảng Nam (cũ) đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm. Vthời hạn và nội dung
kháng cáo của bị đơn ông Ngô Văn P đảm bảo theo quy định tại các Điều 271, 272,
273, 276 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được thụ lý, giải quyết theo trình tphúc thẩm.
[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm: ông Nguyễn Thành T, bà Nguyễn Thị Kim
ông Đức D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Quá trình
giải quyết vụ án đã có văn bản trình bày và xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại
khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên
tòa xét xử vắng mặt đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Ngô Văn P:
[2.1] Quá trình giải quyết ván, nguyên đơn bà Trương Thị Bảo K bị đơn
ông Ngô Văn P xác nhận, ông P có viết Giấy mượn tiền ghi ngày 11/4/2015 thể hiện
ông P mượn của bà K stiền 800.000.000 đồng. Về nguồn gốc số tiền nợ do
ông P cùng ông Nguyễn Thành T và vợ chồng ông Văn N, Trương Thị Bảo K
hợp tác làm ăn dẫn đến khoản nợ. Thời điểm viết giấy nợ 11/4/2015 (23/02/2015
Âm lịch) hẹn đến 30/4/2015 Âm lịch (02 tháng 07 ngày) sẽ thanh toán đủ số tiền
8
ncho K. Tuy nhiên, hết thời hạn cam kết trả nợ vào ngày 30/4/2015 Âm lịch
đến khi khởi kiện tháng 12/2023, hơn 08 năm không tài liệu, chứng cứ nào cơ
sở xác định bà K yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết tại Giấy
mượn tiền ghi ngày 11/4/2015.
[2.2] Ông Ngô Văn P xác định khoản nợ 800.000.000 đồng ông viết Giấy
mượn tiền ngày 11/4/2015 đã được ông P trả xong thông qua việc thỏa thuận cấn trừ
diện tích 10,1ha đất rừng do nhóm hộ ông Đức D đứng tên trong giấy chứng
nhận, diện tích đất rừng này đã được ông Nguyễn Thành T mua lại vào năm 2010.
Sau khi ông N, K được đứng tên trên diện tích 10,1ha đất rừng thì ông P hết n
K ông T cũng hết nợ ông P. Trương Thị Bảo K xác nhận ngày 30/9/2015
viết giấy xóa nợ điều kiện cho ông Ngô Văn P: khi ông P làm thủ tục chuyển
nhượng bìa đỏ QSD đất rừng 10ha sang tên ông N thì đồng ý xóa nợ 800.000.000
đồng cho ông P. Sau khi viết giấy a nợ điều kiện cho ông P trên, vợ chồng
K, ông N đã được ông T chuyển nhượng diện tích 10,1ha đất rừng (do ông Đức
D đại diện đứng tên), đến ngày 04/8/2016 v chng K, ông N đã được cp li s mi
đối vi 10,1ha đất rừng nêu trên. Tuy nhiên, K cũng như ông N cho rằng diện tích
đất rừng này ông T chuyển nhượng lại cho vchồng K, ông N để cấn trừ khoản
nợ 800.000.000 đồng H vợ ông Tr đã viết Giấy nợ tiền K vào ngày
03/8/2015, không liên quan đến khoản nợ 800.000.000 đồng ông P viết Giấy mượn
tiền ngày 11/4/2015, cũng không liên quan đến vic chuyển nhượng bìa đỏ quyn s
dụng đất rng 10ha sang tên ông N như giấy xóa nợ có điều kiện cho ông P bà K
đã viết cho ông P vào ngày 30/9/2015. T năm 2014 đến nay ông P không
chuyển nhượng diện tích đất rng nào cho v chng bà K.
[2.3] Xét, nội dung do bà Trương Thị Bảo K cam kết tại văn bản xóa n
điều kiện ngày 30/9/2015: khi ông P làm thủ tục chuyển nhượng bìa đỏ QSD đất
rừng 10ha sang tên ông N thì đồng ý xóa nợ 800.000.000 đồng cho ông P. Như vậy,
tại giấy cam kết này, bà K chỉ xác định khi ông P làm thủ tục chuyển nhượng bìa đỏ
QSD đất rừng 10ha sang tên ông N thì đồng ý xóa nợ 800.000.000 đồng cho ông P
không xác định chuyển nhượng bìa đỏ QSD đất rừng 10ha đứng tên ông P qua
cho ông N, cũng không xác định 10ha đứng tên ông T hay đứng tên người nào khác
qua cho ông N. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ngày
12/9/2025, phiên tòa ngày 25/9/2025, K, ông N đều xác định hoàn toàn không
biết ông P có đất rừng hay không. Do đó, việc bà K cho rằng bà viết cam kết xóa nợ
ngày 30/9/2015 cho ông P khi ông P chuyển nhượng đất rừng của ông P cho ông
N thì mới xóa nợ, n việc chuyển nhượng đất rừng từ ông T qua cho vợ chồng
không liên quan đến việc xóa nợ cho ông P không phù hợp với thực tế đã diễn
ra và nội dung tại giấy cam kết xóa nợ bà K đã viết ngày 30/9/2015.
[2.3.1] Ông Đức D xác nhận diện tích đất rừng do ông đại diện đứng tên
trên đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành T từ năm 2010, giấy chứng nhận đã
bàn giao cho ông T, việc ông T chuyển nhượng cho vợ chồng bà K lúc nào, gbao
nhiêu ông D không biết, do đất rừng đã bán cho ông T nên không liên quan. Tại
Biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn Thành T vào ngày 19/3/2025 tại Trại tạm
giam Công an tỉnh Q (cũ) do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành có xác nhận của Giám thị
9
Trại tạm giam, ông T xác nhận: Trước đây ông nợ ông P 300 triệu các khoản
nợ khác cộng dồn khoảng 800 triệu. Anh P lên nói anh P nợ vợ chồng K, N
cũng 800 triệu, anh P nói như vậy nên ông T giao sổ đỏ cho anh P để chuyển
nhượng 10ha rừng trên cho K, ông N. Số tiền 800 triệu ông T không lấy, không
viết giấy tờ, không hợp đồng công chứng. Tại Biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn
Thành T o ngày 30/10/2024 ông T xác nhận: Các bên làm ăn tin tưởng nhau nên
không lập biên bản giấy tờ trừ nợ cho ông P. Tại Biên bản đối chất tại Trại giam
Công an tỉnh Q (cũ) giữa ông Nguyễn Thành T, bà Trương Thị Bảo K, ông Ngô Văn
P do Tòa án cấp thẩm lập ngày 19/3/2025, ông T nhiều lần xác định yêu cầu
Thẩm phán ghi rõ: Ông T nhận tiền của ông P ông N nhiều lần cộng dồn
800 triệu, bà K buộc vợ ông (bà H) viết giấy nợ bà Kh 800 triệu mà ông T đã nhận
của ông P ông N. Ông T đã chuyển 10ha đất rừng cho K để trả số tiền 800
triệu đồng vợ ông đã viết giấy nợ K. Ti Biên bản đối cht này, ông P c
nhn ni dung trình bày ca ông T đúng, K cũng không phản đối ni dung
trình bày này ca ông T. Ti Bn t khai ngày 12/9/2024 Biên bn ghi li khai
ngày 12/9/2024 Nguyn Th Kim H cũng xác nhn, ông Tr chồng làm ăn
vi ông P v chng ông N, K. H không quan hệ, không làm ăn, không
n tiền ba người này. H xác nhn viết giy nhn n vi bà K s tin
800.000.000 đồng viết theo ý kiến ca ông T chng bà. Mi quan h làm ăn, mua
bán đất rng vi ông N, K như thế nào do ông T làm vic, H không biết,
không nhn tin. Như vậy, s xác định s tin 800.000.000 đng bà H viết
Giấy mượn tin bà K vào ngày 03/8/2015 chính là khon tin ông T nhận của ông P
ông N nhiều lần cộng dồn 800 triệu ntrình bày của ông T ti biên bản đối
cht trên, không phi ông P n K 800 triệu đồng H cũng nợ K 800 triu
đồng, hai khon n này là khác nhau như bà K trình bày. Cũng ngày 03/8/2015 bà K
buc bà H viết giy n 800 triệu đồng, thì bà H ông T cũng viết giy xác nhn n
ông P s tiền 600.000.000 đồng. Giy n tin này ông P đang gi bn chính cung
cp có trong h vụ án. Ông P xác nhn khon n này đã được cn tr khi chuyn
nhượng đất rng ca ông T qua cho v chng bà K và ông N. Ông T cũng xác nhn
không còn n tin ông P. Ti Bn t khai ngày 12/9/2024 Biên bn ghi li khai
ngày 12/9/2023, tr li câu hi ca Tòa án v vic gia đình bà H n ông P tin gì
không thì H cho rng n hay không do ông T làm vic trc tiếp vi ông P, theo
chc không còn liên quan hơn 10 năm nay không thấy ông P lên. Vi trình
bày ca các bên như trên, việc ông P xác định s tin K buc H viết giy n
800 triệu đồng cho bà K là s tin ông T nhn ca ông P và ông N chng bà K, cũng
chính là s tin ông P viết giy n bà K 800 triệu đồng vào ngày 11/4/2015 là có căn
c.
[2.3.2] Ngay sau khi Trương Thị Bảo K khởi kiện được Tòa án cấp
thẩm thụ lý, giải quyết ông Ngô Văn P đã trình bày khoản tiền ông viết giấy nợ bà K
vào ngày 11/4/2025 đã được cn tr vào 10,1ha đất rng ca ông T (do h ông
Đức D đại diện đứng tên) chuyển nhượng qua cho K, đồng thi cung cp giy
xóa n điều kin do K đã viết ngày 30/9/2015 đề ngh đưa những người
tên trong giy chng nhận 10,1ha đt rừng do ông Đc D đại din, gm: ông
10
Đoàn Ngọc Q, ông Mai Văn A và ông Huỳnh Văn H vào tham gia t tụng để làm rõ
s tht khách quan ca v án. Quá trình gii quyết v án, ông P cũng trình bày sau
khi K viết giy cam kết xóa n điều kin vào ngày 30/9/2015, ông P đã thc
hin các th tục để chuyển nhượng quyn s dụng 10,1ha đt rng ca ông T (do
ông D đại diện đng tên) qua cho ông N K. Ti phiên tòa phúc thm m ngày
12/9/2025, ông P trình bày chi tiết các th tục cũng như công việc ông đã cùng ông
N, bà K thc hiện để chuyn quyn s dụng 10,1ha đất rng qua cho ông N và bà K,
c th: Sau khi giy cam kết xóa n ca K, ông P đã liên hệ vi ông Nguyn
Quc V, thời điểm năm 2015 là cán b ca Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh Đ
người trc tiếp ph trách việc đo đạc thc hin các th tục để cp giy chng
nhn quyn s dụng đất ti khu vc Đ, huyn Đ (cũ), nơi diện tích đt trng
rng 10,1ha ca ông T đã nhận chuyển nhượng t h ông Đức D đại din, theo
Giy chng nhận QSDĐ s Q 153xxx do UBND huyn Đ cp ngày 10/7/2003. Sau
khi thng nht vi ông V thì ông P dn ông N K mang theo s đỏ (Giy
CNQSDĐ) đến gp ông V để thc hin các th tc chuyển nhượng, trong đó có trc
tiếp cùng ông V ông N thc hin việc đo đạc đi với 10,1ha đất rng trên. Ông P
mô t chi tiết v v trí đất, đường dẫn đến diện tích đất và c quá trình thc hin vic
đo đạc làm rt cái np của máy đo nên mọi người phi quay li tìm. C vic ông
P dn ông V cùng ông N đến nhà ông Đức D để giy t v vic chuyn
nhưng ông D y quyn cho v là Hunh Th T, ông Đoàn Ngc Q y quyn
cho m là Th Y thay mt giy t liên quan vic chuyển nhượng qua tên
ông N K. Quá trình gii quyết v án cũng như ti phiên tòa ngày 12/9/2025,
v chng K, ông N đều khẳng định ni dung ông P trình bày như trên không
căn c, cho rng ông P không tham gia và cũng không quyn tham gia vào
vic thc hin các th tục để chuyển nhượng 10,1ha đất rng qua tên ông N và bà K
như ông P trình bày.
[2.3.3] Theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
tại phiên tòa ngày 12/9/2025, HĐXX đã tạm ngừng phiên tòa để các bên đương sự
cung cấp tài liệu, chứng cứ xác minh làm nội dung ông Ngô Văn P đã trình
bày. Tại Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng tại Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai Khu vực x (Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại
huyện Đ cũ). Ông Nguyễn Quốc V hiện Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai Khu vực x, tại thời điểm m 2015 ông V cán b của Văn phòng
đăng ký đất đai Chi nhánh Đ người trc tiếp ph trách việc đo đạc các th tc
liên quan đến vic chuyển nhượng 10,1ha đất rng t h ông Lê Đức D qua tên ông
N K đã xác nhận: Ông P người liên hệ VPĐKĐĐ huyện Đ (liên lạc trực
tiếp với ông V) trao đổi, nhờ thực hiện thủ tục đo đạc đối với diện tích 10,1ha đất
rừng từ hộ ông D để chuyển nhượng qua cho ông N Kh. Sau khi thống nhất với
ông V, ông P mới dẫn ông N K đến gặp ông V mang theo bìa đỏ để thực hiện
việc đo đạc. Quá trình thực hiện việc đo đạc ông P cùng ông V ông N thực hiện
rớt nắp của máy đo nên quay lại tìm. Ông P dẫn ông V ông N đến nhà
ông Đức D để tờ khai về đất đai. Quá trình thực hiện thủ tục cấp Giấy
11
CNQSDĐ rừng đứng tên từ hộ ông Đức D qua cho ông N, K ông P tham
gia. Ông P ông N đều nói để cấn nợ từ ông T số tiền 800.000.000 đồng. Sau khi
giấy chứng nhận QSDĐ thì K, ông N trực tiếp đến nhận, ông P không
quyền nhận. Sau khi sổ đỏ thì K, ông N làm thủ tục đổi qua sổ hồng. Tài liệu
do K cung cấp sau khi HĐXX ngừng phiên tòa vào ngày 12/9/2025 Giấy y
quyền của ông Đức D cho Huỳnh Thị T vào ngày 09/4/2016 Giấy ủy
quyền của ông Đoàn Ngọc Q cho Thị Y vào ngày 11/4/2016 đđại diện
các văn bản chuyển nhượng đất rừng do hộ ông Đức D đại diện qua cho ông N,
K. Như vậy, nội dung trình bày của ông Ngô Văn P căn cứ, ông P đã thực
hiện đúng nghĩa vụ của mình với cam kết xóa nợ điều kiện K viết cho ông P
ngày 30/9/2015, phù hợp với diễn biến logic của sự việc. Tại phiên tòa hôm nay, sau
khi được công bố nội dung xác nhận của ông V - Phó Giám đốc Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai Khu vực x, bà K cho rằng việc ông P có đi cùng ông N chồng
bà khi thực hiện thủ tục chuyển nhượng 10,1ha đất rừng là do là bạn bè thân thiết và
cùng đi để cho ông N mạnh dạn không phải để cấn trừ nghĩa vụ trả khoản nợ
800.000.000 đồng không phù hợp sự thật khách quan, cũng như cam kết xóa nợ
của K như nêu trên. Do đó, ông P xác định số tiền ông P viết giấy nợ K
800.000.000 đồng vào ngày 11/4/2015 cũng chính là khon tin ông T nhận của ông
P ông N nhiều lần cộng dồn 800 triệu K buộc H viết giấy mượn tiền
ngày 03/8/2015 và đã được cấn trừ vào việc chuyển nhượng 10,1ha đất rừng của ông
T (hộ ông D đứng tên) qua cho vợ chồng bà Kông N là có cơ sở chấp nhận. Diện
tích đất rừng này, ông N K đã được chỉnh biến động đứng tên trong giấy
chứng nhận 10,1ha từ ngày 14/7/2016, sau đó đã thực hiện thủ tục đổi lại sổ hồng và
được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Q (cũ) cấp lại giấy chứng nhận vào ngày
04/8/2016 đã chuyển nhượng cho ông Trần Duy K, sinh năm 1982, trú tại: thôn
P, xã Đ, huyện Đ (cũ), được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ đăng ký
chỉnh lý biến động vào ngày 19/10/2017.
[3] Từ những căn cứ, nhận định trên, xét thấy nội dung kháng cáo của bị đơn
ông Ngô Văn P, trình bày của đại diện theo ủy quyền của ông P tại phiên tòa phúc
thẩm sở chấp nhận. Bản án thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn K buộc ông P nghĩa vụ thanh toán số tiền 800.000.000đ viết giấy
mượn ngày 11/4/2015 không phù hợp với sự thật khách quan, ảnh hưởng đến
quyền, lợi ích hợp pháp của ông P như đã nhận định phân tích trên. Nội dung trình
bày của nguyên đơn bà Trương Thị Bảo K, người đại diện theo ủy quyền của K,
ông Lê Văn N không có căn cứ chấp nhận.
[4] Về ý kiến của đại diện VKSND thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa, đề nghị
chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Ngô Văn P, sửa Bản án thẩm, không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của Trương Thị Bảo K về việc buộc ông Ngô Văn P
nghĩa vụ trả cho K số tiền 800.000.000 đồng về khoản nông P viết giấy mượn
ngày 11/4/2015 phù hợp với phân tích nhận định trên của XX nên sở
12
chấp nhận. Trình bày của nguyên đơn Trương Thị Bảo K, người đại diện của
K tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn Pc,
giữ nguyên Bản án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí:
[5.1] Án phí thẩm: Do sửa Bản án thẩm nên HĐXX tính lại án phí
thẩm theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ
phí Tòa án, bà Trương Thị Bảo K phải chịu án phí sơ thẩm 36.000.000 đồng do
yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp 18.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0016586 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Q (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 - Đà
Nẵng), số tiền án phí sơ thẩm còn lại phải nộp là 18.000.000 đồng.
Ông Ngô Văn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[5.2] Án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số:
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016, ông Ngô Văn P không phải chịu, được
trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của b đơn ông Ngô Văn P.
Sửa Bản án dân sự thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cũ), nay Tòa án nhân dân
Khu vực 11 - thành phố Đà Nẵng.
Căn cứ:
- Các điều 147, 227, 266, 267, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 120, Điều 373, Điều 274, Điều 275 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Bảo K
về việc yêu cầu bị đơn ông Ngô Văn P nghĩa vụ trả cho Trương Thị Bảo K số
tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng) về khoản nợ gốc ông Ngô Văn P viết
giấy mượn ngày 11/4/2015.
2. Đình chỉ yêu cầu tính lãi 10%/năm phát sinh từ ngày 30/4 Âm lịch năm
2015 cho đến khi trả xong khoản nợ gốc 800.000.000 đồng.
3. Về án phí:
3.1. Án phí sơ thẩm:
- Trương Thị Bảo K phải chịu án phí thẩm 36.000.000 đồng do yêu
cầu khởi kiện không được chấp nhận, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
18.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0016586 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi
13
hành án dân sự huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là Phòng Thi hành án dân sự
Khu vực 11 thành phố Đà Nẵng), số tiền án phí thẩm K còn lại phải nộp
18.000.000 đồng.
- Ông Ngô Văn P không phải chịu án phí sơ thẩm.
3.2. Án pphúc thẩm: Ông Ngô Văn P không phải chịu, được trả lại số tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000đ, theo Biên lai thu số 0017071 ngày
16/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cũ),
nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 - thành phố Đà Nẵng).
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hánh
án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Phòng THADS Khu vực 11;
- THADS Tp Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân Khu vực 11 ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Văn Hiếu
Tải về
Bản án số 242/2025/DS Bản án số 242/2025/DS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 242/2025/DS Bản án số 242/2025/DS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất