Bản án số 23/2026/HNGĐ-ST ngày 16/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 23/2026/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 23/2026/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 23/2026/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 23/2026/HNGĐ-ST ngày 16/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 11 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An |
| Số hiệu: | 23/2026/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 16/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Anh Vi Duy Đ và chị Phan Thị C kết hôn với nhau vào năm 2012 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được UBND thị trấn Thạch Giám, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An (nay là xã Tương Dương) cấp giấy chứng nhận kết hôn tại số 014/2012 ngày 09/5/2012. Anh Vi Duy Đ và chị Phan Thị C có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, hai người đã không sống chung với nhau một thời gian dài từ năm 2016 đến nayAnh Vi Duy Đ và chị Phan Thị C có 01 con chung là cháu Vi Thị San C, sinh ngày 07/01/2012, hiện cháu đang sống cùng anh Vi Duy Đ và ông bà nội, anh Đảo có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu chị Phan Thị C cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung vợ chồng không cso, không yêu cầu Tòa án giải quyết. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - NGHỆ AN
Bản án số: 23/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 16/4/2026
V/v tranh chấp hôn nhân và
gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Moong Công Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lô Thanh Tuân
Bà Nguyễn Thị Thu Lê
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân khu
vực 11 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Nghệ An tham gia phiên
toà: Ông Lô Văn Tim - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - tỉnh
Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:
11/2026/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 20/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 03 năm 2026 và Quyết
định hoãn phiên tòa số 20/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2026 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Vi Duy Đ, sinh năm 1987 (Có đơn xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Bản Phòng, xã Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
2. Bị đơn: Chị Phan Thị C. Sinh năm 1985 (Vắng mặt lần thứ hai không
có lý do).
Địa chỉ: Bản Yên Tân xã Yên Hoà, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 09/02/2026 và các lời khai tiếp theo
trong quá trình giải quyết vụ án anh Đảo trình bày:
Tình cảm: Anh Vi Duy Đ và chị Phan Thị C tìm hiểu nhau được một thời
gian thì kết hôn vào năm 2012. Anh Vi Duy Đ và chị Phan Thị C đăng ký kết
hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Thạch Giám, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ
2
An (nay là xã Tương Dương, tỉnh Nghệ An) vào ngày 09/5/2012 trên cơ sở tự
nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn thời gian đầu chung sống rất hạnh
phúc, mâu thuẫn phát sinh từ năm 2016, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do
hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, dẫn đến
tình cảm vợ chồng rạn nứt, kể từ khi mâu thuẫn xảy ra chị Phan Thị C có đi làm
ăn xa, có thông báo cho anh Đảo biết rằng chị Chôm đi làm ở tinh Quảng Ninh,
từ đó cho đến nay chị Chôm không liên lạc với anh Đảo cũng như về nhà thăm
con, vợ chồng sống ly thân nhau từ giữa năm 2016. Nay tình cảm vợ chồng
không còn, anh Đảo có nguyện vọng ly hôn để ổn định cuộc sống và công việc
Con chung: Anh Vi Duy Đ và chị Phan Thị C có 01 con chung tên cháu là
Vi Thị San C, sinh ngày 07/01/2012, hiện nay cháu sống cùng anh Vi Duy Đ và
ông bà nội tại bản Phòng, xã Tương Dương, tỉnh Nghệ An, từ bé đến nay cháu
do anh Vi Duy Đ chăm sóc nuôi dưỡng, còn chị Phan Thị C từ khi vợ chồng
sống ly thân chị Chôm đi làm ăn xa, cũng không chăm sóc cháu được ngày nào
nên nếu vợ chồng ly hôn thì anh Vi Duy Đ có nguyện vọng nuôi con và không
yêu cầu chị Phan Thị C cấp dưỡng tiền nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai
và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập hợp lệ đối
với bị đơn chị Phan Thị C nhưng chị Phan Thị C vẫn vắng mặt không có lý do.
Qua kết quả xác minh tại địa phương, chị Phan Thị C có hộ khẩu thường
trú tại bản Yên Tân, xã Yên Hoà, tỉnh Nghệ An; kết hôn cùng anh Vi Duy Đ,
thường trú tại bản Phòng, xã Tương Dương tỉnh Nghệ An và một con chung là
cháu Vi Thị San C, sinh ngày 07/01/2012. Chị Phan Thị C có đi làm ăn xa, thỉnh
thoảng có trở về địa phương, còn địa chỉ cụ thể thì anh Vi Duy Đ và chính quyền
địa phương không ai biết, do đó toàn bộ văn bản tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho
đến khi đưa vụ án ra xét xử của Tòa án được niêm yết đầy đủ tại địa phương nơi
chị Phan Thị C cư trú. Giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án đã thông báo mở phiên
họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh Vi Duy
Đ có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải. Kết thúc phiên họp Tòa án đã tống
đạt hợp lệ kết quả cho chị Phan Thị C nhưng vẫn không có ý kiến phản hồi từ
chị Phan Thị C nên quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Biên bản lấy lời khai ngày 10/02/2026 cháu Vi Thị San C trình bày: Cháu
Cúc có nguyện vọng ở với anh Vi Duy Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Nghệ An tham gia phiên
toà phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, tống
đạt văn bản, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự và tại phiên tòa hôm nay được khai mạc đúng
3
thời gian, địa điểm, phiên tòa được xét xử trực tiếp bằng lời nói và liên tục; thủ
tục phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Phan Thị C đã thực
hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71,
72 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Phan Thị C mặc dù đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để giải quyết vụ án, do đó
Tòa án tiến hành niêm yết công khai các thủ tục tố tụng tại nơi anh Quang cư trú
là đúng theo quy định của pháp luật để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị đơn.
Quan điểm giải quyết nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn anh Vi Duy Đ
cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân cho anh Vi Duy Đ được ly hôn với chị Phan
Thị C; Con Chung: Giao cháu Vi Thị San C, sinh ngày 07/01/2012 cho anh Vi
Duy Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
chung đối với chị Phan Thị C; tài sản chung, nợ chung: Anh Vi Duy Đ không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Án phí:
Anh Vi Duy Đ chịu Toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng và các lời khai của đương
sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy
định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án. Chị Phan Thị C có hộ khẩu thường trú tại bản Na Bón, xã Yên Na,
huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân
sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn anh Vi Duy Đ và bị
đơn chị Phan Thị C thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Nghệ
An.
Bị đơn được triệu tâp hợp lệ lần thứ hai không vì trường hợp bất khả
kháng, trở ngại khách quan nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Mặt khác trong
giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn mặc dù bị
đơn thỉnh thoảng trở về và liên lạc với gia đình, do đó có căn cứ khẳng định bị
đơn cố tình dấu địa chỉ, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào
Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị
đơn.
[2] Quan hệ hôn nhân: Anh Vi Duy Đ và chị Phan Thị C kết hôn với nhau
vào năm 2012 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được UBND
thị trấn Thạch Giám, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An (nay là xã Tương
4
Dương) cấp giấy chứng nhận kết hôn tại số 014/2012 ngày 09/5/2012 vì vậy đây
là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[3] Nội dung:
[3.1] Tình cảm: Anh Vi Duy Đ và chị Phan Thị C có nhiều mâu thuẫn, bất
đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, hai người đã không sống chung với
nhau một thời gian dài từ năm 2016 đến nay, điều đó phù hợp với lời trình bày
của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của anh Vi Duy Đ
và chị Phan Thị C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của anh Vi Duy Đ là
có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3.2] Con chung: Anh Vi Duy Đ và chị Phan Thị C có 01 con chung là
cháu Vi Thị San C, sinh ngày 07/01/2012, hiện cháu đang sống cùng anh Vi
Duy Đ và ông bà nội, anh Đảo có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi
trưởng thành, không yêu cầu chị Phan Thị C cấp dưỡng nuôi con. Anh Vi Duy Đ
và chị Phan Thị C sống ly thân từ năm 2016, cháu Cúc do anh Đảo nuôi dưỡng
từ khi vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về
mọi mặt của con chung căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình,
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[3.3] Tài sản chung, nợ chung: Anh Vi Duy Đ chưa yêu cầu Tòa án giải
quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.4] Án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, và Điều 58, Điều
81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28,
điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng
dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Vi Duy Đ được ly hôn với chị
Phan Thị C.
2. Con chung: Giao con chung của nguyên đơn và bị đơn là cháu Vi Thị
San C, sinh ngày 07/01/2012 cho anh Vi Duy Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến
khi trưởng thành.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị Phan Thị C;
5
Chị Phan Thị C có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Để
đảm bảo các quyền lợi của con, trường hợp có lý do chính đáng có căn cứ theo
quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Tòa án có thể
quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Tài sản chung, nợ chung: Anh Vi Duy Đ chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí: Buộc anh Vi Duy Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã
nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001000 ngày
09/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
5. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân
sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự
năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án
nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/4/2026.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân
tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết công khai hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Nghệ An;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- VKSND khu vực 11;
- THADS tỉnh Nghệ An;
- Các đương sự;
- UBND xã Tương Dương;
- Lưu Vp;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Moong Công Hải
6
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 4/2026/HNGĐ-PT ngày 09/04/2026 của TAND tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm