Bản án số 217/2026/HS-PT ngày 04/09/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 217/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 217/2026/HS-PT ngày 04/09/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 217/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: “Cố ý gây thương tích”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 217/2026/HS-PT Bản án số 217/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 217/2026/HS-PT Bản án số 217/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Vinh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương
Ông Nguyễn Thế Hạnh
- Thư phiên toà: Ông Nguyễn Trí - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà:
Bà Hồ Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Lâm
Đồng, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình
sự thụ lý số 243/2026/TLPT-HS ngày 10 tháng 8 năm 2026 đối với Nguyễn Văn
K Nguyễn Văn K1 do kháng o của bị hại Đỗ Trọng M đối với Bản án
hình sự thẩm số 69/2026/HS-ST ngày 26-6-2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 7 - Lâm Đồng.
Các bị cáo bị kháng cáo:
1. Nguyễn Văn K, sinh ngày 08-8-1980 tại tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An
Giang); nơi trú: thôn Q, K, tỉnh Lâm Đồng; căn cước công dân số:
************ ngày cấp 22-02-2024; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn:
6/12; n tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Nguyễn Văn Ú (đã chết) Phạm Thị N, sinh năm 1950; vợ Đỗ Thị
H, sinh năm 1986 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam
từ ngày 24-6-2014 đến ngày 17-11-2014 được tại ngoại; ngày 26-6-2025 bị bắt
tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh L - Có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 217/2026/HS-PT
Ngày 04 - 9 - 2026
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
2
2. Nguyễn Văn K1, sinh ngày 10-12-1982 tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An
Giang); nơi thường trú: thôn Q, K, tỉnh Lâm Đồng; căn cước công dân số:
************ cấp ngày 27-12-2021; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn:
7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Nguyễn Văn Ú (đã chết) Phạm Thị N, sinh năm 1950; vợ Phùng
Thị A, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại Bản án hình sự
phúc thẩm số 87/2018/HS-PT ngày 25-10-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Nông (nay tỉnh Lâm Đồng) xử phạt 06 tháng về tội “Vi phạm quy định về
khai thác, bảo vệ rừng lâm sản”, ngày 26-4-2019 chấp hành xong (đã xóa án
tích); bị bắt tạm giam tngày 24-6-2014 đến ngày 05-8-2014 được tại ngoại;
ngày 26-6-2025 bị bắt tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2
Công an tỉnh L - Có mặt.
Bị hại: Ông Đỗ Trọng M, sinh năm 1960; địa chỉ: thôn Q, K, tỉnh Lâm
Đồng - Có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại Đỗ Trọng M: Ông
Nguyễn Văn H1, Luật Văn phòng Luật Nguyễn Thiên H2 - Đoàn Luật
tỉnh L - Có mặt.
(Ngoài ra, trong vụ án còn 02 bị cáo không kháng cáo, không bị kháng
cáo, kháng nghị nên không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn trong việc chia tài sản sau khi ly hôn nên vào khoảng 15 giờ,
ngày 27-9-2013 Nguyễn Văn K ĐThị H xảy ra tranh cãi, xát, chị H kêu
la nên Nguyễn Thị S (mẹ ruột chị H) cùng anh Đỗ Trọng H3 (em họ chị H),
Đỗ Trọng H4 Đỗ Trọng T (em ruột chị H) chạy đến. Thấy đông người đến, K
sợ bị đánh nên bỏ chạy xuống dưới sình gần rẫy của K lấy một con dao phát,
sau đó cầm dao về nhà. Trên đường về, K gọi điện thoại cho em ruột Nguyễn
Văn K1 nhưng không liên lạc được. K tiếp tục gọi điện cho Phạm Thị N (mẹ
ruột) kể lại sự việc. Sau đó, bà N gọi điện cho K1 biết sự việc. K1 đi về nhà, đến
khu vực ngã ba B thuộc thôn Q thì gặp K kể lại nội dung sviệc. Sau đó, K
K1 đứng khu vực ngã ba B để chờ những người trong gia chị H đi làm về.
Trong lúc chờ, K K1 gặp anh Phạm Hồng V (họ hàng với chị H) đi từ trong
khu vực rẫy nhà K ra. Thấy K K1, anh V hỏi hai người đứng đây làm thì
3
K1 nói gia đình ông Đỗ Trọng M (bố ruột chị H) đánh K. Nghe vậy, anh V quay
lại rẫy thông báo cho gia đình ông M biết.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, gia đình ông M đi rẫy về, chị Hồng điều K2
xe chở S đi trước; ông M điều khiển xe phía sau chở mủ cao su
đi sau chị H khoảng 05m, trên tay ông M cầm một cây gỗ dài khoảng 60cm (cây
chống xe); H4 điều khiển xe chở T anh H3 đi sau cùng, cách ông M
khoảng 40m, trên tay T cầm một con dao phát.
Khi ông M chị H đến khu vực nba B thì gặp K1 K đứng đường,
trên tay K1 và K mỗi người cầm một con dao dài khoảng 01m. Khi thấy gia đình
ông M đến, K1 cầm dao chạy tới chém trúng vào tay trái ông M, bị K1 chém
ông M dùng khúc cây đang cầm trên tay phải đánh một cái từ trên xuống dưới
trúng vào phần lưng của K1. K cũng cầm dao chạy tới chém một cái tphía sau
trúng vào tay phải của ông M. Thấy vậy, chị H S xông vào can ngăn K.
Cùng lúc đó, H4 chở T anh H3 vừa chạy xe tới nghe thấy ông M nói “chúng
đánh tao” H4 dừng xe, giật con dao rựa phát trên tay T chạy lại chém K1 thì
bị trượt chân ngã xuống đất, H4 bị K1 chém một cái trúng vào đầu. Bị chém, H4
chồm người dậy vung dao lên chém 2-3 cái trúng vào tay, người của K1 thì K1
bỏ chạy. Lúc này, T lấy một khúc cây gỗ khô dài khoảng 60cm, đường kính 03-
04 cm bên đường chạy đến chỗ K1 thì bị K1 cầm dao chém nhưng không
trúng. K1 trượt chân ngã, văng dao ra ngoài nên T nhặt con dao của K1. K1
đang khom người đứng dậy thì bị T dùng dao chém một cái vào đầu và nhiều cái
vào người. K1 ngã nằm xuống đất, T tiếp tục dùng chân đá hai cái trúng vào đầu
K1. Lúc này S giằng co con dao với K thì làm con dao rớt xuống gây thương
tích phần gót chân trái của K. Sau đó, H4 cầm dao chạy đến chém K hai cái
trúng vào đầu, tay K và cũng bị K chém lại trúng bàn tay trái.
N và chị Phùng Thị A mặt can ngăn nên H4 không đánh K nữa. T
sau khi đá K1, T nhìn về phía K thấy K đang quỳ gối xuống đường được
N đang đỡ dậy thì T cầm dao chạy qua chỗ K và dùng cán dao đánh nhiều cái
vào đầu K, bà N can ngăn nên T không đánh K nữa. Sau đó ông M, H4, K1 và K
được mọi người đưa đi cấp cứu, chữa trị tại bệnh viện.
Kết luận giám định thương tích của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ:
+ Thương tích của Đỗ Trọng M: gãy hở 1/3 trên xương trụ trái cộng với trật
khớp đầu xương quay, hạn chế vận động, tỷ lệ 21%. Sẹo vết thương phần mềm
khuỷu phải, ảnh hưởng cơ năng khớp khuỷu, tỷ lệ 10%, cộng lùi 08%. Sẹo vùng
đầu 02%, cộng lùi là 01%. Tổng tỷ lệ thương tật 30%.
4
+ Thương tích của Đỗ Trọng H4: sẹo vết thương phần mềm, tỷ lệ 03%.
Cứng một khớp liên đốt ngón IV, tỷ lệ 03%. Tổng tỷ lệ thương tật 06%.
+ Thương tích Nguyễn Văn K: đứt gân gót chân không nắn gân, tỷ lệ 15%.
Đa sẹo vết thương phần mềm, tỷ lệ 06%, cộng lùi 05%. Tỷ lệ thương tật 20%.
+ Thương tích Nguyễn Văn K1: cứng khớp liên đốt ngón 3, tỷ lệ 08%. Sẹo
vết thương phần mềm, tỷ lệ 06%, cộng lùi 06%. Mất đốt 02 03 ngón 5, tỷ lệ
05%, cộng lùi 04%. Cứng khớp liên đốt ngón 3, tỷ lệ 03%, cộng lùi 02%. Gãy
đầu dưới xương cánh tay, tỷ lệ 03%, cộng lùi 02%. Tổng tỷ lệ thương tật 22%.
- Tại Kết luận giám định pháp y lần đầu của P tại Thành phố Hồ Chí Minh,
kết luận:
+ Thương ch của Đỗ Trng M như sau: sẹo đỉnh chm trái; so sau ngoài
khuu phi; sẹo sau khuỷu cng tay trái; sẹo mổ mào chậu trái, sẹo m cng chân
trái; y 1/3 trênơng tr trái; khuyếtơngnh chậu phải do phu thut. Tổng
tỷ l tổn thương cơ thể do thương tích gây n tại thời điểm gm đnh 60%.
+ Thương tích của Đỗ Trọng H4 như sau: sẹo đỉnh trán trái, ba sẹo ngón IV
bàn tay trái; mẻ bản ngoài xương sọ vùng đỉnh trán trái. Tổng tỷ lệ tổn thương
cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định 10%.
+ Thương tích của Nguyn n K1: các sẹo vùng đầu; sẹo trước ngoài 1/3
cẳng tay phải; sẹo ngón II, III, IV bàn tay trái; đứt gân gấp cổ tay quay phải; sẹo
ngoài khuỷu tay phải; gãy lồi ngoài cầuơng cánh tay phải, đứt một phần cơ nhị
đầu cánh tay; mỏm cụt ngón V bàn tay trái; mẻ đốt 1 ngón IV bàn tay trái. Tổng
tỷ lệ tổn tơng cơ thể do thương tíchyn tại thời điểm giám định 36%.
+ Thương tích của Nguyễn Văn K: 03 sẹo vùng đầu; sẹo lồi vai phải gây
đứt gân gãy mỏm cùng vai; sẹo cổ gót chân trái gây đứt gân Achille; sẹo
rãnh mũi; sẹo bàn chân phải. Tổng tỷ lệ tổn thương thể do thương tích gây
nên tại thời điểm giám định 28%.
- Tại Kết luận giám định pháp y lần II của P tại Thành phố Hồ Chí Minh,
kết luận:
+ Thương tích của Đỗ Trọng M: 03 sẹo kích thưc lớn (so sau ngoài khuỷu
phải; sẹo sau khuỷu - cẳng tay trái; sẹo mổ o chậu trái) nh hưởng thẩm mỹ và
01 sẹo vùng đỉnh chẩm ti; y 1/3 trênơng trụ ti; cốt tủy viêm mãn tính vùng
khuỷu trái; khuyết xương nh chậu phải do phẫu thuật. Tổng t lệ tổn thương cơ
thdo thương tích y nên tại thời điểm gm định 54%.
5
+ Thương tích của Đỗ Trọng H4: sẹo đỉnh trán trái, 03 sẹo ngón IV bàn tay
trái; mẻ bản ngoài xương sọ trán trái. Tổng tlệ tổn thương thể do thương
tích gây nên tại thời điểm giám định 10%.
+ Thương tích của Nguyễn Văn K1: nhiều sẹo phần mềm vùng đầu bàn
tay trái kích thước nhỏ, trung bình sẹo bên tai phải kích thước trung bình
lớn; mẻ lồi cầu ngoài xương cánh tay phải; cụt đốt 1 ngón V; mẻ đốt 1 ngón IV;
đứt gân gấp cổ tay. Tổng tỷ lệ tổn thương thể do thương tích gây nên tại thời
điểm giám định 26%.
+ Thương tích của Nguyễn Văn K: nhiều sẹo phần mềm ch thước lớn; đứt
n Achille, không bị ngắn n; tổn thương đầu xa xương đòn phải đã can ơng.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thdo thương tích gây nên tại thời điểm giám định 28%.
Các Bản kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) của Trung tâm
Pháp y tỉnh Đ (nay tỉnh Lâm Đồng) kết luận thương tích của Nguyễn Văn K1
Nguyễn Văn K do bị chém bằng vật sắc; vết thương đầu của Đỗ Trọng H4 bị
chém bằng vật sắc, các vết thương nhỏ tại ngón 4 bàn tay trái do tác động của
vật tày cạnh hoặc bề mặt các mấu nối; các vết thương của Đỗ Trọng M bị
chém bằng vật sắc.
Tại Công văn của P tại Thành phố Hồ Chí Minh trả lời:
- Việc khuyết xương cánh chậu trái do kỹ thuật điều trị lấy xương đ
ghép phần xương khuyết cánh tay do bị gãy. Do vậy, khuyết xương cánh chậu
trái vẫn được tính tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Đỗ Trọng M.
- Theo hồ bệnh án của Nguyễn Văn K1 ghi nhận: Khanh bị vết thương
đốt II ngón V tay trái trên nền mỏm cụt cũ, không đủ da che phủ vết thương;
phẫu thuật viên đã gặm bỏ bớt xương đốt I ngón V, làm sạch vết thương tạo
hình mỏm cụt mới. Như vậy, tổn thương này được tính trong tổng tỷ lệ tổn
thương cơ thể ca ông Nguyễn Văn K1.
- Tỷ lphần trăm tổn thương thể đối với thương tích đứt gân Achille tại
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích Bản kết luận giám định pháp y
về thương tích lần II của Phân viện Pháp y quốc gia tại thành phố HChí Minh
là 13%.
Tại Bản án hình sự thẩm số 69/2026/HS-ST ngày 26-6-2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng quyết định: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K
Nguyễn Văn K1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3
6
Điều 134; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự,
xử phạt Nguyễn Văn KNguyễn Văn K1 mỗi bị cáo 03 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo khác,
quyết định về việc xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 10-7-2026, bị hại Đỗ Trọng M kháng cáo đề nghị không áp dụng
Điều 54 của Bộ luật Hình sự tăng hình phạt đối với Nguyễn Văn K
Nguyễn Văn K1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm:
Trong vụ án, Nguyễn Văn K Nguyễn Văn K1 vừa bị cáo vừa bị hại,
nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được bị hại xin giảm nhẹ hình
phạt nên Tòa án cấp thẩm xử phạt các bcáo 03 năm 06 tháng là phù hợp,
đúng quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của bị hại Đỗ Trọng M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Vhành vi
của Nguyễn Văn K Nguyễn Văn K1 phạm tội tính chất n đồ nhưng Tòa
án cấp thẩm không áp dụng đối với các bị cáo thiếu sót; tại phiên tòa
Nguyễn Văn K1 không thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xkhông
áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt đối với các bị cáo.
Bị hại đồng ý với quan điểm đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại.
Các bị cáo không bào chữa, tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị hại Đỗ Trọng M nộp trong
thời hạn theo quy định của pháp luật. Người kháng cáo, thủ tục kháng cáo
thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333
của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Vtội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà bản phù hợp với
lời khai tại quan điều tra các chứng cứ khác nên căn cứ xác định:
7
Khoảng 17 giờ ngày 27-9-2013, tại thôn Q, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay
thôn Q, K, tỉnh Lâm Đồng), do mâu thuẫn việc chia tài sản sau ly hôn nên
giữa Nguyễn Văn K Đỗ Thị H xảy ra xát, dẫn đến hai bên gia đình dùng
dao gậy đánh nhau tại khu vực ngã ba B, thôn Q. Nguyễn Văn K, Nguyễn
Văn K1 hành vi dùng dao “là hung khí nguy hiểm” chém ông M, gây tổn
thương thể 54%, chém Đỗ Trọng H4 gây tổn thương thể 10%. Đỗ Trọng
H4Đỗ Trọng T sử dụng dao “là hung khí nguy hiểm” chém Nguyễn Văn K1
Nguyễn Văn K, gây tổn thương thể cho K1 26% K 15%. Do đó, Bản
án hình sự sơ thẩm số 69/2026/HS-ST ngày 26-6-2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 7 - Lâm Đồng kết án Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn K1 phạm tội “Cố ý
gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự căn
cứ và đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của bhại Đỗ Trọng M đề nghị không áp dụng Điều 54
của Bộ luật Hình sự tăng hình phạt đối với Nguyễn Văn K Nguyễn Văn
K1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1]. Qtrình điều tra, truy tố xét xử, Nguyễn Văn K thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đối với Nguyễn Văn K1 không thừa
nhận hành vi dùng dao gây thương tích cho bị hại Đỗ Trọng M. Tuy nhiên, trong
hồ sơ đã chứng minh được hành vi phạm tội của Nguyễn Văn K1 đồng phạm với
Nguyễn Văn K và có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm
tội của mình, đồng thời các bị o đã tự nguyện nộp 20.000.000 đồng khắc phục
một phần hậu quả đồng ý toàn bộ yêu cầu bồi thường thiệt hại 350.000.000
đồng theou cầu của bị hại Đỗ Trọng M. Tại giai đoạn sơ thẩm, bị hại Đỗ Trọng
M, Đỗ Trọng H4 Đỗ Trọng T xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên cấp
thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự làcăn cứ.
[3.2]. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn K Nguyễn Văn K1 tính
chất côn đồ” đã được quy định tình tiết định khung hình phạt quy định tại
khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự nhưng Tòa án cấp thẩm không áp
dụng thiếu sót. Tuy nhiên, xét toàn bộ nội dung vụ án thấy rằng, bị cáo
Nguyễn Văn K Nguyễn Văn K1 đều bị thương tích (K1 bị tổn thương thể
26%, K bị tổn thương thể 15%), vừa bị cáo nhưng cũng bị hại trong vụ
án nên cấp thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp
dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt mỗi bị cáo 03 năm 06 tháng tù là phù
hợp với tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả nhân thân của các bị cáo. Do đó,
không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại Đỗ Trọng M.
8
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng có căn
cứ nên chấp nhận.
[5]. Đối với các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pp luật, kể từ ny hết thời hạn kháng o, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
không chấp nhận kháng cáo của bị hại Đỗ Trọng M, ginguyên Bản án hình sự
thẩm số 69/2026/HS-ST ngày 26-6-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 -
Lâm Đồng về hình phạt.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K Nguyễn Văn K1 phạm tội “Cố ý
gây thương tích”.
1.1. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn K 03 (Ba)
năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt tạm
giam ngày 26-6-2025, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam ngày 24-6-
2014 đến 17-11-2014.
1.2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn K1 03 (Ba)
năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt tạm
giam ngày 26-6-2025, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam ngày 24-6-
2014 đến 05-08-2014.
2. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC (Vụ I);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng HSNV Công an tỉnh Lâm Đồng;
- CQCSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng;
- CQTHAHS Công an tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 7 - Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 7 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 7 - Lâm Đồng;
- Các bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: Tổ HCTP, HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Võ Văn Vinh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 217/2026/HS-PT Bản án số 217/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 217/2026/HS-PT Bản án số 217/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất