Bản án số 20/2026/HNGĐ-ST ngày 23/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 20/2026/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 20/2026/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 20/2026/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 20/2026/HNGĐ-ST ngày 23/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai |
| Số hiệu: | 20/2026/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Mâu thuẩn gia đình/ thiếu trách nhiệm với gia đình |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 – ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 20/2026/HNGĐ-ST
Ngày 23 - 4 -2026
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tấn Lãm
Ông Trương Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thuý Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 13 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai tham gia
phiên toà: Bà Lê Thi Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 –
Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2025/TLST-HNGĐ ngày 10
tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 10/2026/QĐXX-ST ngày 09 tháng 3 năm 2026 và Quyết
định hoãn phiên tòa số: 11/2026/QĐST – DS ngày 25 tháng 3 năm 2026 giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thị M, sinh năm 1990 “Có mặt”.
Nơi thường trú: Ấp B, xã T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Điểu N, sinh năm 1985 “Vắng mặt”
Nơi thường trú: Ấp P, xã H, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn yêu cầu ly hôn ghi ngày 08 tháng 7 năm 2025, bản tự khai
trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Thị M trình
bày:
- Về hôn nhân: Bà Thị M và ông Điểu N tự nguyện chung sống cùng
nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước nay là xã
H, tỉnh Đồng Nai vào ngày 20 tháng 4 năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống
chung tại ấp B, xã H, huyện B (cũ) nay là xã H, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, cuộc
sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẩn, nguyên nhân là do ông Điểu N

2
không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên uống rượu,
bia nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Bà Thị M và ông Điểu N đã
sống ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc
nhau. Nay bà Thị M xác định không còn tình cảm với ông Điểu N. Yêu cầu Tòa
án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai giải quyết cho bà được ly hôn ông Điểu N.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Thị M và ông Điểu N có
ba người con chung tên Điểu H, sinh ngày 02/7/2009, Điểu Thị H1, sinh ngày
30/11/2010 và Thị Kim L, sinh ngày 02/12/2014. Bà Thị M yêu cầu được quyền
trực tiếp nuôi dưỡng các con chung cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi).
Bà Thị M không yêu cầu ông Điểu N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thị M trình bày không có nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn ông Điểu N vắng mặt và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình
đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Mặc dù
đã được Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ và làm thủ tục tống đạt các văn bản tố
tụng.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và việc tuân theo
pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng
theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình
tự thủ tục và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Về các
đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn
chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã
tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn cho bà Thị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con do
nguyên đơn bà Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Điểu N theo quy định tại
Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Bị đơn ông Điểu N cư trú tại xã H, tỉnh
Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực
13 – Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Đối với bị đơn ông Điểu N đã được Toà án tống đạt các văn bản tố
tụng theo quy định tại các Điều 177, 179 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhưng
ông Điểu N vẫn vắng mặt lần hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại

3
khách quan. Căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến
hành xét xử vắng mặt đối với ông Điểu N.
[3] Về hôn nhân: Bà Thị M và ông Điểu N tự nguyện đăng ký kết hôn tại
UBND xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước nay là xã H, tỉnh Đồng Nai vào ngày 20
tháng 4 năm 2009. Xét, đây là hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các quy định
của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ theo nội dung đơn khởi kiện
đề ngày 08 tháng 7 năm 2025, lời trình bày của bà Thị M trong quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi kết hôn, cuộc
sống hôn nhân giữa vợ chồng bà Thị M và ông Điểu N không có hạnh phúc và
thường xuyên xảy ra mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Điểu N
không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên uống rượu,
bia dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẩn vợ chồng ngày càng trở
nên trầm trọng, bà Thị M đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, vợ chồng
không còn quan tâm đến nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định
cuộc sống hôn nhân giữa bà Thị M và ông Điểu N đã lâm vào tình trạng trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được
nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thị M, cho bà Thị M được ly hôn
với ông Điểu N.
[4] Về con chung: Trong thời gian chung sống giữa bà Thị M và ông Điểu
N có ba người con chung tên Điểu H, sinh ngày 02/7/2009, Điểu Thị H1, sinh
ngày 30/11/2010 và Thị Kim L, sinh ngày 02/12/2014. Khi ly hôn, bà Thị M yêu
cầu đươc trực tiếp nuôi ba người con chung cho đến khi thành niên. Hội đồng
xét xử xét thấy: Yêu cầu được nuôi con là quyền và nghĩa vụ của bà Thị M và
ông Điểu N được quy định tại Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình, việc nuôi con
và cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ. Hiện nay, các cháu đã trên 7 tuổi
nên Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của các cháu và có nguyện vọng được sống
cùng với bà Thị M. Do đó, cần tôn trọng quyền lựa chọn của các cháu theo quy
định tại khoản 1 Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình; đồng thời, để đảm bảo sự
ổn định về mặt tinh thần cũng như tạo điều kiện phát triển toàn diện về thể chất,
trí tuệ, đạo đức để các cháu trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân
có ích cho xã hội nên giao cháu Phan Thị Kiều M1, sinh ngày 24/6/2012 cho bà
Thị M và giao con chung là Điểu H, sinh ngày 02/7/2009, Điểu Thị H1, sinh
ngày 30/11/2010 và Thị Kim L, sinh ngày 02/12/2014 cho bà Thị M trực tiếp
nuôi dưỡng cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Thời hạn giao con chung kể từ
ngày Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thị M không yêu cầu Toà án giải quyết
nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thị M không có nên Hội đồng xét
xử không xem xét giải quyết.
[7] Các vấn đề khác: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét
giải quyêt.

4
[8] Án phí sơ thẩm: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng
bà Thị M phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc
hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 40, Điều 147,
Điều 177, Điều 179, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 69, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị
M.
1. Về hôn nhân: Bà Thị M được ly hôn ông Điểu N.
2. Về nuôi con: Giao con chung Điểu Huy, sinh ngày 02/7/2009, Điểu Thị
H1, sinh ngày 30/11/2010 và Thị Kim L, sinh ngày 02/12/2014 cho bà Thị M
trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Thời hạn giao con chung kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở
hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm
nom con của người đó.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Bà Thị M tự nguyện chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án
phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) bà Thị
M đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 13- Đồng Nai theo biên lai thu
số 0002506 ngày 08/10/2025.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên
5
án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được
bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- VKSND khu vực 13 – Đồng Nai;
- TAND tỉnh Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 13;
- UBND xã Hưng Phước;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Công
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm