Bản án số 17/2026/HS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Lai Châu về phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 17/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 17/2026/HS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Lai Châu về phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Tội danh: 244.Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lai Châu
Số hiệu: 17/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Chấp nhận 01 phần kháng cáo giảm hình phạt cụ thể giảm từ 01 năm 06 tháng xuống còn 01 năm 03 tháng cho bị cáo do có tình tiết mới
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 17/2026/HS-PT Bản án số 17/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 17/2026/HS-PT Bản án số 17/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU
Bản án số: 17/2026/HS-PT
Ngày 07.9.2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Giang Thị Vượng;
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Hòa
Ông Vũ Đức Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa Nguyễn
Huy Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu mở
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2026/TLPT-HS
ngày 15 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối
với bản án hình sự sơ thẩm số: 127/2026/HS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 4 – Lai Châu. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
18/2026/QĐXXPT- HS ngày 31/8/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số
29/2026/HSPT-QĐ ngày 14 tháng 8 năm 2026
- Bị cáo có kháng cáo: Lê Văn T, sinh năm 1984, tại xã T, tỉnh Lào Cai; Nơi
ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố X, phường T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao
động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân
tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn
H (đã chết) con bà An Thị T1, sinh năm 1938; Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị H1, sinh
năm 1988 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2020;
Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2011 Công an thị xã L, tỉnh Lai Châu xử
phạt vi phạm hành chính về hành vi "Đánh bạc". Năm 2013, Phòng Cảnh sát điều
tra tội phạm về TTXH Công an tỉnh L xử phạt hành chính về hành vi "Đánh bạc".
Hiện các lần xử phạt hành chính đều đã được xóa tiền sự. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ
ngày 01/02/2026 đến ngày 04/02/2026 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi
khỏi nơi cư trú tại phường T, tỉnh Lai Châu đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 01/02/2026, Lê Văn T điều
khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 25B1-814.98 (xe thuộc quyền
sở hữu của Chim Thị N) đi đến Bệnh viện K để đón Chim Thị N đang chăm người
ốm tại bệnh viện.
Khoảng 05 giờ cùng ngày, tại khu vực gần cổng bệnh viện, T gặp một người
đàn ông tự giới thiệu tên P, trú tại xã T, tỉnh Lai Châu. Qua trao đổi, T mua của
người này 01 cá thể Sơn dương đã chết (không còn nội tạng, không có 02 chi sau
phần thân sau) được cho vào trong một bao tài màu cam và 02 cá thể mèo rừng đã
chết (Gồm 01 cá thể còn nguyên nội tạng bên trong, đã bị cắt bỏ 01 chi trước bên
trái; 01 cá thể đầy đủ chi và nội tạng bên trong) được bọc bằng 02 lớp túi nilon, lớp
bên trong màu xanh, lớp bên ngoài màu trắng với giá 4.300.000 đồng nhằm mục
đích mang về chế biến làm thức ăn. Sau khi mua được số động vật trên, T đặt tại sàn
để chân phía trước của xe mô tô do T điều khiển rồi đợi N.
Quá trình đón Chim Thị N, T không nói cho N biết việc T vừa mua số động
vật nêu trên, không cho N xem bên trong bao tải và túi nilon chứa động vật; N cũng
không hỏi T về đồ vật để trên xe mô tô. Sau khi đón Chim Thị N, T2 điều khiển xe
mô tô chở N cùng số động vật nêu trên di chuyển theo hướng về xã B, tỉnh Lai Châu.
Đến hồi 05 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực Thôn H, xã B, tỉnh Lai
Châu, thì bị Tổ công tác Công an tỉnh L chủ trì, phối hợp với Công an xã B, tỉnh Lai
Châu phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên xe của T điều khiến 01 bao tải màu cam
chứa phần đầu, phần thân và 02 chi trước của cá thể S cùng 01 túi nilon màu trắng,
bên trong có 01 túi nilon màu xanh chứa 02 cá thể mèo rừng.
Kết quả giám định số 05/2026/BTTNVN ngày 02/02/2026 của Viện Hàn lâm
Khoa học và C1 kết luận:
1. Kết quả:
Mẫu động vật đã chết bao gồm phần đầu, phần thân và 02 (hai) chi trước,
không còn nội tạng, không có 02 (hai) chi sau phần thân sau là cá thể loài Sơn dương,
có tên khoa học C milneedwardsii.
- Mẫu động vật đã chết còn nội tạng bên trong, đã bị cắt bỏ 01 (một) chi trước
bên trái và mẫu động vật đã chết còn đầy đủ chi và nội tạng là các cá thể mèo rừng,
có tên khoa học là P1 bengalensis.
2. Kết luận:
03 (ba) động vật giám định bao gồm 01 cá thể Sơn dương có tên khoa học là
C milneedwardsii và 02 cá thể Mèo rừng, có tên khoa học là P1 bengalensis.
3
Loài Sơn (C2) nằm trong Danh mục loài, nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên
bảo vệ và Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB
được quy định tại Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT ngày 31/12/2025 quy định về
quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công
ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã.
- Loài Mèo rừng (Prionailurus bengalensis) không thuộc Danh mục loài, nguy
cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; nằm trong Danh mục thực vật, động vật rừng
nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB được quy định tại Thông tư số 85/2025 ngày
31/12/2025 quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông
thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang
dã nguy cấp.
Tại Thông báo số: 11/TB-HĐĐGTS ngày 13/3/2026 của Hội đồng định giá
tài sản - Ủy ban nhân dân tỉnh L về việc từ chối thực hiện định giá tài sản kết luận:
Căn cứ hồ sơ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L cung cấp kèm
theo Yêu cầu định giá số: 2137/YC-CSKT ngày 26/02/2026 và kết quả khảo sát, thu
thập thông tin của các thành viên Hội đồng định giá đối với tài sản cần định giá; qua
xem xét, xác định hiện nay đối với loài M rừng (P2) không có thông tin về giá trên
thị trường. Do vậy, Hội đồng định giá không có đủ cơ sở và điều kiện cần thiết để
thực hiện việc định giá đối với tài sản nêu trên. Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 13
Nghị định 250/2025/NĐ-CP ngày 22/9/2025 của Chính phủ quy định chi tiết về việc
thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài
sản trong tố tụng hình sự. Hội đồng định giá quyết định từ chối thực hiện việc định
giá tài sản theo Yêu cầu định giá số: 2137/YC-CSKT ngày 26/02/2026 của Cơ quan
Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L.
Bản án hình sự sơ thẩm số127/2026/HS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 – Lai Châu đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 244; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38;
Điều 50 Bộ luật Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ
động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Hình phạtXử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06
(sáu) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ 03 (ba) ngày tạm giữ, từ ngày 01/02/2026 đến
ngày 04/02/2026. Thời hạn tù còn lại tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành ánKhông
áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng. Áp dụng Điều 47 luật sự; Điều 106 Bộ luật tụng hình
sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 bao tải màu cam, đã qua sử dụng; 01 túi nilon màu xanh,
đã qua sử dụng; 01 túi nilon màu trắng, đã qua sử dụng; 01 cá thể Sơn dương đã chết
gồm phần đầu, phần thân, 02 chỉ trước không tách rời (bị mổ bụng không có nội tạng
đã bị cắt bỏ phần thân sau và 02 chi sau) có khối lượng 35 kg; 01 cá thể Mèo rừng
đã chết có khối lượng 2,2 kg đầy đủ nội tạng bên trong, đã bị cắt bỏ 01 chi trước; 01
cá thể Mèo rừng đã chết có khối lượng 2 kg đầy đủ nội tạng bên trong.
4
Trả lại cho chị Chim Thị N 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vison màu trắng nâu
đen, biển kiểm soát 25B1-814.98, số khung: RLHJK0314MY531230, số máy:
JK03E2437904,xe cũ đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe
gắn máy số 25 006011 mang tên chủ xe Chim Thị N, biển số 25B1-814.98.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên vềán phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/6/2026, bị cáo Lê Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt, bị cáo xin hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa trình bày
quan điểm: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn T được làm trong thời hạn, đúng hình
thức, nội dung và thủ tục theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố
tụng hình sựVề nội dung kháng cáo: Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Lê Văn
T, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tuyên phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu)
tháng tù là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị
cáoTại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu là Giấy biên nhận tiền ủng hộ,
hỗ trợ khắc phục thiệt hại do bão, lũ tại xã M, tỉnh Lai Châu với số tiền 10.000.000
đồng, có xác nhận của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã M. Đây là tình tiết
mới cần được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáoDo
đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo
của bị cáo Lê Văn T, xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt đã tuyên tại bản
án sơ thẩm. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và
cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành
tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định
của Bộ luật tụng hình sự; trước khi mở phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có ý kiến
gì.Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đều
hợp pháp.
[1.2]Kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định. Thông báo
về việc kháng cáo của Tòa án nhân dân khu vực 4– Lai Châu được ban hành đúng
5
quy định tại Điều 338 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét vụ
án theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấyVề
hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn T khai nhận
hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan
điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật
chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ căn cứ xác định: Hồi 05 giờ 20 phút ngày
01/02/2026, tại khu vực Thôn H, xã B, tỉnh Lai Châu, Lê Văn T có hành vi vận
chuyển trái phép 01 cá thể S đã chết, gồm phần đầu, phần thân và 02 chi trước,
không còn nội tạng và 02 chi sau, có tên khoa học là C milneedwardsii, thuộc loài
động vật nguy cấp, quý, hiếm được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo bị Tổ công
tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L phối hợp với Công an xã B phát hiện,
bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp,
quý, hiếm của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và công tác bảo
tồn đa dạng sinh học. Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn
T về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm b
khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật. Do đó, không có căn cứ để xem xét lại tội danh và điều khoản áp dụng đối với
bị cáoVề tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định
trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều
51 Bộ luật Hình sự là có căn cứTại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm Giấy biên
nhận tiền ủng hộ, hỗ trợ khắc phục thiệt hại do bão, lũ tại xã M, tỉnh Lai Châu với
số tiền 10.000.000 đồng, có xác nhận của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã M.
Đây là tài liệu được bị cáo xuất trình tại cấp phúc thẩm và thể hiện bị cáo có hành
động đóng góp, hỗ trợ cộng đồng, khắc phục hậu quả do thiên tai. Đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét tình tiết này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét
thấy, mặc dù hành động ủng hộ, hỗ trợ khắc phục thiệt hại do bão, lũ không phải là
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự, nhưng thể hiện thái độ tích cực, ý thức trách nhiệm của bị cáo đối với
cộng đồng và có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51
Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần ghi nhận đây là tình tiết mới có lợi cho bị cáo cần áp
dụng ở cấp phúc thẩm.
Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Văn T, Hội đồng xét
xử phúc thẩm xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm
phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ; tính chất, mức độ hành vi phạm
6
tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được xem
xét cho thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng
tù là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và yêu cầu xử lý đối
với bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
nên có cơ sở giảm một phần hình phạt cho bị cáo; tuy nhiên, xét tổng thể tính chất,
mức độ hành vi phạm tội và các yếu tố liên quan, chưa có căn cứ để chấp nhận kháng
cáo xin được hưởng án treo của bị cáo. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử
phúc thẩm có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Văn T, sửa bản
án hình sự sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu)
tháng tù xuống còn 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; không chấp nhận kháng cáo xin
hưởng án treo của bị cáo. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có
căn cứ và được chấp nhận, Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt 01 (một) năm
03 (ba) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị
cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được xem xét tại cấp phúc thẩm.
[3] Đối với hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan,
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá và
quyết định có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; không có kháng cáo, kháng nghị
đối với các nội dung này và không có căn cứ để xem xét lại. Do đó, Hội đồng xét xử
phúc thẩm giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt bổ sung, xử
lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan.
[4] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Lê Văn T được Hội đồng xét xử chấp
nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định
của pháp luật.
Bị cáo được chấp nhận một phần kháng cáo nên không phải chịu án phí phúc
thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có khángcáo, kháng nghị,
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng
hình sự:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Văn T và sửa Bản án hình sự sơ
thẩm số: 127/2026/HS-ST ngày 09/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lai
Châu cụ thể như sau: Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 244; điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 -Bộ luật sự.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật
7
nguy cấp, quý, hiếm”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ
03 (ba) ngày tạm giữ, từ ngày 01/02/2026 đến ngày 04/02/2026.
Thời hạn tù còn lại tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Không áp dụng hình
phạt bổ sung đối với bị cáo
3. Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận, bị cáo không phải chịu án phí Hình
sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số: 127/2026/HS-ST ngày
09/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lai Châukhông có khángcáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án 07/9/2026./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- TAND Khu vực 4 Lai Châu;
- VKSND Khu vực 4- Lai Châu;
- Trại tạm giam CA tỉnh Lai Châu;
- PV06; PC10 CA tỉnh;
- Phòng THADS Kv 4- Lai Châu;
- CQTHAHS Công an tỉnh Lai Châu;
- Bị cáo; Người liên quan
- Lưu HSVA, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Giang Thị Vượng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 17/2026/HS-PT Bản án số 17/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 17/2026/HS-PT Bản án số 17/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất