Bản án số 1631/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1631/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1631/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1631/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sở hữu Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở và đòi nhànhà ở và đòi nhà
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1631/2026/DS-PT Bản án số 1631/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1631/2026/DS-PT Bản án số 1631/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 1631/2026/DS-PT
Ngày: 26/8/2026
V/v Tranh chấp quyền sở hữu
nhà ở và đòi nhà
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa :Lê Hải Vân
Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Thủy
Ông Nguyễn Khắc Vương
- Thư ký phiên tòa:Nguyễn Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa:Nguyễn Thị Quang Vinh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 tháng 7, 30 tháng 7 26 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án th
số 671/2026/TLPT-DS ngày 07 tháng 4 năm 2026 về việc Tranh chấp quyền sở
hữu nhà và đòi nhà”.
Do Bản án dân sự thẩm số 67/2026/DS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2660/2026/-PT ngày 21 tháng 4
năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 7739/2026/QĐ-PT ngày 19 tháng 5 năm
2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 9072/2026/QĐ-PT ngày 17 tháng 6 năm 2026,
Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 11569/2026/QĐ-PT ngày 09 tháng 7 năm 2026
Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 11636/2026/QĐ-PT ngày 30 tháng 7 năm
2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyn Th P, sinh năm 1943; chết ngày 24/7/2025.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà P: Ông Nguyễn Văn V, sinh
1972; Địa chỉ: phường T, (quận T cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1970; Địa
chỉ: xã X, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
2
2. Bị đơn:Nguyễn Thị Q, sinh năm 1939, chết năm 2025.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị Q:
2.1 Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1963, chết năm 2026.
Người kế tha quyền, nghĩa v t tng ca ông Huỳnh Văn S:
- Bà Nguyn Th H, sinh năm 1965; (xin vng mt)
- Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1987; (vng mt)
- Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1989; (xin vng mt)
- Ông Huỳnh Văn Xuân A, sinh năm 1990; (vng mt)
- Ông Huỳnh Văn Xuân E, sinh năm 1992; (vng mt)
Cùng địa ch: phưng T, Thành ph H Chí Minh.
2.2 Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1970;
2.3 Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1972;
2.4 Hunh Th U, sinh năm 1975;
2.5 Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1977;
Cùng địa chỉ: phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.6 Hunh Th H, sinh năm 1965; Địa ch: phưng T, Thành ph H Chí
Minh.
Người đại din theo y quyn ca các ông, bà: Huỳnh Văn N, Huỳnh Văn H,
Hunh Th U, Huỳnh Văn H, Hunh Th H: Ông H Thành Đ, sinh năm 1977; Địa
ch: phường B, Thành ph H Chí Minh (Giy y quyn s công chng 00003974
ngày 07/3/2026 tại Văn phòng Công chứng Đ) (có mt)
3. Người có quyn li nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Huỳnh Hồ T, sinh năm 1998; Địa chỉ: phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh. (vắng mặt)
3.2 Ông Nguyn Trung H, sinh năm 1986; Địa ch: phường T, Thành ph
H Chí Minh. (vng mt)
3.3 Ông Nguyn Trung Q, sinh năm 1988; (vng mt)
3.5 Bà Nguyn Ngc P, sinh năm 1993; (vng mt)
3.6 Bà Nguyn Ngc T, sinh năm 1965. (vng mt)
Cùng Địa chỉ: phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Người kháng cáo: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, bà
Nguyễn Thị Q: Ông Huỳnh Văn S, ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn H,
Huỳnh Thị U, ông Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị H; Người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Huỳnh H T.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P
ông Nguyễn Văn V do ông Nguyễn Thanh Đ đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguyễn Thị P (chết ngày 24/7/2025) ông Nguyễn Văn T chết ngày
12/11/2003) vợ chồng, P Ông T chung sống với nhau 02 người con
chung gồm: Nguyễn Văn S (sinh năm 1963, chết năm 1998) Nguyễn Văn V,
sinh năm 1972.
Ông Nguyễn Văn S Nguyễn Ngọc T kết hôn, chung sống 03 người
con gồm: ông Nguyễn Trung H, ông Nguyễn Trung Q và bà Nguyễn Ngọc P.
Trước khi P chết, bà P đã lập di chúc (theo Di chúc số công chứng
002480 quyển số 06/2025TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng Nguyễn
Đình Thịnh chứng nhận ngày 25/6/2025) cho ông V được hưởng toàn bộ di sản của
bà P để lại thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng và phần thừa kế của bà P tại nhà đất
78 T.
Theo Sổ mục kê ruộng đất (bộ sao chép) tài liệu Chỉ thị 299/TTg do Ủy ban
nhân dân Phường 14 lập ngày 30/8/1982 và Ủy ban nhân dân quận Tân Bình duyệt
ngày 30/8/1982 thì thửa đất thu 281, tờ bản đồ duy nhất Phường 14, quận Tân Bình
nay phường T, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Văn T đứng tên chủ sử
dụng đất đối với phần diện tích 2.065m
2
.
Năm 1990, sau khi được cấp Giấy chứng nhận tạm thời, vợ chồng Ông T
xây căn nhà nhỏ trên một phần diện tích thửa đất 281, tờ bản đồ số 01 và cho Q
nhờ trên căn nhà đó. Ông T, bà Q đã ra Ủy ban nhân dân phường làm giấy cho
nhờ nhưng không được mua bán, sự việc này P các con hoàn toàn không
biết.
Nguyễn Thị Q (chết năm 2025) chung sống với ông Huỳnh Văn D (đã
chết năm 1990) 10 người con gồm: Huỳnh Thị X chết năm 2018, Huỳnh
Thị H sinh năm 1959 chết năm 2023, ông Huỳnh Văn S, Huỳnh Thị Lang chết
năm 2024, ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị U, ông Huỳnh
Văn H, ông Huỳnh Văn T1 chết năm 2010, bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1965.
Trong thời gian nhờ, khi vào mùa mưa phần nhà b thấm, dột nên
Nguyễn Thị Q có đề ngh sửa tạm, ông Nguyễn Văn T đồng ý. Vào năm 2001, Ông
T, P nhc Q trả nhà để làm thủ tục giấy tờ cho con trai Nguyễn Văn V
được nhắc rất nhiều lần cho đến khi Ông T chết, nhưng bà Nguyễn Thị Q cho
rằng mình là người sửa chữa lại căn nhà nên không chịu trả. Hiện tại phần nhà, đất
4
cho tạm này thuộc nhà số 78 T, phường T, quận T, nay là phường T, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Sau khi Ông T bệnh mất, gia đình vẫn tiếp tục yêu cầu trả lại nhà, đất cho
nhờ nhưng Nguyễn Thị Q vẫn thoái thác, chiếm giữ không chịu trả.
Xét thấy việc Nguyễn Thị Q không trả lại nhà, đất làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình vậy nguyên đơn đã khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết nhng vấn đề sau:
Yêu cầu công nhận nhà đất 78 T, phường T, quận T(nay phường T),
Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của Nguyễn Thị Pông Nguyễn
Văn T.
Yêu cầu những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của Q và những
người đang trú trên căn nhà 78 T, phường T trả lại nhà đất 78 T cho những
người thừa kế của bà Nguyễn Thị Pông Nguyễn Văn T.
Để hỗ trợ cho những người đang cư trú trên nhà 78 T di dời, dọn đi nơi khác
ông V đồng ý hỗ trợ số tiền 500.000.000 đồng cho những người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng của bà Q, đồng thời đồng ý trả phần tiền xây dựng đối với nhà đất
78 T.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Nguyễn Thị Q: ông
Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn H, ông Huỳnh Văn H, bà Huỳnh Thị U và bà Huỳnh
Thị H - cùng thống nhất trình bày:
Các ông, bà con trai của Nguyễn Thị Q. Ông xác nhận Nguyễn Thị
Q (chết năm 2025) chung sống với ông Huỳnh Văn D (đã chết năm 1990) 10
người con gồm: Huỳnh Thị X chết năm 2018, Huỳnh Thị H sinh năm 1959
chết năm 2023, ông Huỳnh Văn S chết năm 2026, Huỳnh Thị Lang chết năm
2024, ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị U, ông Huỳnh Văn H,
ông Huỳnh Văn T1 chết năm 2010, bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1965.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông, ý kiến như sau:
Nhà đất 78 T, phường T do ông Nguyễn Văn T (đã chết) chng của Nguyễn
Thị P cho mông là Nguyễn Thị Q được sử dụng vĩnh viễn từ đời này sang đời
khác.
Nhà đất 78 T nằm thửa đất thửa 281, thửa phân chiết 281-1, 281-2
(theo tài liệu 299/TTg của TTCP) nay là thửa 44, tờ bản đồ số 33, phường T, quận
T(nay tờ bản đồ số 33 bản đồ địa chính phường T, Thành phố Hồ Chí Minh,
theo tài liệu chỉnh năm 2025), hiện nay nhà đất này do ông Huỳnh Văn N, ông
5
Huỳnh Văn Hông Huỳnh Hồ T đang thực tế cư trú.
Nay khi nguyên đơn khởi kiện yêu cầu những người con của Q những
người đang trú trên căn nhà 78 T, phường T trả lại nhà đất 78 T cho P
những người thừa kế của ông Nguyễn Văn T yêu cầu công nhận nhà đất 78 T,
phường T thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn T thì ông,
không đồng ý. Do nđất này đã được Ông T cho Q sử dụng vĩnh viễn
được Ủy ban nhân dân Phường 14, quận Tân Bình lập biên bản giải quyết việc sử
dụng đất ngày 28/10/1993.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung H, ông Nguyễn
Trung Q, bà Nguyễn Ngọc P trình bày:
Ông nội cha mẹ chồng của các ông ông Nguyễn Văn T (chết năm
1998) nội Nguyễn Thị P (chết năm 2025). Ông T chết không để lại di
chúc.
Ông T P 02 người con gồm: cha các ông ông Nguyễn Văn S
(chết năm 1998) và ông Nguyễn Văn V.
Chồng cha các ông ông Nguyễn Văn S chung sống với mẹ
Nguyễn Ngọc T 03 người con gồm: ông Nguyễn Trung H, Nguyễn Trung Q
Nguyễn Ngọc P.
Nhà đất 78 T chưa được cấp chủ quyền của Ông T, P, Ông T đã cho
gia đình bà Nguyễn Thị Q ở nhờ.
Các ông, từ chối nhận phần thừa kế thế vị đối với nhà đất 78 T, do trước
đây ông Sơn đã được Ông T và bà P chia tài sản. Các ông đồng ý giao phần di
sản này cho ông Nguyễn Văn V được thừa hưởng, quản lý, sử dụng. Các ông bà đề
nghị không tham gia tố tụng, không tham gia phiên tòa xin vắng mặt trong suốt
quá trình tố tụng.
Bản án thẩm số 67/2026/DS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 9 đã tuyên:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1 Công nhận thửa đất số 44, tờ bản đồ 33, phường T, quận T(nay tờ bản
đồ số 33, phường T), Thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại địa chỉ 78 T, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Văn V
người thừa kế hợp pháp ca ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P.
6
Ông Nguyễn Văn V được quyền liên hệ với quan quản nhà nước
thẩm quyền đthực hiện thủ tục về đất đai, tài sản gắn liền với đất theo quy định
pháp luật.
1.2 Buộc ông Huỳnh Văn S, Huỳnh Văn N, Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị U,
Huỳnh Văn H; Huỳnh Thị H, sinh năm 1965; ông Huỳnh Hồ T những người
đang trú trên nhà đất 78 T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (nếu có) phải
bàn giao nhà đất nêu trên cho ông Nguyễn Văn V quản lý, sử dụng, ngay khi bản
án có hiệu lực pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn V về việc hỗ trợ di dời cho
những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của Nguyễn Thị Q những
người đang cư trú trên nhà 78 T số tiền 500.000.000 đồng.
2. Ông Nguyễn Văn V nghĩa vụ thanh toán cho những người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của Nguyễn Thị Q (gồm các ông ông Huỳnh Văn S,
Huỳnh Văn N, Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị U, Huỳnh Văn H; Huỳnh Thị H, sinh
năm 1965) số tiền 170.562.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn
V về việc làm tròn số tiền xây dựng nhà 78 T từ 170.562.000 đồng thành số tiền
200.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí quyền kháng cáo của
các đương sự theo luật định.
Ngày 03/02/2026, Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn,
Nguyễn Thị Q: Ông Huỳnh Văn S, ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn H,
Huỳnh Thị U, ông Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị H kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án dân sự thẩm, theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn hoặc hủy bản án thẩm giao hồ vụ án cho Tòa án nhân
dân Khu vực 9 giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ngày 04/02/2026, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hồ T
kháng cáo toàn bộ bản án dân sự thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án dân sự sơ thẩm, theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
hoặc hủy bản án thẩm giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân Khu vực 9 giải
quyết lại theo thủ tc sơ thẩm.
Sau khi xét x thẩm, ông Huỳnh Văn S chết, Người kế tha quyn
nghĩa vụ t tng ca ông Huỳnh Văn S gm: Nguyn Th H, ông Huỳnh Văn S
đơn xin vng mt trình bày: Thng nht vi ý kiến trình bày ca b đơn, giữ
nguyên yêu cu kháng cáo của ông Sơn. Ông Sơn chết ngày 13/5/2026. Hu
7
ông Sơn chung sống vi nhau t năm 1986, không đăng ký hết hôn và có 04 ngưi
con chung gm: Huỳnh Văn L, sinh năm 1987, Huỳnh Văn S, sinh năm 1989,
Huỳnh Văn Xuân A sinh năm 1990, Huỳnh Văn Xuân E sinh năm 1992.
Người kế tha quyền nghĩa v t tng ca ông Huỳnh n S gm: ông
Huỳnh Văn L, ông Huỳnh Văn Xuân E, ông Huỳnh Văn Xuân A vng mt và không
có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa phúc thm:
Ông Nguyễn Thanh Đ người đại diện hợp pháp của Người kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người kế thừa quyền,
nghĩa vụ của bị đơn, đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án thẩm.
Ông Hồ Thành Đ người đại diện hợp pháp của Người kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của b đơn gồm ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn H, Huỳnh
Thị U, ông Huỳnh Văn H, Huỳnh Th H trình bày: B đơn đã mua đất của
nguyên đơn trước năm 1977, tuy nhiên chỉ mới thanh toán một nửa tiền mua nhà,
gia đình bị đơn đã xây dựng nhà từ trước năm 1977 cho đến nay. Năm 1977,
bị đơn lập Tờ khai nhà cửa ngày 31/12/1977 với nhà đất số 71/1 Hương Lộ
13, Phường 14, quận Tân Bình. Việc mua bán nhà không còn giấy tờ chứng minh.
Tuy nhiên, bị đơn chỉ duy nhất một căn ntrên từ trước đến nay. Văn bản số
2664/UBND-KTHTĐT ngày 05/8/2026 của Ủy ban nhân dân phường T xác định
phường T không thông tin nhà số 71/1 Hương Lộ 13, Phường 14, quận Tân
Bình là chưa chính xác do trong tờ khai hộ khẩu của Q công an đã xác nhận địa
chỉ 71/1 Phường 14, quận Tân Bình số của nhà 78 T. Do đó, bị đơn thay đổi
yêu cầu kháng cáo yêu cầu Tòa án hủy bản án sơ thẩm để làm rõ nội dung trên.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
+ Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp
luật ttụng dân sự từ khi thụ đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến
trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự,
thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã
chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người kế thừa
quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, giữ nguyên Bản án thẩm số 67/2026/DS-
ST ngày 21 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9; Căn cứ Khoản 3
8
Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu
cầu kháng cáo của ông Huỳnh Hồ T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm
sát nhân dân Thành phố H Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội
đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thời hạn kháng cáo: Bản án dân sự thẩm số 67/2026/DS-ST của
Tòa án nhân dân khu vực 9 xét xử ngày 21/01/2026. Ngày 03/02/2026, những
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ca bị đơn, bà Nguyễn Thị Q: Ông Huỳnh
Văn S, ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn H, bà Huỳnh Thị U, ông Huỳnh Văn H,
Huỳnh Thị H đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 04/02/2026,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hồ T kháng cáo toàn bộ bản án
dân sự thẩm. Các đương sự kháng cáo đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1
Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do quan htranh chấp được xác định
là “Tranh chấp quyền sở hữu nhà và đòi nhà” và bất động sản tranh chấp tọa lạc tại
phường T, Thành phố Hồ CMinh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ CMinh theo quy định tại điểm c khoản 1
Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về thủ tục xét xử vắng đương sự: Nguyễn Thị H, ông Huỳnh Văn S
đơn xin vắng mặt; ông Huỳnh Văn L, ông Huỳnh Văn Xuân E, ông Huỳnh Văn
Xuân A, ông Nguyễn Trung H, ông Nguyễn Trung Q, Nguyễn Ngọc P,
Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt,
không do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử
vắng mặt các đương sự trên.
[1.4] Người kháng cáo ông Huỳnh Hồ T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
hai vắng mặt, không do thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo. Căn cứ
Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đình chỉ xét xphúc
thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Hồ T.
[2]. V ni dung:
- Xét kháng cáo của những người kế thừa quyền nghĩa vtố tụng của bị
đơn, Nguyễn Thị Q: Ông Huỳnh Văn S, ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn H,
9
Huỳnh Thị U, ông Huỳnh Văn H, Hunh Thị H yêu cầu Tòa án hủy Bản án
dân sự thẩm số 67/2026/DS-ST ngày 21/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực
9:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo Sổ mục kê ruộng đất (bộ sao chép) tài liệu Chỉ thị 299/TTg do Ủy ban
nhân dân Phường 14 lập ngày 30/8/1982 được Ủy ban nhân dân quận Tân Bình
duyệt ngày 30/8/1982 thì quyền sử dụng thửa đất số 281, tờ bản đồ duy nhất
Phường 14, quận Tân Bình nay phường T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vợ
chồng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P.
Theo Công văn số 5263/VP-ĐK-KT ngày 29/12/2025 về việc cung cấp
thông tin thửa đất của Văn phòng đăng đất đai Sở Nông Nghiệp Môi
trường Thành phố Hồ Chí Minh thì khu đất có diện tích 87,6m
2
tại phường T, quận
Tthuộc thửa đất 281, tờ bản đồ duy nhất Phường 14, quận Tân Bình nay là phường
T, Thành phố Hồ Chí Minh mà ông Nguyễn Văn T đã đăng ký tại Sổ mục kê ruộng
đất (bộ sao chép) tài liệu Ch thị 299/TTg.
Theo lời khai của Nguyễn Thị Q những người kế thừa quyền nghĩa vụ
tố tụng của bà Q thì nhà đất 78 T, phường T là của gia đình ông Nguyễn Văn T cho
Nguyễn Thị Q được sử dụng vĩnh viễn từ đời này đến các con cháu Q.
Không được mua bán. Lời khai này phù hợp với nội dung Biên bản giải quyết việc
sử dụng đất ngày 28/10/1993 giữa ông Nguyễn Văn T cho bà Nguyễn Th Q.
Theo lời khai của phía bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm thì nguồn gốc nhà đất 78
T, phường T của Ông T cho Q tđời này sang đời khác, đề nghị được
mua lại nhà trên với giá 10.000.000 đồng/m
2
.
Theo lời khai tại phiên tòa phúc thẩm thì nguồn gốc nhà đất 78 T, phường T
là của Ông T bán cho ông Dócbà Q với giá 140 đồng, tuy nhiên bà Q mới trả cho
Ông T 70 đồng nên vào năm 1982, Ông T mới đứng tên kê khai đối với diện tích đất
trên. Phía bị đơn không hợp đồng mua bán để chứng minh cho lời khai này. Tuy
nhiên bà Q đã đứng tên kê khai căn nhà trên tại Tờ kê khai nhà cửa ngày 31/12/1977
với nhà đất s71/1 Hương Lộ 13, Phường 14, quận Tân Bình (địa chỉ cũ của nhà 78
T).
Theo Công văn số 2685/UBND-KTHTĐT ngày 05/8/2026 của Ủy ban nhân
dân phường T thì: “Theo dliệu về quản số ncủa phường T không tìm thấy
địa chỉ căn nhà số 71/1, đường Hương lộ 13, Phường 14, quận Tân Bình (theo Bản
kê khai nhà cửa ngày 31/12/1977). Theo danh sách cấp đổi và gắn biển số nhà trên
10
địa bàn phường T năm 2006 của Phòng quản đô thị quận Tcũ, tại trang 85/212,
đã cấp số mới là 78 T thay cho số cũ 20/46 Trần Văn Ơn tại thửa đất số 44, tờ bản
đồ số 33 theo bản đồ địa chính chính quy năm 2005 phường T, quận T, Thành phố
Hồ Chí Minh (nay phường T, Thành phố Hồ Chí Minh)”. Như vậy sở để
xác định nđất Q kê khai năm 1977 không phải nhà đất tại số 78 T như lời
phía bị đơn trình bày tại phiên tòa phúc thẩm.
Theo Tờ đăng nhà đất ngày 20/8/1999 thì Q đã khai nhà đất nguồn
gốc nhà đất được ông Nguyễn Văn T và vợ con đng ý cho ở vĩnh viễn.
Theo Biên bản giải quyết việc sử dụng đất ngày 28/10/1993, ông Nguyễn
Văn T cho Nguyễn Thị Q được sử dụng vĩnh viễn từ đời này đến các con cháu
bà Q. Không được mua bán. Nếu không ở, phải trả lại đất cho chủ đất.
Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 100 Luật đất đai 2013 thì: “Hộ gia
đình, nhân, đang sử dụng đất ổn định một trong các loại giấy tờ sau đây
thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất, quyền shữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
…g) Các loại giấy tờ khác được các lập trước ngày 15/10/1993”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Chương V Nghị định 43/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ được sửa đổi bổ sung tại Điều 2 khoản 16 Nghị
định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 về sửa đổi, bổ sung một snghị định
quy định chi tiết thi hành luật đất đai thì:
“Các giấy tờ khác về quyền sử dụng đất quy định tại Điểm g khoản 1 Điều
100 của Luật đất đai:
…2. Một số các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng rung
đất theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác
đo đạc, phân hạng đăng thống ruộng đất trong cả nước do quan nhà
nước đang quản lý, bao gồm:
…c. Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với trường hợp không có
giấy tờ quy định tại Điểm a và Điểm b khoản này.”
Xét thấy: Khu đất diện tích 87,6m
2
tại phường T, quận Tthuộc thửa đất
281, tờ bản đồ duy nhất Phường 14, quận Tân Bình nay là phường T, Thành phố
Hồ Chí Minh đã được ông Nguyễn Văn T đăng ký kê khai tại Sổ mục kê ruộng đất
(bộ sao chép) theo tài liệu Chthị 299/TTg. Như vậy, căn cứ để xác định ông
Ông T và bà P có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai nên
11
đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận đất theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2
Điều 100, Khoản 2 Điều 103 Luật đất đai 2013.
Biên bản giải quyết việc sử dụng đất ngày 28/10/1993 nội dung ông
Nguyễn Văn T cho Nguyễn Thị Q được sdụng vĩnh viễn từ đời này đến các
con cháu Q. Không được mua bán. Nếu không ở, phải trả lại đất cho chủ đất.
Như vậy, có cơ sở để xác định Biên bản giải quyết việc sử dụng đất ngày
28/10/1993 không phải các hợp đồng xác lập quyền shữu theo quy định tại
Điều 223 Bộ luật dân sự m 2015 nên sẽ không làm phát sinh quyền sở hữu hoặc
sử dụng hợp pháp cho Q. Do đó, việc các con của Q viện dẫn biên bản này
để xác lập quyền sở hữu cho bà Q là không có cơ sở.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn khai diện tích đất trên do nguyên
đơn mua của bị đơn nhưng chưa trả hết tiền. Tuy nhiên, nguyên đơn không cung cấp
được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày trên lời trình bày trên cũng mâu
thuẩn với lòi trình y của phía nguyên đơn tại phiên tòathẩm cũng như tại Biên
bản giải quyết việc sử dụng đất ngày 28/10/1993 nên không có sở chấp nhận.
Từ những căn cứ trên, Tòa án cấp thẩm xác định giao dịch giữa 2 bên
hợp đồng mượn tài sản là phù hợp quy định tại Điều 494 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Theo Di chúc số công chứng 002480 quyển số 06/2025TP/CC-SCC/HĐGD
do Văn phòng công chứng Nguyễn Đình Thịnh chứng nhận ngày 25/6/2025 thì
P đã lập di chúc cho ông Nguyễn Văn V được hưởng toàn bộ di sản của P để lại
tại nhà đất 78 T. Các ông bà Nguyễn Ngc T, ông Nguyễn Trung H, Nguyễn Trung
Q Nguyễn Ngọc P đều từ chối nhận. Do đó, Tòa án cấp thẩm Công nhận
thửa đất số 44, tờ bản đồ 33, phường T, quận T(nay là tờ bản đồ số 33, phường T),
Thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại địa chỉ 78 T, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Văn V người thừa kế hợp
pháp của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P là phù hợp quy định pháp luật.
Theo Thông báo yêu cầu Q trả lại nhà đất 78 T ngày 28/12/2024 của P
Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai theo đơn yêu cầu ngày 27/5/2025 giữa
Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn V đại diện gia đình Nguyễn Thị Q thì
nguyên đơn đã thông báo đòi nhà đến bị đơn.
Do Nguyên đơn đã báo trước mt thời gian hợp nên Tòa án cấp thẩm
chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Buộc ông Huỳnh Văn S, Huỳnh Văn N, Huỳnh
Văn H, Huỳnh Thị U, Huỳnh Văn H; Huỳnh Thị H, sinh năm 1965; ông Huỳnh
Hồ T những người đang cư trú trên nhà đất 78 T, phường T, Thành phố Hồ Chí
12
Minh (nếu có) phải bàn giao nhà đất nêu trên cho ông Nguyễn Văn V quản lý, sử
dụng, là phù hợp quy định tại Điều 499 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bị đơn cho rằng sự khác nhau giữa Công văn số 2685/UBND-KTHTĐT
ngày 05/8/2026 của y ban nhân dân phường T với phiếu xác nhận hộ khẩu gốc
của Công An quận Tân Bình ngày 17/9/2003. Tuy nhiên, tại đơn đề nghị xác định
hộ khẩu gốc, bị đơn yêu cầu xác định hộ khẩu tại địa chỉ 20/46 (số 71/1) đường
Tân Kỳ Tân Quý, phường 14, quận Tân Bình địa chỉ tại tờ khai năm 1977 theo
Công văn số 2685/UBND-KTHTĐT ngày 05/8/2026 của Ủy ban nhân dân phường
T s71/1 Hương Lộ 13, Phường 14, quận Tân nh. Ngoài ra, tại Biên bản giải
quyết việc sử dụng đất ngày 28/10/1993 và Tờ đăng nhà đất ngày 20/8/1999 thì
Q đã xác nhận, khai nhà đất nguồn gốc nhà đất được ông Nguyễn Văn T
vợ con đồng ý cho vĩnh viễn nên việc xác minh nhà đất số 20/46 (s 71/1)
đường Tân Kỳ Tân Quý, phường 14, quận Tân Bình nhà đất số 71/1 Hương Lộ 13,
Phường 14, quận Tân Bình phải một hay không không làm thay đổi nguồn
gốc chủ hữu của nhà đất trên nên không cần thiết phải hủy bản án thẩm
theo yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Đối với việc xem xét công sức gìn giữ tôn tạo tài sản: Do bị đơn không
yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Bị đơn có quyền khởi kiện về việc xem xét
công sức gìn giữ tôn tạo tài sản trong một vụ án khác khi có yêu cầu.
T nhng phân tích trên, xét thy yêu cu kháng cáo ca b đơn không
căn cứ chp nhn.
[3]. Đề ngh ca Vin Kim sát nhân dân Thành ph H Chí Minh là có căn
c nên chp nhn.
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên căn cứ
khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội, người kháng cáo phải chịu án phí dân sự pc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 148, Điều 296,
khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 494, Điều 499 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn c vào Lut Thi hành án dân sự năm 2025,
13
Xử:
1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của Người kế thừa quyền nghĩa vtố
tụng của bị đơn, Nguyễn Thị Q: Ông Huỳnh Văn S, ông Huỳnh Văn N, ông
Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị U, ông Huỳnh Văn H, bà Huỳnh Thị H.
2. Giữ nguyên Bản án thẩm số 67/2026/DS-ST ngày 21 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9:
2.1 Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2.1.1 Công nhận thửa đất số 44, tờ bản đồ 33, phường T, quận T(nay tờ
bản đồ số 33, phường T), Thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại địa chỉ 78 T, phường
T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Văn V
người thừa kế hợp pháp của ông Nguyễn Văn Tbà Nguyễn Thị P.
Ông Nguyễn Văn V được quyền liên hệ với quan quản nhà nước
thẩm quyền đthực hiện thủ tục về đất đai, tài sản gắn liền với đất theo quy định
pháp luật.
2.1.2 Buộc ông Huỳnh Văn S, Huỳnh Văn N, Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị U,
Huỳnh Văn H; bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1965; ông Huỳnh Hồ T những người
đang trú trên nhà đất 78 T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (nếu có) phải
bàn giao nhà đất nêu trên cho ông Nguyễn Văn V quản lý, sử dụng, ngay khi bản
án có hiệu lực pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn V về việc hỗ trợ di dời cho
những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của Nguyễn Thị Q và những
người đang cư trú trên nhà 78 T số tiền 500.000.000 đồng.
2.2 Ông Nguyễn Văn V nghĩa vụ thanh toán cho những người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của Nguyễn Thị Q (gồm các ông ông Huỳnh Văn S,
Huỳnh Văn N, Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị U, Huỳnh Văn H; Huỳnh Thị H, sinh
năm 1965) số tiền 170.562.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn
V về việc làm tròn số tiền xây dựng nhà 78 T từ 170.562.000 đồng thành số tiền
200.000.000 đồng.
2.3 Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Huỳnh Văn S, ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị U,
ông Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị H, sinh năm 1965 phải chịu án phí dân sự
thẩm là 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng.
14
Ông Nguyễn Văn V người thừa kế hợp pháp của ông Nguyễn Văn T và bà
Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự thẩm 8.528.100 (tám triệu năm trăm
hai mươi tám nghìn một trăm) đồng.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải
thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi
hành án còn phải trả cho bên được thi hành án một khoản tiền lãi ca số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự
tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Hồ
T.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Huỳnh Văn S, ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn H, bà Huỳnh Thị U,
ông Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị H, mỗi người phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc
thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012317 ngày 11 tháng 2 năm
2026, số 0012320 ngày 11 tháng 2 năm 2026, số 0012322 ngày 11 tháng 2 năm
2026, số 0012323 ngày 11 tháng 2 năm 2026, số 0012324 ngày 11 tháng 2 năm
2026, số 0012318 ngày 11 tháng 2 năm 2026 của Thi hành án dân sự Thành phố
Hồ Chí Minh.
Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng do ông Huỳnh Hồ T nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0012325 ngày 11 tháng 2 năm 2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí
Minh.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2, Điều 4 Luật
thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thỏa thuận thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8, 34, 36
Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi nh án được thực hiện
theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
5. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
15
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- Thi hành án dân sự TP Hồ Chí Minh;
- Tòa án nhân dân Khu vực 9;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1631/2026/DS-PT Bản án số 1631/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1631/2026/DS-PT Bản án số 1631/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất