Bản án số 224/2026/DS-PT ngày 20/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 224/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 224/2026/DS-PT ngày 20/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 224/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất; Yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu giữa bà Đ và bà Q
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 224/2026/DS-PT Bản án số 224/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 224/2026/DS-PT Bản án số 224/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 224/2026/DS - PT
Ngày 20 - 8 - 2026
“V/v kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất;
Yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng
quyền sử dụng đất vô hiệu”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và bà Bùi Thị Đoan Trang.
- Thư phiên tòa: Ông Đường Thái Sơn - - Thư Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Ông Phùng Ngọc Tuấn- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ cơ sở
2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 295/2026/TLPT - DS ngày
10 tháng 12 năm 2025 về việc “V/v kiện đòi tài sản quyền sử dụng đất; u
cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”.
Do bản án dân ssơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 201/2026/QĐ-DS ngày 16 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
+ Bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1947, CCCD số: ************.
+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1978, CCCD số: ************
+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980.
Đều trú tại: Tổ D, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nay tổ D,
D, phường V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của Đ, chị H, anh T: Ông Đào Trung K,
sinh năm 1976; CCCD số: ************; Địa chỉ: P, Tòa A, H, phường Y,
thành phố Hà Nội (có mặt).
2
Bị đơn:
+ Bà Nguyễn Thị Q sinh năm 1961, CCCD số ************.
+ chị Nguyễn Thị T1 sinh năm 1984, CCCD số ************.
+ Anh Nguyễn Mạnh H1 sinh năm 1971, CCCD số ************.
+ Ông Nguyễn Văn S sinh năm 1974, CCCD số ************.
+ Ông Nguyễn Văn M sinh năm 1953, CCCD số ************.
+ Bà Đàm Thị N, sinh năm 1970.
Đều trú tại: Thôn H, V, tỉnh Phú Thọ (đều đơn xin xét xử vắng
mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1976; CCCD số
HKTT: Tổ D, phường D (nay là phường V), tỉnh Phú Thọ
Hiện đang trú tại: Thôn N, P nay V, thành phố Nội (vắng
mặt).
+ Phạm Thanh L, sinh năm 1956; Nguyễn Thị H3, sinh năm 1973;
bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1981;
Đều trú tại: Thôn H, V, tỉnh Phú Thọ (đều đơn xin xét xử vắng
mặt)
- Người kháng cáo: Bà Đỗ Thị Đ và chị Nguyễn Thị H - Nguyên đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 4 năm 2021 những lời khai tiếp
theo trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa; đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn ông Đào Trung K trình bày:
Ông Nguyễn Văn L1 với Đỗ Thị Đ kết hôn năm 1974, sinh được 03
người con gồm: (1) Nguyễn Văn H2 sinh năm 1976, (2) Nguyễn Thị H sinh năm
1978 và (3) Nguyễn Văn T sinh năm 1980.
Quá trình chung sống, vợ chồng ông L1, Đ được bmẹ đẻ ông L1 cho
01 thửa đất thổ số 141, tờ bản đồ số 3 diện tích 926 m
2
thôn H, V, tỉnh
Phú Thọ (gọi chung thửa đất 141). Khi cho đất, các cụ không văn bản gì.
Thời điểm trước năm 1980 thì bố ông L1 chết, mẹ ông L1 vẫn sống cùng với gia
đình Đ. Đến năm 1980 mẹ chồng mất, vợ chồng ông L1, Đ phát sinh mâu
thuẫn, ông L1 thường hay uống rượu, đánh đập Đ, vì vậy Đ đã đưa anh T
về quê ngoại tại phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để riêng, sống ly thân
3
nhau từ đó; chỉ còn lại ông L1 cùng hai con Nguyễn Văn H2 Nguyễn Thị
H vẫn tiếp tục sống trên thửa đất này. Ngày 10/10/1993, ông L1 đã được UBND
huyện V nay là UBND huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đã cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất (GCN) đối với thửa đất diện tích 926m
2
mang tên ông Nguyễn
Văn L1.
Năm 1994 ông L1 chết, chỉ chị H nhà còn Đ, anh H2 anh T
không mặt. Sau khi ông L1 chết, đến năm 1996 chị Nguyễn Thị H được
Đàm Đ1 về thành phố V, tỉnh Phú Thọ từ đó cho đến nay. Khoảng năm 1997,
anh H2 về sống cùng bà Đ và các em thì bà Đ và chị H, anh T mới được biết anh
H2 đã chuyển nhượng thửa đất đứng tên ông L1 cho: bà Nguyễn Thị Q, ông
Nguyễn Văn T2 (bố anh Nguyễn Văn S), ông Phùng Văn L2 (bố ông Phùng Văn
B), Nguyễn Thị Đ2 (mẹ của chị T1), ông Đàm Văn T3, ông Nguyễn Văn M
ông Nguyễn Mạnh H1. Sau khi nhận chuyển nhượng đất của anh H1 thì các
ông tên trên mua bán, chuyển nhượng, tặng cho thực tế hiện nay 08
hộ dân đang sử dụng toàn bộ diện tích đất nhận chuyển nhượng của anh H1
các diện tích tăng thêm gồm: ông Nguyễn Văn M 160,4m
2
; ông Nguyễn Văn S
187,2 m
2
; Nguyễn Thị N1 189,3 m
2
; Nguyễn Thị Q 232,8m
2
; chị Nguyễn
Thị T1 98,7m
2
; ông Nguyễn Mạnh H1 242,5 m
2
Tuy nhiên, đối với diện tích đất tăng thêm do mua của Nhà nước, thì các
nguyên đơn không yêu cầu, chỉ yêu cầu đối với diện tích đã mua của anh H1. Cụ
thể là: ông Đàm n T3 46,7m
2
, Đàm Thị N 189,3m
2
; Nguyễn Thị Q
146m
2
, ông Nguyễn Mạnh H1 168m
2
, Nguyễn Thị T1 69m
2
; ông Nguyễn
Văn S 187m
2
và ông Nguyễn Văn M 120m
2
. Lý do là vì bà Q đã chuyển nhượng
một phần diện tích đất cho ông Nguyễn Văn P (em trai Q), ông Phùng Văn B
đã chuyển nhượng thửa đất cho Đàm Thị N, ông Nguyễn Văn T2 đã chết nên
thửa đất của ông T2 mua của anh H1 để lại cho vợ chồng anh Nguyễn Văn S sử
dụng.
Sau khi hỏi con hàng xóm và gặp trực tiếp người đang sử dụng đất thì
gia đình Đ mới được biết các ông này đã được anh H1 (con trai Đ)
chuyển nhượng từng phần của thửa đất cho các hộ dân bằng giấy viết tay, không
được xác nhận của chính quyền địa phương. Đến năm 2015, Đ cùng hai con
chị H anh T nhiều lần yêu cầu chính quyền địa phương xem xét giải quyết
nhưng không kết quả cho đến năm 2020 mẹ con Đ đã nhờ Công ty TNHH
C1 tư vấn và làm đơn khởi kiện đối với các hộ dân nói trên.
Việc tự ý chuyển nhượng đất, tự lập văn bản “bán đất” của anh H1 đối với
4
thửa đất của gia đình sau khi ông L1 chết mà không được sự đồng ý và tham gia
giao dịch chuyển nhượng của bà Đ, chị H anh T là trái với quy định của pháp
luật, đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên còn lại
trong gia đình. Vì vậy bà Đ, chị H anh T đã làm đơn đề nghị giải quyết tranh
chấp đất đai gửi tới UBND V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 19/10/2020,
UBND V đã tổ chức buổi hòa giải tranh chấp đất đai giữa các bên nhưng
không hòa giải thành.
Do vậy Đ, chị H anh T đơn khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét,
giải quyết những yêu cầu sau:
1. Yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập
giữa anh Nguyễn Văn H2 với Đàm ThN, Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn
Mạnh H1, bà Nguyễn Thị T1; ông Nguyễn Văn S (kế thừa của ông Nguyễn Văn
T2) và ông Nguyễn Văn M là vô hiệu (các giao dịch xác lập từ những năm 1994
1996).
2. Yêu cầu các ông bà sau phải trả lại cho các nguyên đơn thửa đất số 141
tờ bản đồ 03 tại thôn H, xã V, tỉnh Phú Thọ. Cụ thể: bà Đàm Thị N 189,3m
2
;
Nguyễn Thị Q 146m
2
, ông Nguyễn Mạnh H1 168m
2
, Nguyễn Thị T1 69m
2
;
ông Nguyễn Văn S 187m
2
và ông Nguyễn Văn M 120m
2
. Tổng số là 879,3m.
Trường hợp không thể trả được bằng đất, yêu cầu các hộ dân thanh toán
bằng tiền theo trị giá đất đã được định giá trong vụ án.
3. Riêng đối với việc mua bán đất giữa anh H1 với ông Đàm Văn T3 diện
tích 46,7m
2
; do xác định việc mua bán là thật, anh H1 đã sử dụng tiền để làm
ma cho ông L1, đúng mục đích; đối với ông Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn B1 thì
hoặc đã chuyển nhượng, không trực tiếp mua của anh H1. Nên các nguyên đơn
đã rút yêu cầu khởi kiện, không đề nghị giải quyết trong vụ án.
4. Đối với những hộ gia đình đã được cấp GCN thì đề nghị Tòa án kiến
nghị quan Nhà nước thẩm quyền, thu hồi, hủy GCN với do các giao
dịch này trái pháp luật. Đối với hậu quả của việc giao dịch chuyển nhượng trái
pháp luật: Do anh H1 là người nhận tiền, nên các bị đơn quyền khởi kiện đối
với anh H1; các nguyên đơn không yêu cầu giải quyết trong vụ án.
5. Diện tích đất 879,3m
2
kiện đòi nêu trên 50% của Đ; 50% còn
lại của ông L1 là di sản thừa kế chưa chia. Tuy nhiên, hiện chỉ còn 04 người
thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông L1 Đ, anh T, chị H, anh H1. Các
đương sự chỉ kiện đòi đối với tổng diện tích đất, không yêu cầu giải quyết nội
dung chia tài sản chung, chia thừa kế. Các nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện
5
chia thừa kế.
6. Về án phí: Bà Đàm xin được miễn án phí sơ thẩm; anh T, chị H đề nghị
giải quyết theo quy định.
7. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bà Đ đã nộp tổng số tiền
là 11.600.000 đồng. Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Các bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ vào biên bản lấy lời khai,
hòa giải trong quá trình giải quyết tại Tòa án thể hiện các bị đơn trình bày:
1. Đối với bà Nguyễn Thị Q trình bày: Khoảng tháng 3/1995 mua
của UBND V 16 m
2
đất mặt đường Q, đến tháng 10/1995 mua của anh
Nguyễn Văn H2 (con trai ông L1) diện tích 73,92 m
2
đất với g 7.000.000
đồng, đến năm 1997 vợ chồng lại tiếp tục mua thêm một phần diện tích đất
của anh Nguyễn Văn H2 để làm lối cổng đi 50 m
2
, khoảng năm 2002 mua
của ông Phùng Văn L2 khoảng 20 m
2
đất mặt đường quốc lộ 2C, Sau khi mua
xong các diện tích đất này gia đình làm quán bán hàng, năm 2003 làm thủ
tục cấp GCN đã tách thành hai thửa đất. Gồm: GCN đứng tên Nguyễn
Thị Q diện tích 100,5 m
2
thửa số 537, tờ bản đồ số 10 01 GCN đứng tên
Nguyễn Văn P (em trai bà) diện tích 100 m
2
. Nguồn gốc hai thửa đất trên do
bà mua của UBND xã V, mua của ông L2 một phần mua của gia đình ông L1
(do anh H2 con trai ông L1 đứng ra chuyển nhượng). Cụ thể theo hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 28/12/2004 giữa bà với anh Nguyễn
Văn H2, tổng diện tích đất chuyển nhượng 146m
2
(bao gồm toàn bộ diện tích
đất đã mua làm nhiều lần). Toàn bộ giấy tờ mua đất bà đã nộp cho UBND xã
V đlàm thủ tục xin cấp GCN. Về quá trình mua đất cũng như làm hcấp
GCN đã làm đúng theo quy định pháp luật, đến năm 2008 làm nhà 3
tầng từ đó cho đến nay. Việc bà mua đất do anh H2 chuyển nhượng thì bà Đ, chị
H và anh T đã biết việc mua đất làm nhà từ năm 1997 đến nay nhưng
không có ý kiến phản hồi gì, đến năm 2020 bà mới nhận được thông báo về việc
mẹ con bà Đ có đơn khởi kiện yêu cầu trả lại đất. Nay quan điểm bà không đồng
ý với yêu cầu của Đ, chị H, anh T với do đất đã nhận chuyển nhượng
hợp pháp, sử dụng ổn định lâu dài, Nhà nước đã cấp quyền sử dụng đất cho gia
đình bà nên không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của mẹ con Đ. đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
2. Ông Nguyễn Mạnh H1 trình bày: Gia đình ông thửa đất thổ diện
tích 190,5 m
2
tại thửa số 554, tờ bản đồ số 10 thôn H, V, huyện V, tỉnh
Vĩnh Phúc. Nguồn gốc đất do ông mua của anh Nguyễn Văn H2 (con trai ông
6
L1) 1 phần diện tích đất của Nguyễn Thị Q khoảng 20m
2
lối cổng đi,
ngoài ra ông sử dụng khoảng 25m
2
hành lang giao thông do UBND cắm cho
gia đình ông 25m
2
ông nhận chuyển nhượng của Nguyễn Thị P1 (tổng
50m
2
đất này chưa được cấp GCN). Việc gia đình ông nhận chuyển nhượng
quyền sdụng đất của anh H2 tkhoảng năm 1995, ông mua thành nhiều lần,
đến ngày 28/12/2004 giữa ông với anh Nguyễn Văn H2 lập hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với tổng diện tích là 168m
2
với giá 10.655.000 đồng;
toàn bộ giấy tờ mua bán ông đã nộp cho UBND V để làm thủ tục cấp GCN.
Việc mua bán chuyển nhượng cũng như quá trình làm thtục cấp GCN ông đã
m đúng theo quy định pháp luật. Nay Đ, chị H, anh T đơn yêu cầu kiện
đòi tài sản, chia thừa kế quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy GCN đứng tên vợ
chồng ông trong đó phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông thì quan
điểm ông không đồng ý. do diện tích đất vợ chồng ông đã nhận chuyển
nhượng của anh H2 là hợp pháp, sử dụng ổn định lâu dài, Nhà nước đã cấp GCN
cho gia đình ông nên ông không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của mẹ con
Đ.
3. Chị Nguyễn Thị T1 trình bày: Hiện nay chị đang sử dụng thửa đất thổ
s555, tbản đồ số 10, diện tích 76,6 m
2
. Nguồn gốc thửa đất này do chị
nhận thừa kế của mẹ chị Nguyễn Thị Đ2 từ năm 2014 đã được Nhà
nước cấp GCN đứng tên Nguyễn Thị T1. Việc mua bán chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa mẹ chị với anh Nguyễn Văn H2 (con trai ông L1) như thế nào
chị không biết lúc đó chị còn nhỏ, chị được nghe mnói lại mua đất từ
khoảng năm 1995, mẹ chị phải vay mượn nhiều người mới đủ tiền trả tiền
mua đất cho anh Nguyễn Văn H2; Mặc nhận chuyển nhượng, trả tiền từ năm
1995 nhưng đến ngày 28/12/2004 mẹ chị mới hợp đồng chuyển nhượng
quyền sdụng đất với anh Nguyễn Văn H2 diện tích 69m
2
với giá 4.388.000
đồng, toàn bộ giấy tmua bán chị cũng đã nộp cho UBND V đlàm thủ tục
cấp GCN. Nay Đ và các con khởi kiện đòi tài sản chia thừa kế quyền s
dụng đất hủy GCN đứng tên chị trong đó phần diện tích đất đã chuyển
nhượng cho mẹ chị thì quan điểm chkhông đồng ý do đất mẹ chị đã nhận
chuyển nhượng hợp pháp, sử dụng ổn định lâu dài, Nhà nước đã cấp GCN cho
gia đình chị nên chị không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của mẹ con Đ. Chị
đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
4. Ông Nguyễn Văn M trình bày: Khoảng tháng 5/1998 ông mua của anh
Nguyễn Văn H2 (con trai ông L1) diện tích khoảng 05 thước đất thổ (diện
7
tích cụ thể bao nhiêu ông không nhớ) phần diện tích đất đó sát cạnh đất nhà
ông nên ông mua rồi nhập vào đất thổ của gia đình. Khi mua đất hai bên
viết giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giấy viết do anh H2 tự tay viết, g
chuyển nhượng 1.800.000 đồng, ông đã trả đủ tiền cho anh H2, sau khi bán
đất xong thì anh H2 đi đâu làm ông không biết. Sau khi mua đất cho đến nay
gia đình ông chưa làm xong thủ tục sang tên quyền sử dụng đất, ông đến hỏi
UBND V nhiều lần để làm thủ tục xin cấp GCN nhưng cho đến nay ông vẫn
chưa làm được. Do vậy hiện nay phần diện tích đất mua của anh H2 (con trai
ông L1) chưa được cấp GCN. Khi mua đất chỉ ông anh H2 thỏa thuận với
nhau, ông đưa tiền anh H2 người nhận tiền. Nay Đ các con đơn kiện
đòi tài sản, chia thừa kế quyền sử dụng đất trong đó diện tích đất đã chuyển
nhượng cho ông thì quan điểm ông không đồng ý vì do đất ông đã nhận
chuyển nhượng hợp pháp, sử dụng ổn định lâu dài.
5. Anh Nguyễn Văn S trình bày: Gia đình anh có thửa đất thổ cư diện tích
187m
2
, nguồn gốc đất do bố anh ông Nguyễn Văn T2 nhận chuyển nhượng
của anh Nguyễn Văn H2 (con trai ông L1), khi chuyển nhượng giấy viết tay
do anh H2 viết. Hiện nay bố anh đã chết nên phần diện tích đất đó bố anh đã cho
anh sử dụng. Đến năm 2013, anh xây nhà 3 tầng sdụng ổn định từ đó cho
đến nay, anh vẫn chưa được Nhà nước cấp GCN đối với phần diện tích đất anh
H2 đã chuyển nhượng cho bố anh. Về quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa bố anh với anh H2 như thế nào thì anh không biết anh chỉ là người
được bố cho đất. Khoảng tháng 6 năm 2022 do quán bán hàng trước cửa gia
đình anh bị hỏng nên anh đã dỡ ra làm lại xây thành quán bán hàng đến
nay đã hoàn thiện. Nay bà Đ các con đơn yêu cầu kiện đòi tài sản, chia
thừa kế quyền sử dụng đất trong đó có phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho
bố anh thì quan điểm anh không đồng ý do đất bố anh đã nhận chuyển
nhượng hợp pháp, sử dụng ổn định lâu dài. Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo
quy định của pháp luật.
6. Đàm Thị N trình bày: Gia đình thửa đất thổ số 536, tờ bản
đồ số 10 diện tích 189,3 m
2
đã được cấp GCN đứng tên Đàm Thị N. Nguồn gốc
đất do nhận chuyển nhượng lại của ông Phùng Văn B, trên đất đã xây
cấp 4 từ năm 2013. được biết nguồn gốc thửa đất bà đang do anh H2 (con
trai ông L1) chuyển nhượng cho ông Phùng Văn L2, sau đó ông L2 cho con trai
Phùng Văn B, anh B không nhu cầu sử dụng nên đã chuyển nhượng lại
cho bà. Nay quan điểm bà không có liên quan đến mẹ con Đ nên bà không
8
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của mẹ con Đ.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng tại biên bản
lấy lời khai của Tòa án những người có quyền lợi, nghĩa vụ trình bày như sau:
1. Anh Nguyễn Văn H2 trình bày: Anh con trai của ông Nguyễn Văn
L1 và bà Đỗ Thị Đ, bố mẹ anh sinh được 5 anh em trong đó có 02 người đã chết
không vợ (chồng) con gì, hiện nay ch còn ba anh em anh, em gái
Nguyễn Thị H em trai Nguyễn Văn T. Bố mẹ anh sống ly thân từ khoảng
năm 1980, sau khi sống ly thân bà Đ (mẹ anh) đưa em trai Nguyễn Văn T lên
thành phố V sinh sống, chỉ còn anh và em gái là Nguyễn Thị H ở với bố tại thôn
H, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cho đến năm 1995 bố anh chết, anh không
nhà. Sau khi ông L1 chết thì chị Nguyễn Thị H lên với mẹ tại thành phố V,
còn anh thường đi làm ăn xa nhà ít khi về, mỗi khi về nhà anh vtại thôn H,
xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Bản thân anh khi sống với ông Nguyễn Văn L1,
do hai bố con không hợp nhau nên thường xảy ra mâu thuẫn, banh hay đánh
anh nên anh đã bỏ đi làm ăn biệt xứ từ năm 1989 cho đến khi bố chết được 49
ngày thì anh mới về nhà. Khi ông L1 chết không để lại di chúc gì. Lúc ông L1
còn sống thì gia đình anh thửa đất thổ diện tích khoảng gần 1000 m
2
đất
(diện tích cụ thể bao nhiêu anh không biết), về nguồn gốc đất do đâu thì
anh cũng không biết, sau khi bố chết thì gia đình anh có nợ tiền làm nhà (bố anh
vay tiền ngân hàng để sửa nhà từ khi còn sống) nên anh chuyển nhượng một
phần diện tích đất cho ông T3 để lấy tiền trả nợ ngân hàng; sau đó anh bán
thửa đất của bố mẹ anh để lại cho nhiều người xung quanh, cụ thể bán đất cho
những ai anh không nhớ cụ thể vì thời gian đã lâu nên anh không nhớ chính xác,
khi anh bán đất giấy viết tay cho các hộ gia đình, số tiền bán đất cụ thể bao
nhiêu anh không nhớ anh nhận tiền thành nhiều lần khác nhau nên anh không
nhớ cụ thể. Anh thừa nhận là có bán đất cho các hộ gia đình ở thôn H, xã V, sau
khi bán đất xong thì các hộ gia đình mua đất tự đi làm bìa đỏ đất.
Nay Đ, chị H, anh T khởi kiện đòi tài sản, chia thừa kế quyền sử dụng
đất đối với các hộ gia đình thôn H, V. Quan điểm của anh đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định pháp luật, anh chỉ đề nghị Tòa án giải quyết bảo đảm
quyền lợi cho mẹ các em của anh; còn phần thừa kế anh được hưởng anh
không nhận lý do anh đã bán cho hộ gia đình diện tích đất, các hộ gia đình đã
làm sang tên a đỏ, anh không thắc mắc gì, giữa anh các hộ gia đình đó
không có liên quan gì đến nhau nữa.
2. Phạm Thanh L trình bày: vợ của ông Nguyễn Văn M, năm
9
1998 vợ chồng bà có mua của anh Nguyễn Văn H2 (con trai ông L1) khoảng 05
thước đất thổ cư, sau khi mua đất vợ chồng bà đã làm quán bán hàng nhập
với đất thổ của gia đình nhưng cho đến nay vẫn chưa làm thủ tục cấp GCN
đối với diện tích đất đã mua của anh H2. Nay quan điểm của bà cũng như chồng
ông Nguyễn Văn M đã trình bày với Tòa án, không đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của mẹ con bà Đ.
3. Nguyễn Thị H3 (vợ ông Nguyễn Mạnh H1) trình bày: Vợ chồng
thửa đất thổ diện ch 190,5m
2
đã được cấp GCN đứng tên vợ chồng
Nguyễn Thị H3 Nguyễn Mạnh H1. Nguồn gốc đất do một phần nhận
chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Q, một phần nhận chuyển nhượng của anh
Nguyễn Văn H2 (con trai ông L1) một phần mua của UBND V. Sau khi
mua đất đến năm 1997 vợ chồng bà đã làm nhà cấp bốn để ở, sau đó đã sửa sang
lại nhiều lần, khi mua đất mẹ con Đ đều biết và không ai ý kiến gì. Nay
quan điểm của cũng như chồng ông Nguyễn Mạnh H1 đã trình bày với
Tòa án, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của mẹ con bà Đ.
4. Nguyễn Thị H3 (vợ ông Nguyễn Văn S) trình bày: Gia đình
thửa đất thổ diện tích khoảng 187 m
2
chưa được cấp GCN, nguồn gốc đất
do bố ông S mua của anh Nguyễn Văn H2 (con trai Đ) cho vchồng ở;
còn cụ thể việc mua bán như thế nào thì bà không biết lúc đó chưa kết hôn
cùng ông S, đến năm 1999 kết hôn với ông S được gia đình nói lại mua
của anh H2 từ năm 1997. Đến năm 2013 vợ chồng bà đã xây nhà 3 tầng trên
đất, tháng 6/2022 vợ chồng sửa lại quán bán hàng trước cửa nhà, các công
trình trên đất của vợ chồng không liên quan đến ai khác. Nay quan điểm
của cũng như chồng bà ông Nguyễn Văn S đã trình bày với Tòa án, bà
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của mẹ con bà Đ.
Kết quả xác minh tại UBND V nay V vào ngày 31/5/2022 thể
hiện: Ông Nguyễn Văn L1 bà Đỗ Thị Đàm S1 được 03 con: Anh Nguyễn
Văn H2; chị Nguyễn Thị H anh Nguyễn Văn T. Ngoài ra, ông L1 không
con nuôi, con riêng nào khác. Về tài sản là 01 thửa đất thổ cư diện tích là 926 m
2
tại thôn H, xã V nay V đã được cấp GCN đứng tên ông Nguyễn Văn L1 ngày
10/10/1993. Nguồn gốc đất do bố mđẻ của ông L1 đlại. Năm 1980, do
cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn nên Đ ông L1 đã sống ly thân nhau,
năm 1994 ông L1 chết không đlại di chúc gì. Khi ông L1 chết, chị H nhà
còn bà Đ, anh H2, anh T không có mặt.
Căn cứ vào bản đcấp GCN năm 1992 thể hiện tại thửa số 141 diện tích
10
1044m
2
đứng tên ông Nguyễn Văn L1. Tiếp giáp với thửa đất số 142 diện tích
213 m
2
của UBND quản lý; Căn cứ vào bản đồ 299 thể hiện thửa đất số 141
diện tích 1.044m
2
đứng tên ông Nguyễn Văn L1.
Sau khi ông L1 chết, năm 1995 anh Nguyễn Văn H2 (con trai ông L1) đã
chuyển nhượng toàn bộ thửa đất của ông L1 cho các hộ dân xung quanh. Cụ thể
đó là: hộ ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn T2 (bố đcủa anh Nguyễn Văn
S), anh Nguyễn Mạnh H1, Nguyễn Thị Đ2 (mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị T1),
Nguyễn Thị Q (bà Q đã chuyển nhượng 1 phần diện tích cho anh Nguyễn
Văn P em trai Q), ông Phùng Văn L2 (bố đẻ anh Phùng Văn B, sau này
anh B đã chuyển nhượng thửa đất cho bà Đàm Thị N) và ông Đàm Văn T3. Diện
tích cụ thể của từng hộ gia đình địa phương không nắm được, các hộ gia đình
nói trên sdụng đất hai phần diện tích thuộc 2 thửa khác nhau (thửa số 141
đứng tên ông L1 thửa số 142 của UBND V quản lý). Hiện nay các hộ gia
đình đã sdụng ổn định, xây nhà các công trình kiên cố trên đất trên đất. Hiện
trạng thửa đất của gia đình ông L1 không còn giữ nguyên hiện trạng.
Trong số các hộ dân nhận chuyển nhượng quyền s dụng đất của anh
Nguyễn Văn H2 chỉ có thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn M và anh Nguyễn
Văn S (do ông Nguyễn Văn T2 bố anh S đã chết nên phần diện tích đất chuyển
nhượng đó vợ chồng anh S đang sử dụng) là chưa được cấp GCN, các hộ còn lại
đều đã được cấp GCN.
Thực tế anh Nguyễn Văn P (em trai Q) nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất tQ nên không liên quan đến việc nhận chuyển nhượng giữa
Q với anh H2; hộ Đàm Thị N nhận chuyển nhượng của ông Phùng Văn B
(ông Phùng Văn L2 đã cho con trai là Phùng Văn B sử dụng đất sau đó ông B đã
chuyển nhượng lại cho bà N).
Tại thời điểm cấp GCN cho các hộ gia đình nói trên thì UBND xã đã thực
hiện đúng thủ tục trình lên UBND huyện cấp GCN theo thẩm quyền. Qua kiểm
tra hồ lưu trữ của UBND xã không còn lưu hồ cấp GCN cho các hộ gia
đình tên trên nên địa phương không nắm bao gồm những tài liệu trong
hồ chuyển nhượng. Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh H2
với các hộ dân như thế nào thì địa phương cũng không rõ không hồ lưu
trữ.
Với nội dung trên, tại bản án dân sự thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 22
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10- Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 705, Điều 706, Điều 707, Điều 711, Điều 712 Bộ luật
11
Dân sự năm 1995; Điều 2 Luật Đất đai năm 1993. Điều 202 của Luật Đất đai
năm 2013. Điều 166, Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điều 156, Điều 157, Điều 164, Điều 165, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Án
lệ số 16/2017/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết
số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường vụ
Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đỗ Thị Đ, chị Nguyễn Thị
H anh Nguyễn Văn T về việc buộc Đàm Thị N trả lại 189,3m
2
đất;
Nguyễn Thị Q trả lại 146m
2
đất; ông Nguyễn Mạnh H1 trả lại 168m
2
đất;
Nguyễn Thị T1 trả lại 69m
2
đất; ông Nguyễn Văn S trả lại 187m
2
đất ông
Nguyễn Văn M 120m
2
đất. Tổng số 879,3m
2
đất diện tích nằm trong thửa đất
số 141 tờ bản đồ 3 thuộc thôn H, xã V, tỉnh Phú Thọ - Bản đồ 299.
2. Không chấp yêu cầu khởi kiện của Đỗ Thị Đ, chị Nguyễn Thị H
anh Nguyễn Văn T về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa anh Nguyễn Văn H2 với các hdân bao gồm: Đàm Thị N,
Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn Mạnh H1, Nguyễn Thị T1; ông Nguyễn Văn S
(kế thừa của ông Nguyễn Văn T2) và ông Nguyễn Văn M hiệu (các giao
dịch xác lập từ những năm 1994 – 1996).
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đỗ Thị Đ, chị Nguyễn Thị
H anh Nguyễn Văn T về việc kiến nghị, yêu cầu hủy GCN đã cấp cho
Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn P, ông Nguyễn Mạnh H1,
bà Đàm Thị N.
4. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Đ, chị Nguyễn
Thị H và anh Nguyễn Văn T về việc chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn L1
thửa đất số 141 diện tích 926m
2
nêu trên.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và
tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 03/10/2026 bà Đỗ Thị Đ và chị Nguyễn Thị
H kháng cáo không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp thẩm đnghị Tòa
án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 10
Phú Thọ theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Tại phiên tòa phúc thẩm phía
nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nội dung kháng cáo đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội
đồng xét xáp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ
12
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của Đỗ Thị Đ chị Nguyễn Thị H
trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xphúc thẩm xem xét, giải
quyết.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các nguyên đơn Đỗ Thị Đ, Nguyễn Thị H Nguyễn Văn T đơn khởi
kiện yêu cầu tuyên bố Giao dịch chuyển nhượng quyền sdụng đất hiệu;
kiện đòi tài sản quyền sử dụng đất. Hiện nay diện tích đất đang tranh chấp
các bị đơn đều địa chỉ tại thôn H, V, tỉnh Phú Thọ. vậy, quan hệ pháp
luật phải giải quyết “Kiện đòi tài sản quyền sử dụng đất yêu cầu tuyên
bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu”. Căn cứ quy định tại
khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 39
Bộ luật Tố tụng Dân svụ án thuộc thẩm quyền giải quyết thẩm của Tòa án
nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ. Sau khi xét xử thẩm, Đỗ Thị Đ chị
Nguyễn Thị H kháng cáo. Vụ án được Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết
theo thủ tục phúc thẩm là đúng về thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
[3]. Về xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án.
Đỗ Thị Đ, anh Nguyễn Thị H và chị Nguyễn Văn T đơn khởi kiện
yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu; kiện
đòi tài sản quyền sử dụng đất đối với người nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thông qua Hợp đồng chuyển nhượng đang bị đề nghị tuyên bố vô hiệu.
Quá trình giải quyết vụ án đủ sở xác định bà Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn
Thị T1, anh Nguyễn Mạnh H1, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn M,
Đàm Thị N người đang trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất nguyên đơn
yêu cầu trả lại căn cứ để họ quản lý, sử dụng diện tích đất này thông qua
Hợp đồng chuyển nhượng với anh Nguyễn Văn H2. Do anh Nguyễn Văn H2
người tham gia ký kết Hợp đồng hiện đang bị phía nguyên đơn yêu cầu tuyên bố
hiệu nên cần xác định anh Nguyễn Văn H2 những người đang trực tiếp
13
quản lý, sử dụng đất đang tranh chấp bị đơn trong vụ án. Tuy nhiên, Tòa án
cấp thẩm chỉ xác định những người đang trực tiếp, quản sdụng diện tích
đất tranh chấp bị đơn, còn anh Nguyễn Văn H2 người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là chưa phù hợp. Tuy nhiên, việc xác định cách tham gia tố tụng
này của Tòa án cấp thẩm không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các
đương sự nên Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại cách tham gia tố tụng cho
phù hợp quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vắng mặt đã lời khai trong hồ
vụ án. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt đã đơn
đề nghị xét xử vắng mặt hoặc ủy quyền tham gia tố tụng nên căn cứ vào khoản 2
Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với
các đương sự theo thủ tục chung.
[4]. Xét về yêu cầu khởi kiện nội dung kháng cáo của Đỗ Thị Đ
chị Nguyễn Thị H; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[4.1]. Về nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng diện tích đất tranh
chấp: Căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án được các đương sự thừa nhận
đủ cơ sở xác định thửa đất đang tranh chấp là thửa đất số 141 tờ bản đồ số 3 diện
tích 926m
2
thôn H, xã V, tỉnh Phú Thọ có nguồn gốc do bố mẹ đẻ ông Nguyễn
Văn L1 để lại; thửa đất 141 này đã được UBND huyện V cấp GCN ngày
10/10/1993 mang tên ông Nguyễn Văn L1. Ông Nguyễn Văn L1 với Đỗ Thị
Đ kết hôn năm 1974, sinh được 03 người con gồm: Nguyễn Văn H2, Nguyễn
Thị H và Nguyễn Văn T. Năm 1980, do cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn
nên Đ đã đưa anh T về quê ngoại tại phường D, tỉnh Phú Thọ để sinh sống;
còn ông Nguyễn Văn L1 vẫn sống cùng anh Nguyễn Văn H2 và chị Nguyễn Thị
H tại thôn H, V, huyện V nay thôn H, V, tỉnh Phú Th. Đến năm 1994
ông Nguyễn Văn L1 chết, sau đó đến năm 1996 Đ đón chị Nguyễn Thị H về
phường D, tỉnh Phú Thọ sinh sống. Sau đó một thời gian anh Nguyễn Văn H2
cũng về sống với Đ, chH4 anh T tại Dữu L, V, Phú Thọ. Tuy nhiên,
trước khi về chung sống cùng mẹ các em, thì trong khoảng thời gian từ năm
1995 đến năm 1997 anh Nguyễn Văn H2 đã chuyển nhượng thửa đất đứng tên
ông L1 trên cho các hộ dân tại xã V.
Cụ thể đó là: Năm 1995 chuyển nhượng 73,92m
2
1997 chuyển nhượng
50m
2
cho Nguyễn Thị Q. Sau này Q đã chuyển nhượng một phần cho em
trai Nguyễn Văn P; năm 1995 chuyển nhượng cho anh Nguyễn Mạnh H1
nhưng đến năm 2004 mới lập Hợp đồng chuyển nhượng ghi diện tích chuyển
14
nhượng 168m
2
, năm 1995 chuyển nhượng cho Nguyễn Thị Đ2 nhưng đến
năm 2004 mới lập Hợp đồng ghi diện tích chuyển nhượng 69m
2
. Sau này
đến năm 2014 bà Đ2 tặng cho Nguyễn Thị T1 diện tích đất này và hiện nay ch
T1 đang trực tiếp quản lý, sử dụng; khoảng năm 1997 chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Văn T2, sau này ông T2 chết đã cho con trai là anh Nguyễn Văn S quản
lý, sử dụng; năm 1998 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn M khoảng 05 thước
đất; năm 1995 chuyển nhượng cho ông Phùng Văn L2, sau đó ông L2 cho con
trai là Phùng Văn B do không có nhu cầu sử dụng nên chuyển nhượng lại cho bà
Đàm Thị N. Hiện nay N đang trực tiếp quản lý, sdụng đã được Nhà nước
cấp GCN và xây dựng công trình trên đất.
Quá trình anh Nguyễn Văn H2 lần lượt chuyển nhượng diện tích đất do
ông Nguyễn Văn L1 để lại cho các hộ gia đình như trên thì sau khi nhận chuyển
nhượng những hộ dân này đã sinh sống ổn định, xây dựng nhà và các công trình
trên đất, được Nhà nước cấp GCN thì các thành viên trong gia đình bà Đ, anh T,
chị H không ai có ý kiến gì; chỉ đến năm 2021 gia đình bà Đỗ Thị Đ mới có đơn
đề nghị giải quyết việc anh Nguyễn Văn H2 chuyển nhượng diện tích đất
nguồn gốc của ông Nguyễn Văn L1 để lại như trên.
[4.2]. Về giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn
Văn H2 với các bị đơn việc xây dựng các công trình trên đất kể từ thời điểm
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đến nay.
Sau khi ông L1 chết, đến năm 1996 Đ đón chị Nguyễn Thị H về
phường D, tỉnh Phú Thọ sinh sống. Sau đó một thời gian anh H2 cũng vsống
với bà Đ, chị H anh T. Tuy nhiên, trước khi về sinh sống cùng với Đ, chị
H anh T, thì từ năm 1995 đến năm 1997 anh Nguyễn Văn H2 đã chuyển
nhượng toàn bộ thửa đất đứng tên ông L1 cho các hộ dân tại xã V; sau nhiều lần
thay đổi chủ sử dụng thông qua việc chuyển nhượng, tặng cho thì hiện nay các
gia đình đang trực tiếp quản lý, sử dụng là: Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn
Mạnh H1, ông Đàm Văn T3, chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Văn S và ông
Nguyễn Văn M, chị Đàm Thị N, anh Nguyễn Văn P.
Về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người chuyển
nhượng là Nguyễn Văn H2 với người nhận chuyển nhượng bao gồm: bà Nguyễn
Thị Q, anh Nguyễn Mạnh H1, Nguyễn Thị Đ2, ông Nguyễn Văn T2, ông
Nguyễn Văn M, ông Phùng Văn L2 về hình thức lập thành văn bản thể
giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay xác nhận của UBND xã V;
tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên đều đầy đủ năng lực pháp luật
15
năng lực hành vi dân sự; việc giao kết hợp đồng giữa các bên hoàn toàn tự
nguyện không bị lừa dối ép buộc; đối tượng chuyển nhượng thửa đất đã được
Nhà nước cấp GCN mang tên Nguyễn Văn L1; các nội dung thỏa thuận trong
hợp đồng phù hợp quy định của pháp luật; sau khi giao kết hợp đồng bên chuyển
nhượng anh H1 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bàn giao đất cho bên nhận
chuyển nhượng nhận đầy đtiền của bên nhận chuyển nhượng Nguyễn
Thị Q, anh Nguyễn Mạnh H1, Nguyễn Thị Đ2, ông Nguyễn Văn T2, ông
Nguyễn Văn M, ông Phùng Văn L2; còn bên nhận chuyển nhượng là Nguyễn
Thị Q, anh Nguyễn Mạnh H1, Nguyễn Thị Đ2, ông Nguyễn Văn T2, ông
Nguyễn Văn M, ông Phùng Văn L2 đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả đủ tiền đối
với bên chuyển nhượng là anh H1 và nhận bàn giao đất trên thực tế. Do vậy các
bên đã thực hiện xong toàn bộ những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng,
đến năm 2004 gia đình Nguyễn Thị Q, ông Đàm Văn T3, ông Nguyễn Mạnh
H1, ông Phùng Văn B, Nguyễn Thị Đ2 đã khai lập lại Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mẫu của Văn phòng đăng quyền sử
dụng đất, các bên đã vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Nhà nước đã cấp GCN cho những người này.
Tại thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất gia đình ông Nguyễn
Văn L1 không còn ai tại thôn H, V nên việc anh H1 chuyển nhượng quyền
sử dụng đất phù hợp với khoản 2 Điều 706 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy
định: Hgia đình, nhân sử dụng đất được chuyển nhượng quyền sử dụng
đất khi chuyển đi nơi khác hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất ở đó”; còn phía
người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nguyễn Thị Q, anh Nguyễn
Mạnh H1, bà Nguyễn Thị Đ2, ông Nguyễn Văn T2, ông Nguyễn Văn M, ông
Phùng Văn L2 đảm bảo đủ điều kiện nhận chuyển nhượng theo quy định tại
Điều 711 Bộ luật Dân sự năm 1995.
Sau khi nhận chuyển nhượng các hộ dân là bà Nguyễn Thị Q, anh Nguyễn
Mạnh H1, bà Nguyễn Thị Đ2, ông Nguyễn Văn T2, ông Nguyễn Văn M, ông
Phùng Văn L2 đã thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định tại
các Điều 712, Điều 713 Bộ luật Dân sự năm 1995.
Tại thời điểm anh Nguyễn Văn H2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
các bị đơn Nguyễn Thị Q, anh Nguyễn Mạnh H1, Nguyễn Thị Đ2, ông
Nguyễn Văn T2, ông Nguyễn Văn M, ông Phùng Văn L2 thì thửa đất đang đứng
ông L1; Lúc này ông L1 đã chết pháp luật phải có sự đồng ý của bà Đ, anh T
chị H là những người thuộc hàng thừa kế của ông L1 thì Hợp đồng chuyển
16
nhượng mới phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên về sau Đ chị H,
anh T biết rõ anh H1 đã chuyển nhượng thửa đất đứng tên ông L1 cho bị đơn nói
trên, điều này được thể hiện trong các tài liệu đó là: Trong đơn khởi kiện của
Đ, chH, anh T các bản tự khai… có nội dung Đ, chị H, anh T biết anh
H1 chuyển nhượng đất cho các hộ dân trên vào năm 2000 khi về thăm quê thấy
mọi người xây nhà trên đất của gia đình; Tại Biên bản hòa giải ngày 26/10/2021
(BL 125-129) thể hiện Đ, chị H, anh T biết rõ anh H1 chuyển nhượng thửa
đất đứng tên ông L1 cho các hộ dân như trên vào năm 1997; Biên bản lấy lời
khai của anh Nguyễn Văn H2 Biên bản lấy lời khai của người làm chứng
ông Nguyễn Văn C thể hiện Đ, chị H, anh T biết anh H2 chuyển nhượng
thửa đất cho các bđơn. Từ đó đủ căn cứ xác định bà Đ, chị H anh T đã
biết rõ việc anh H2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các bị đơn từ lâu, cho
đến khi các bị đơn làm thủ tục đề nghị được Nhà nước cấp GCN theo quy
định của pháp luật, các bị đơn xây ncông trình trên đất ổn định thì phía
Đ không có đơn khiếu nại gì, phản ánh gì. Điều này chứng tỏ bà Đ, chị H, anh T
không ý kiến phản đối v việc các bị đơn sử dụng diện tích đất đã nhận
chuyển nhượng cũng như xây dựng công trình trên đất. Quá trình giải quyết vụ
án anh Nguyễn Văn H2 thừa nhận việc anh H2 chuyển nhượng quyền sdụng
đất cho các bị đơn để lấy tiền trả nợ cho các khoản nợ của ông L1 trước khi
chết để lại thanh toán các khoản chi phí mai táng, cải táng cho ông L1. Tại
biên bản lấy lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Văn C cho biết: Khi
ông L1 còn sống vay tiền của ngân hàng đlàm nhà nhưng ông không biết
ông L1 vay bao nhiêu tiền vay của ngân hàng nào, sau khi ông L1 chết anh
H2 đã bán đất để trả nợ Ngân hàng, khi ông L1 chết do vợ chồng ông C lo
mai táng, sau khi bán đất có tiền anh H2 đã trả lại tiền cho ông; việc anh H2 bán
đất một phần tiền trả nợ cho Ngân hàng, chi phí mai táng cho ông L1, phần
còn lại anh H2 sử dụng chi tiêu riêng cho bản thân.
Như vậy, mặc về hình thức của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất tại thời điểm kết thời điểm năm 1995, 1997 chưa phù hợp quy
định của pháp luật chủ thể của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
chưa đầy đủ thành phần vì không có chữ ký của bà Đ, chị H và anh T nhưng sau
đó bà Đ, chị H, anh T biết rõ việc anh H2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
các bị đơn tnăm 1995, năm 1997 không ý kiến phản đối điều này
chứng tỏ bà Đ, chị H anh T đã mặc nhiên đồng ý với việc chuyển nhượng đất
của anh H2 cho các bị đơn như trên; chỉ mãi đến năm 2020 (thời gian tính từ
17
thời điểm anh H2 chuyển nhượng chuyển nhượng đất cho các bị đơn năm 1995
25 năm tính từ thời điểm bà Đ, chị H anh T biết việc anh H2 chuyển
nhượng năm 1997 23 năm) thì Đ, chị H, anh T mới đơn đnghị giải
quyết. Hiện nay các thửa đất thì bên nhận chuyển nhượng các bị đơn đã được
Nhà nước cấp GCN xây nhà ổn định trên đất, quá trình các bị đơn sử dụng
đất làm thtục cấp GCN cũng như khi xây dựng công trình trên đất thì phía
bà Đ, chị H, anh T biết rõ không có ý kiến phải đối gì.
Tại khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993 quy định: Người sử dụng
đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận tđược
quan Nhà nước thẩm quyền xét cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất”
Do vậy, các bị đơn Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn Mạnh H1, ông Nguyễn
Văn M, ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị T1, Đàm Thị N đã quản lý, sử
dụng đất ngay tình, ổn định từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay nên cần
công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các hộ dân phù
hợp. vậy, không căn cứ đchấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Đỗ Thị Đ,
Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T về việc tuyên bố các giao dịch chuyển quyền s
dụng đất vô hiệu để trả lại đất cho nguyên đơn.
Thực tế hiện nay thửa đất Đ, chị H, anh T khởi kiện đã sự thay đổi
hiện trạng, không thể xác định được cụ thể diện tích, hình thể; các sliệu diện
tích chỉ được lưu trữ trên tài liệu, hồ địa chính, bản đquản đất đai tại địa
phương. do là tkhi các bị đơn nhận chuyển nhượng diện tích đất nguồn
gốc của ông L1 đến nay, ngoài diện tích đất nhận chuyển nhượng của anh H1,
các hộ dân đã nhận thêm đất của Nhà nước, nhận chuyển nhượng đất của nhau;
xây dựng các công trình kiên cố trên đất nên sự thay đổi. Bản thân Đ, chị
H và anh T khi khởi kiện, cũng không xác định được cụ thể diện tích đất của các
bị đơn đang sử dụng như thế nào mà chỉ sử dụng số liệu các hộ dân khai, kết quả
đo đạc làm căn cứ khởi kiện. Nếu chỉ căn cứ vào việc Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Văn H2 với các bđơn không đầy đủ
chữ của Đ, chị H, anh T những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
ông L1 chấp nhận yêu cầu khởi phiến diện, máy móc không nhìn nhận, đánh
giá sự việc một cách tổng thể. Hậu quả để lại mất ổn định trật tự trong các
quan hệ dân sự cũng như quan hệ xã hội, khó khăn trong việc thi hành án vì thửa
đất đã sự thay đổi, người nhận chuyển nhượng đã xây dựng các công trình
trên đất, sdụng ổn định lâu dài như trên. Do vậy, cần đảm bảo quyền, lợi ích
hợp pháp của người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ anh Nguyễn Văn
18
H2 ngay tình, tạo sổn định trong quan hệ xã hội nên công nhận việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Văn H2 với các bị đơn như đã phân
tích, viện dẫn phần trên là phù hợp.
[4.3]. Đối với yêu cầu khởi kiện của Đ, chị H anh T đề nghị hủy
GCN Nhà nước đã cấp cho các bị đơn thấy rằng: Các bị đơn Nguyễn Thị
Q, ông Nguyễn Mạnh H1, chị Nguyễn Thị T1 đã được Nhà nước cấp GCN đối
với phần diện tích đất đã nhận chuyển nhượng nguồn gốc của ông Nguyễn
Văn L1 thì do việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Văn H2
với các bị đơn được công nhận; vậy việc cấp GCN cho các bị đơn này hợp
pháp, có căn cứ pháp luật nên yêu cầu hủy GCN không được chấp nhận.
[4.4]. Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Văn
H2 với ông Nguyễn Văn M Nguyễn Văn S ngay tình, được pháp luật công
nhận như đã phân tích, viện dẫn trên. Tuy nhiên, hiện nay ông Nguyễn Văn M
ông Nguyễn Văn S chưa được Nhà nước cấp GCN nhưng gia đình ông M,
ông S cũng đã xây nổn định từ năm 1995 đến nay nên việc Đỗ Thị Đ,
chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T yêu cầu đòi lại tài sản quyền sử dụng
đất đứng tên ông Nguyễn Văn L1 không sở nên không được Hội đồng
xét xử chấp nhận.
[4.5]. Đối với yêu cầu chia tài sản chung và di sản thừa kế tài sản là quyền
sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn L1, nhận thấy: Hiện nay thửa đất số 141
diện tích 926m
2
đứng tên ông Nguyễn Văn L1 không còn giữ nguyên hiện trạng
do anh Nguyễn Văn H2 (con trai ông L1) đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho các hộ dân xung quanh, anh H2 đã nhận tiền chuyển nhượng. Tại phiên tòa
thẩm, phía nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện, HĐXX đình chỉ xét xđối
với nội dung này là phù hợp.
[4.5]. Về các nội dung liên quan: Như đã viện dẫn, phân tích trên, thửa
đất nguồn gốc đứng tên ông Nguyễn Văn L1 do anh Nguyễn Văn H2 đã tự ý
chuyển nhượng quản toàn bộ số tiền. Hiện nay thửa đất số 141 diện tích
đứng tên ông Nguyễn Văn L1 không còn nguyên hiện trạng do anh Nguyễn Văn
H2 (con trai ông L1) đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các bị đơn, anh
H2 đã nhận tiền chuyển nhượng và giao đất cho các bị đơn; Việc anh H2 chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho các bị đơn khi chưa sự đồng ý của Đ, anh
T, chị H như trên được công nhận đã ảnh hưởng đến quyền lợi của Đ, chị H,
anh T. thửa đất đã được các bị đơn hiện nay đã thay đổi hiện trạng, các bị
đơn xây dựng nhà ở công trình kiên cố trên đất, được Nhà nước cấp GCN không
19
thể lấy lại để trả cho các nguyên đơn như đã phân tích, viện dẫn trên. Do vậy, bà
Đ, chị H, anh T có quyền yêu cầu anh H2 hoàn trả giá trị diện tích đất khi có yêu
cầu bằng vụ kiện khác.
Về nội dung quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn H2 khai việc
chuyển nhượng thửa đất đứng tên ông Nguyễn Văn L1 như trên một phần lấy
tiền trả cho các khoản nợ trước đó của ông Nguyễn Văn L1 và thanh toán cho
việc chi phí mai táng, cải táng ông L1. Tuy nhiên, trong phạm vi vụ án này chỉ
xem xét tính hợp pháp, tính căn cứ của giao dịch chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa anh Nguyễn Văn H2 với các bđơn không xem xét việc chia
tài sản của ông L1 để lại nên việc làm khoản nợ trước khi chết do ông L1 để
lại bao nhiêu, những chi phí cụ thể của anh H2 dùng vào việc mai táng, cải
táng ông L1 để xác định anh H2 thực hiện nghĩa vụ đối với ông L1 như thế nào.
Các chi pnày không phải căn cứ, sở để chấp nhận hay không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn; còn việc xác định anh Nguyễn Văn H2
thực hiện nghĩa vụ của ông L1 để lại như thế nào sẽ được xem xét, giải quyết
trong vụ án khác khi Đ, anh T, chị H khởi kiện chia thừa kế liên quan đến
thửa đất số 141 trên.
Về việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình huống của Án lệ số 16/2017/AL
ngày 14/12/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng:
Nội dung án lệ thể hiện di sản thừa kế bất động sản được một trong các đồng
thừa kế chuyển nhượng, các đồng thừa kế biết và không phản đối gì việc chuyển
nhượng đó. Số tiền nhận chuyển nhượng đã được dùng để lo cuộc sống của các
đồng thừa kế. Bên nhận chuyển nhượng đã được Nhà nước cấp GCN. Căn cứ
vào nội dung của án lệ đủ sở xác định anh Nguyễn Văn H2 là một trong
các đồng thừa kế chuyển nhượng thửa đất 141 cho các bị đơn thì Đ, chị H,
anh T các đồng thừa kế biết không phản đối gì. Hiện nay bên nhận chuyển
nhượng các bđơn đã được Nhà nước cấp GCN (chỉ còn ông Nguyễn Văn S
chưa được cấp GCN). Tuy nhiên, theo anh H2 khai việc chuyển nhượng thửa
đất đứng tên ông L1 như trên một phần lấy tiền trả cho các khoản ntrước đó
của ông L1 và thanh toán cho việc chi phí mai táng, cải táng ông L1; còn phía bị
đơn Đ, chị H, anh T không thừa nhận chưa căn cứ xác định toàn bộ
số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất anh H2 đã được dùng để lo cho cuộc
sống của các đồng thừa kế Đ, anh T chị H. Do vậy, việc Tòa án cấp
thẩm vận dụng tình huống để áp dụng Án lsố 16/2017/AL ngày 14/12/2017
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải quyết vụ án là chưa đúng
20
quy định của pháp luật.
Từ những phân tích như trên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tòa
án cấp thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thu
thập khách quan, đúng pháp luật kết hợp với việc xét hỏi công khai tại phiên tòa
để quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đỗ Thị Đ, chị Nguyễn
Thị H, anh Nguyễn Văn T vviệc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Văn H2 với Đàm Thị N, Nguyễn Thị
Q, ông Nguyễn Mạnh H1, Nguyễn Thị T1; ông Nguyễn Văn S (kế thừa của
ông Nguyễn Văn T2) ông Nguyễn Văn M hiệu căn cứ, phù hợp quy
định của pháp luật. Do vậy kháng cáo của Đỗ Thị Đ chị Nguyễn Thị H
không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Đỗ Thị Đ và chị
Nguyễn Thị H; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực
10 Phú Thọ là có căn cứ, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6]. Về án phí: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên Đỗ Thị
Đ chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sphúc thẩm. Do Đỗ Thị Đ
thuộc đối tượng được miễn án phí nên không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của Đỗ Thị Đ chị Nguyễn Thị H; Giữ
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10- Phú Thọ.
Căn cứ vào Điều 705, Điều 706, Điều 707, Điều 711, Điều 712 Bộ luật
Dân sự năm 1995; Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; Điều 202 của Luật Đất đai
năm 2013; Điều 166, Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 156, Điều 157, Điều 164, Điều 165, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đỗ Thị Đ, chị Nguyễn Thị
H anh Nguyễn Văn T về việc buộc Đàm Thị N trả lại 189,3m
2
đất;
Nguyễn Thị Q trả lại 146m
2
đất, ông Nguyễn Mạnh H1 trả lại 168m
2
đất,
21
Nguyễn Thị T1 trả lại 69m
2
đất; ông Nguyễn Văn S trả lại 187m
2
đất ông
Nguyễn Văn M trả lại 120m
2
đất nằm trong thửa đất số 141 tờ bản đồ 3 thuộc
thôn H, xã V, tỉnh Phú Thọ - Bản đồ 299).
2. Không chấp yêu cầu khởi kiện của Đỗ Thị Đ, chị Nguyễn Thị H
anh Nguyễn Văn T về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa anh Nguyễn Văn H2 với bà Đàm Thị N, bà Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn
Mạnh H1, bà Nguyễn Thị T1; ông Nguyễn Văn S (kế thừa của ông Nguyễn Văn
T2) và ông Nguyễn Văn M là vô hiệu (các giao dịch xác lập từ những năm 1994
1996).
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đỗ Thị Đ, chị Nguyễn Thị
H anh Nguyễn Văn T về việc kiến nghị, yêu cầu hủy GCN đã cấp cho
Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn P, ông Nguyễn Mạnh H1,
bà Đàm Thị N.
4. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Đ, chị Nguyễn
Thị H và anh Nguyễn Văn T về việc chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn L1
thửa đất số 141 diện tích 926m
2
nêu trên.
5. Về án phí: Đỗ Thị Đ được miễn án phí dân s phúc thẩm; chị
Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận chị
Nguyễn Thị H đã nộp đủ số tiền 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo
Biên lai số 0002721 ngày 03/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Các quyết định khác ca Bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật k t ngày hết thi hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 10 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 10 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ; HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN T
Nguyễn Duy Sơn
22
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Thị Thu Hiền Bùi Thị Đoan Trang
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
23
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 224/2026/DS-PT Bản án số 224/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 224/2026/DS-PT Bản án số 224/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất