Bản án số 08/2026/DS-PT ngày 17/03/2026 của TAND tỉnh Điện Biên về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 08/2026/DS-PT ngày 17/03/2026 của TAND tỉnh Điện Biên về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Điện Biên
Số hiệu: 08/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T và bị đơn bà Chu Thị H, Chu Thị T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 08/2026/DS-PT
Ngày: 17/3/2026
V/v Tranh chấp về bồi thường thiệt hại
do danh dự, nhân phẩm, uy tín, tinh
thần, sức khỏe bị xâm phạm
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương
Các Thẩm phán: Ông Trương Anh Tuấn
Phạm Thị Thu H
- Thư phiên tòa: Bà Ngô Th Hạnh - Thư ký Tòa án nn n tỉnh Đin Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Khánh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 13/2026/TLPT-DS ngày 06
tháng 01 năm 2026 về Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tinh thần, sức khỏe bị xâm phạm.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 25/11/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực X - Điện Biên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2026/QĐ-PT ngày 19 tháng 01
năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 08/2026/-PT, ngày
04/02/2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 15/2026/QĐ-PT, ngày
04/02/2026; Thông báo về việc thay đổi thời gian mlại phiên tòa số 06/TB-TA
ngày 05/3/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1975. Địa chỉ: Phố 01,
Thanh Minh, thành phố Đ (nay phố 01, phường Đ), tỉnh Điện Biên (Có
mặt).
2. Bị đơn:
2.1. Chu Thị H, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số nhà 26, tổ dân phố 02,
phường T3, thành phố Đ (nay số nhà 26, tổ 02, phường Đ), tỉnh Điện Biên
(Vắng mặt).
2.2. Bà Chu Thị T1 (tên gọi kc: Chu Thị T2), địa chỉ: Số n 63B, tổ dân
ph4, phường M, thành ph Đ (nay Số nhà 63B, tổ 4, phường Đ), tỉnh Điện
Biên (Vắng mặt).
2
* Người đại diện theo y quyền của bà Chu Thị H Chu Thị T1: Bà
Vũ Thị N, địa chỉ: Số nhà 154, tổ 09, pờng T0, tnh phố Đ (nay là Số nhà 154,
tổ 9, pờng Đ), tỉnh Điện Biên (Có mt).
2.3. Ông Hoàng T4, địa chỉ: Số nhà 26, tổ 02, phường T3, thành phĐ (nay
snhà 26, tổ 02, phường Đ), tỉnh Điện Biên (Vắng mặt)
2.4. Ông n T5, địa chỉ: Đội 08, N, huyện Đ (nay Thanh An),
tỉnh Đin Biên (Vng mặt).
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn Phạm Thị Thanh T bị đơn bà Chu
Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2024 các văn bản trình bày ý kiến của
nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên
tòa sơ thẩm, Phạm Thị Thanh T trình bày:
Do bà T muốn sửa nhà nên lên mạng tìm kiếm, thấy số điện thoại của
anh Văn T5 nên chủ động liên hvới anh T5 để thuê anh T5 sửa nhà. Lúc
đầu T bảo ông T5 làm khung nhà mái tôn tầng 2 và anh T5 đồng ý. Do khối
lượng công việc nhỏ, hai bên không làm hợp đồng giấy tờ chỉ thỏa thuận
miệng với nhau. Thực tế, phần khung nhà mái tôn tầng 2 anh T5 đã làm xong, bà
T định thuê anh T5 sửa tiếp hạng mục khác trong nhà nhưng do bận công việc
nhân nên T bảo anh T5 dừng lại, không sửa hạng mục khác nữa. Trước đó bà
T đã ứng 88 triệu đồng cho anh T5 để mua vật liệu cũng như trả tiền nhân công.
T bảo anh T5 khi nào bố trí được thời gian, T lên Điện Biên thì sẽ
gọi anh T5 đến nghiệm thu để xem tiền công n thừa thiếu thế nào. Sau đó anh
T5 đến nhà T mấy lần để tất toán công trình nhưng không gặp, hai bên
nhắn tin, gọi điện trao đổi nhưng không thống nhất được. Anh T5 có nhắn là chị
đưa thêm 03 triệu đồng, từ nay em không hỏi nữa. Do bận việc cá nhân nên bà T
chưa kịp trả lời tin nhắn của anh T5. Mấy ngày sau thì anh T5 đã đăng bài đòi
nợ T lên mạng xã hội tại trang Chợ Điện Biên. Sau đó, bà H1 (bạn Chu
Thị H) gọi điện gửi anh chụp màn hình điện thoại bài đăng của H trên
mạng zalo nói: “Chị H nhờ em gửi hình này thông báo để chị biết”. Do
không quen biết H, nên bà H1 đã gửi Facebook cho T để bà T xem những
bài H về bà T. T vào Facebook của bà H thì thấy mấy bài đăng, chia sẻ
vào nhóm chợ Điện Biên trang Facebook của H; ông T5 chia sẻ vào
Facebook của H, ông T4 một số người khác với nội dung: Đăng hình ảnh
của T, sở kinh doanh của T, tin nhắn về công nợ giữa T và ông T5
trong thời gian ông T5 sửa chữa nhà nghỉ cho T (do ông T5 chụp màn hình
cung cấp cho bà H). Việc chia sẻ gắn tên nhiều người, làm mọi người hiểu sai sự
thật, vào bình luận với những lời lxúc phạm, bêu xấu bà T nhà nghỉ của
T, làm mất danh dự, uy tín của T. H còn gọi điện đe dọa T mình
chuyên đi bóc phốt” người khác, gửi hình ảnh đã làm với những người khác để
dọa bà T. T đã yêu cầu H gỡ bài nhưng H vẫn tiếp tục đăng, chia sẻ
nhiều hơn hình ảnh cá nhân, nhà nghỉ của bà T. Ngày 03/10/2023, bà H, ông T4
và bà Tủy còn đến nhà nghỉ của bà T nng chỉ có ông ĐVăn Lâm (nhân viên
3
nhà nghỉ) ở nhà; ba người này đã có hành vi chửi và dọa tát bà T. Khi biết những
sự việc tn, T bị ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, tinh thần bị suy sụp, phải
nhờ bác sĩ đến nhà điều trị.
Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2024 đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi
kiện, bà T yêu cầu:
- H bồi thưng cho bà T tổng s tiền 1.000.000.000 đồng, gồm: Danh dự,
nhân phẩm 500.000.000 đồng; tinh thần, sc khỏe 500.000.000 đồng.
- Bà T2 (T1) phải xin lỗi công khai đối với bà T.
Ngày 05/05/2025, bà T gửi cho Tòa án đơn khởi kiện bổ sung; yêu cầu Tòa
án giải quyết bổ sung:
- Ông Văn T5 bồi thường cho T tổng số tiền 1.000.000.000 đồng;
gồm: Danh dự, nhân phẩm là 500.000.000 đồng; tinh thần, sức khỏe
500.000.000 đồng.
- Ông Hoàng T4 bồi thường cho T về danh dự, nhân phẩm
500.000.000 đồng.
Ngày 03/11/2025, Chu Thị T2 nộp đơn xin rút lại toàn bộ yêu cầu phản
tố đối với bà T. Cùng ngày bà T ng nộp đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện
đối với bà Chu Thị T2.
Đến ngày 05/11/2025, tại biên bản lấy lời khai bà T xin t lại toàn bộ yêu
cầu khởi kiện đối với ông Hoàng T4 về việc buộc ông Hoàng T4 bồi thường về
danh dự nhân phẩm là 500.000.000 đồng. Bà T chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết đối
với hai nội dung sau:
- Đề nghị Tòa án buộc Chu Thị H bồi thường về danh dự nhân phẩm
500.000.000 đồng bồi thường về tinh thần sức khỏe 500.000.000 đồng, tổng
cộng là 1.000.000.000 đồng cho bà Phạm Thị Thanh T.
- Đề nghị Tòa án buộc ông Văn T5 bồi thường về danh dự nhân
phẩm 500.000.000 đồng bồi thường về tinh thần sức khỏe 500.000.000 đồng,
tổng cộng là 1.000.000.000 đồng cho bà Phạm Thị Thanh T.
Tại phiên tòa, T vẫn giữ các ý kiến đã trình bày trước tòa, T xin rút
lại yêu cầu khởi kiện đối với ông Hoàng T4 Chu Thị T2 (T1). Bà T chỉ đề
nghị Tòa án giải quyết hai yêu cầu đối với Chu Thị H anh Văn T5.
Trong đó, buộc H anh T5 mỗi người phải bồi thường cho T số tiền
1.000.000.000 đồng, gồm: bồi thường về Danh dự, nhân phẩm 500.000.000
đồng; bồi thường về tinh thần, sức khỏe là 500.000.000 đồng. Tại phiên tòa ngày
25/11/2025, bà T có cung cấp thêm bản gốc Giấy bên nhận của cửa hàng phô tô
T6 đề ngày 25/11/2025 nội dung: in ẩn, phô giấy tờ ảnh, số tiền
10.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, các
bị đơn trình bày:
* Chu Thị H trình bày:
4
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn T: H ruột của cháu
T5 (người sửa nhà cho T), giữa T cháu T5 vướng mắc, nợ nần nhau
trong công việc làm ăn, cháu T5 nói lại với H. giữa cháu T5 T
không nói chuyện được với nhau nên cháu T5 nhờ hẹn gặpT để nghiệm thu
và thanh toán tiền với nhau nhưng T không gặp. Những tin nhắn của bà H cho
T chỉ xoay quanh việc này, không lời lẽ chửi bới, xúc phạm T. Bà H
đến nhà nghỉ của T hay không, bà H không nhớ, vì bà T làm nhà nghỉ cũng
thể bà H đến gặp gỡ c mối quan hệ làm ăn. Một số bản nh T nộp cho
Tòa án H không xem được nên không biết nội dung gì. H chia sẻ bài viết
của cháu T5 vì nội dung chỉ có nói mong bà T trả tiền T5 làm thuê cho bà T, việc
chưa thanh toán tiền ng thật. vậy H không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của bà T.
- Đối với yêu cầu phản tố: Trong đơn khởi kiện T nói bà H nhờ bà H1 gửi
hình ảnh cho T xem nội dung những bài đăng của H. Nhưng thực tế T
còn nói xấu bà H với H1, cụ thể T bảo H như con ngáo đá, vu khống
H chửi bới, xúc phạm T; đăng lên mạng kêu gọi mọi người tố o H để lấy
thêm chữ gửi ra công an; quy chụo H uy hiếp, đe dọa, bắt nạt người khác;
sử dụng hình ảnh của H mà T trích từ camera đăng trên mạng hội... làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, tinh thần sức khỏe của
H.
H yêu cầu T bồi thường cho H về danh dự, nhân phẩm, uy tín
500.000.000 đồng; về sức khỏe (tinh thần, thể chất) là 500.000.000 đồng.
Tại phiên tòa thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà H vẫn giữ
nguyên yêu cầu phản tố các ý kiến đã trình bày trước tòa, không cung cấp
thêm tài liệu chứng cứ mới nào.
* Chu Thị T2 (T1) trình bày:
- Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T: T2 không quen biết T; không
li nói bịa đặt, xuyên tạc, vu khống bà T. Trong đơn khởi kiện T nói
H1 nói với T T2 chị gái H nói xấu tôi là con nọ, con kia... bằng
những ngôn từ bịa đặt, xuyên tạc, vô văn hóa”; là hoàn toàn bịa đặt. T1 cũng
không đi đòi nợ thuê như H nói trong đơn, nếu việc tôi đến nhà nghcủa
T thì cũng không phải việc này. vậy tôi không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của bà T.
- Yêu cầu phản tố: T2 không thực hiện những việc như T đã nói
trong đơn khởi kiện như vậy T đã vu khống cho bà T2, đưa thông báo thụ
vụ án lên mạng xã hội nhằm bôi nhọ T2, làm ảnh hưởng xấu đến danh dự,
nhân phẩm của T2; m T2 sa sút về tinh thần và ảnh hưởng xấu đến sức
khỏe. T2 yếu cầu T bồi thường cho T2 danh dự, nhân phẩm, uy tín
250.000.000 đồng; sức khỏe (tinh thần, thể chất là 250.000.000 đồng).
Ngày 03/11/2025, bà T2 có đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố đối với bà T tại
thông báo thụ lý yêu cầu phản tố số 46 ngày 11/3/2025.
Tại phiên tòa thẩm, người đại diện theo ủy quyền của T2 giữ nguyên
5
ý kiến rút toàn bộ yêu cầu phản tố đối với bà T và cũng không cung cấp thêm tài
liệu chứng cứ mới nào.
* Ông Quang T5 trình bày: Ông T5 cháu ruột gọi T2 H
bằng cô. Trước đây T thuê ông T5 làm nhà khung sắt mái lợp tôn cho
T, hai bên chỉ thỏa thuận không văn bản giấy tờ gì. Căn cứ vào diện tích xây
dựng đtính thành tiền 98.000.000 đồng, T đã trả cho ông T5 88.000.000
đồng, còn 10.000.000 đồng T nợ lại, nói khi nào sẽ trả. Ông T5 đã nhiu
lần đến nhà, gọi điện, nhắn tin cho bà T để đòi số tiền còn thiếu, nhưng không có
kết quả. không gặp được T, trước đó cũng kng quan hệ quen biết
nên ông T5 đành phải đăng lên mạng để T biết được, phản hồi lại anh T5 để
hai bên thanh toán nốt tiền ng nợ cho nhau. Anh T5 không có lời lẽ xúc phạm,
bôi nhọ danh dự nhân phẩm uy tín của bà T cũng không nhờ ai chia sẻ bài viết
của mình trên mạng hoặc có tác động gì về việc này.
* Ông Hoàng T4: Ông T4 không trả li thông báo thụ vụ án, vắng mặt
tại các phiên họp và phiên hòa giải và phiên tòa không có lý do.
* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn H T2 Thị
Nhung trình bày: Bà Nhung nhất trí với các ý kiến của các bị đơn đã trình bày
với Tòa án. Nhung không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn đối với các bị đơn, bởi các bị đơn không hành động hay lời lẽ xúc
phạm, lăng mạ bà T, nội dung cuộc gọi điện giữa bà H và bà T ch là nói về việc
thanh toán phần công nợ còn thiếu của anh T5, còn việc các bị đơn để nhà nghỉ
T cũng chỉ là công việc làm ăn thông thường, không đe dọa xúc phạm ai. Đối
với việc T2 rút yêu cầu phản tố đối với T hoàn toàn t nguyện, đề nghị
Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 25/11/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực X - Điện Biên đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39; điểm h khoản 1
Điều 40, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 266;
Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 584, 585, 590 và 592 của Bộ luật
Dân sự; Điều 2, 7, 9 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị Thanh T về việc
buộc Chu Thị H anh Văn T5, mỗi người phải bồi thường thiệt hại cho
T 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), trong đó bồi thường do danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) bồi
thường do sức khỏe, tinh thần là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị Thanh T đối với ông
Hoàng T4 về việc buộc ông Hoàng T4 bồi thường về danh dự nhân phẩm
500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) cho Phạm Thị Thanh T.
6
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị Thanh T đối với
Chu Thị T2 (T1) về việc buộc bà Chu Thị T2 phải công khai xin lỗi vì những lời
lẽ bịa đặt, xuyên tạc, vu khống nói xấu bà Phạm Thị Thanh T.
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của Chu Thị H về việc
buộc Phạm Thị Thanh T bồi thường cho H 1.000.000.000 đồng (một tỷ
đồng), trong đó bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) và bồi thường do sức khỏe, tinh thần là
500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
3. Đình chỉ toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Chu Thị T2 (T1) đối với bà
Phạm Thị Thanh T về việc buộc Phạm Thị Thanh T bồi thường cho T2
500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), trong đó bồi thường danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng)
bồi thường do sc khỏe, tinh thần bị xâm phạm 250.000.000 đồng (Hai
trăm năm mươi triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án còn tuyên ván phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Tại phiên a phúc thẩm: Nguyên đơn Phạm ThThanh T vẫn gi
nguyên u cầu khởi kin; bị đơn Chu ThH vẫn gi nguyên u cầu phản tố,
đề nghị a án cấp phúc thẩm xem t giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
c n đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên về việc
tuân theo pháp luật và việc giải quyết vụ án:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
và người tham gia tố tụng đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
- Về nội dung vụ án: Hành vi của bà Chu Thị H và ông Vũ Văn T5 đăng tải
hình ảnh nhân của Phạm Thị Thanh T lên mạng hội không được sự
đồng ý của bà T vi phạm khon 1 Điều 32 BLDS vquyền của nhân đối
với hình ảnh của mình, kèm theo lời lẽ nhằm bêu riếu việc T nợ tiền anh
T5, hành vi đó đã xâm phạm đến danh dự, uy n của T, đã bị Công an
thành phố Đ xử phạt hành chính theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 102
Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ; Tuy nhiên, T
không đủ chứng cứ chứng minh các thiệt hại thực tế theo quy định tại khoản 1
Điều 592 Bộ luật dân sự, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm không chp nhận yêu cầu
khởi kiện của T căn cứ. Bà T không hành vi xâm phạm danh dự, uy
tín đối với H nên không có nghĩa vụ phải bồi thường cho H; Nên việc Tòa
án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phn tố của H căn cứ, đúng
pháp luật. Nội dung các kháng cáo của T và bà H đều không có cơ sở để chấp
nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khon 1 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 02/2025/DS-ST ngày
25/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực X - Điện Biên. Căn cứ khoản 1 Điều
148 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh Tbị đơn bà Chu Thị H
7
được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý
kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm
thấy rằng:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ
trong hồ sơ vụ án: Xác định tranh chấp giữa nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh
T, sinh năm 1975, địa chỉ: Phố 1, phường Đ, tỉnh Điện Biên bđơn Chu
Thị H, sinh năm 1978, địa chỉ: Số n26, t2, phường Đ, tỉnh Điện Biên;
Chu Thị T1, địa chỉ: Số nhà 63B, tổ 4, phường Đ, tỉnh Điện Biên; ông Văn
T5, địa chỉ: Đội 8, Thanh An, tỉnh Điện Biên, tranh chấp về dân sự bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quan hpháp luật tranh chấp về bồi thường
thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín, tinh thần, sức khỏe bị xâm phạm theo
khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Xét thấy bị đơn Chu Thị H, địa chỉ: Số nhà 26, tổ 2,
phường Đ, tỉnh Điện Biên Chu Thị T1, địa chỉ: Số nhà 63B, tổ 4, phường
Đ, tỉnh Điện Biên; ông Vũ Văn T5, địa chỉ: Đội 8, xã Thanh An, tỉnh Điện Biên.
Căn cứ Điều 35, khoản 1 Điều 39; điểm h khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân
sự, Tòa án nhân dân khu vực X - Điện Biên thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án là có
căn cứ.
[2] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo của nguyên đơn Phạm Thị
Thanh T và bị đơn Chu Thị H:
Sau khi xét xử thẩm, nguyên đơn Phạm Thị Thanh T bị đơn
Chu Thị H gửi đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST
ngày 25/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực X - Điện Biên. Việc kháng cáo
được thực hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo và quyền kháng cáo
phù hợp với quy định của pháp luật, nguyên đơn bị đơn được miễn nộp tiền
án phí dân sự phúc thẩm, nvậy việc kháng cáo của các đương sự hợp lệ,
đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 276 của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đơn kháng cáo của nguyên đơn,
bị đơn theo trình tự phúc thẩm.
[3] Về sự vắng mt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
Xét thấy bị đơn ông Hoàng T4 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần th lần 3
nhưng vắng mặt không lý do, bị đơn ông n T5 có đơn xin t x vng
mặt. Hội đồng t xử căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Ttụng dân sự,
tiến nh xét x vắng mặt bị đơn ông Hng T4 ông Vũ Văn T5.
[4] Về nội dung
[4.1] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn Phạm Thị Thanh T,
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
8
Xuất phát từ việc T thuê ông T5 sửa nhà khung sắt lợp mái tôn tầng hai
của nhà T, khi công việc hoàn thành, bà T chưa thanh toán hết số tiền công
nợ còn thiếu là 10 triệu đồng cho ông T5 (trước đó bà T mới chỉ ứng cho ông T5
88 triệu đồng). Do T bận công việc nên hai bên chưa nghiệm thu tất toán
công nợ với nhau. Ông T5 nhiều lần nhắn tin gọi điện cho T nhưng không
được nên đã đăng lên chợ Điện Biên Online với nội dung “Mong chị gửi nốt tiền
(10 triệu) cho em chứ cảnh đi làm thuê lấy công làm lãi chị làm thế thì chết
em, ai như tôi không ah em ơi”, kèm theo hình ảnh nhà nghỉ Hồng Cúm
hình ảnh nhân của T cùng một số đoạn tin nhắn về thanh toán công nợ
giữa ông T5 T. T cho rằng ông T5 đòi n T trên mạng hội
không đúng vì bà T không nợ ông T5, hai bên chỉ chưa chốt được công nợ, chưa
biết thừa thiếu thế nào nên việc ông T5 đăng lên mạng hội công khai đòi nợ
bà đã làm ảnh hưởng xấu đến uy tín danh dự của bà T.
Căn cứ vào lời khai của T (Bút lục số 311 314), lời khai của ông T5
(Bút lục số 202 - 203), lời khai tại phiên tòa thẩm ngày 24, 25/11/2025 của
các đương sự (Bút lục số 336 - 345) các tài liệu, chng cứ trong hồ vụ
án, đều thể hiện việc T ông T5 thỏa thuận miệng về việc thuê khoán
làm nhà sắt mái tôn, T đã ứng cho ông T5 số tiền 88 triệu đồng, các hạng mục
công trình đã hoàn thành nhưng hai bên vẫn chưa tất toán hết cho nhau chưa
thống nhất được công nợ, việc ông T5 đề nghị T gửi trả nốt số tiền còn thiếu
là có căn cứ. Ông T5 không có lời lẽ, ngôn từ nào thể hiện sự xúc phạm, bôi nhọ
danh dự, nhân phẩm T cũng không nhờ hay đề nghị T2, H chia sẻ
bài đăng trên mạng hội. H ruột của ông T5, do thấy hoàn cảnh của
ông T5 khó khăn nên mới ý định giúp ông liên hệ với T để đề nghị T
trả nốt phần tiền công nợ T còn thiếu cho ông T5, việc H tự ý chia sẻ bài
đăng của ông T5 lên trang nhân của H một số người khác khi chưa
được sự đồng ý của T vi phạm pháp luật đã bị Công an thành phố Đ xử
phạt vi phạm hành chính theo điểm e khoản 3 Điều 102 Nghị định số
15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ; những bài chia sẻ, bài đăng
lên mạng xã hội của bà H không có lời lẽ xúc phạm, bôi nhọ hay vu khống gì bà
T; thực tế qua nội dung tin nhắn giữa các bên thấy rằng giữa H bà T đều
lời qua tiếng lại, ứng xử chưa phù hợp. Nhưng bà T không tài liu, chứng
cứ chứng minh việc ông T5, H các hành vi xâm phạm danh dự, nhân
phẩm, uy tín và gây thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho bà T.
Tại cấp thẩm, các tài liệu của T cung cấp việc H, ông T5 xâm
phạm đến quyền hình ảnh của T; những nội dung H, ông T5 đăng lên
mạng xã hội kèm theo từ ngữ để xúc phạm danh dự, nhân phẩm T chưa đủ
căn cứ để chứng minh. T cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm giấy xác nhận
của ông Bạch Tùng D, địa chỉ phố 12, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên
xác nhận đã đánh máy văn bản, in, phô tô tài liệu cho bà T số tiền 10 triệu đồng,
văn bản chỉ có chữ ký của ông D ngoài ra không có chứng cứ nào khác để chứng
minh nhân thân của ông D; đồng thời cung cấp 01 giấy biên nhận của cửa hàng
phô T6 nội dung: in ấn, phô tô tài liệu ảnh, thành tiền 10 triệu đồng,
chữ của người bán hàng; tuy nhiên T không chứng minh được nội dung
9
các văn bản đánh máy, in, phô tô là văn bản nên không có cơ sở xác định đây
chi phí hợp cho việc thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm. Mặt khác, bà T không cung cấp được các tài liệu,
chứng cứ nào chứng minh cho việc bà bị tổn hại sức khỏe, tinh thần, thiệt hại về
vật chất do bà H và ông T5 gây ra.
Tại phiên tòa phúc thẩm, T cũng không đưa ra được các tài liệu, chứng
cứ nào hợp pháp để chứng minh: Có thiệt hại thực tế về danh dự, nhân phẩm, uy
tín; có tổn hại về sức khỏe, tinh thần (không hồ bệnh án, kết luận giám
định, tài liệu y tế hợp lệ); có chi phí hợp lý, cần thiết để hạn chế, khắc phục thiệt
hại theo quy định tại Điều 590 và Điều 592 Bộ luật Dân sự.
Do đó, nội dung kháng cáo của nguyên đơn Phạm Thị Thanh T về việc
yêu cầu Tòa án buộc Chu Thị H ông Văn T5, mỗi người phải bồi
thường thiệt hại cho T 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng); trong đó bồi
thường do danh dự, nhân phẩm, uy n bị xâm phạm 500.000.000 đồng (Năm
trăm triệu đồng) bồi thường do sức khỏe, tinh thần bị xâm phạm
500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), là không có căn cứ để chấp nhận.
[4.2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn Chu Thị H, Hội đồng xét
xử phúc thẩm thấy rằng:
Bà H yêu cầu phản tố đối với bà T với lý do cho rằng bà T nói xấu và H
với H1, bảo bà H con ngáo đá, vu khống cho H chửi bới, xúc phạm bà
T; quy chụp H uy hiếp, đe dọa, bắt nạt người khác, sử dụng hình ảnh của
H mà T trích từ camera đăng lên mạng xã hội... làm ảnh hưởng nghiêm trọng
đến danh dự, nhân phẩm, tinh thần sức khỏe của H. Tuy nhiên ngoài các
ảnh chụp tin nhắn thể hiện lời nói qua lại giữa bà H và bà T thì bà H không cung
cấp được chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế, cũng không chứng minh được
mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi bị cho là xâm phạm thiệt hại
phát sinh theo quy định ti Điều 584 Bộ luật Dân sự Nghị quyết số
02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao.
Tại phiên tòa phúc thẩm, H cũng không đưa ra được các tài liệu, chứng
cứ gì để chứng minh cho yêu cầu của bà.
Do đó, nội dung kháng cáo của bị đơn Chu Thị H yêu cầu Tòa án buộc
T phải bồi thường về danh dự, nhân phẩm, uy tín, sức khỏe (tinh thần, thể
chất) bị xâm phạm choH theo quy định của pháp luật, không có căn cứ để
chấp nhận.
[4.3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xphúc thẩm thấy rằng
Tòa án cấp thẩm đã đánh giá đúng bản chất vụ việc, áp dụng đúng và đầy đ
các quy định của Bộ luật Dân snăm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự Ngh
quyết số 02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm
Thị Thanh T không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Chu Thị H là có
căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, không căn cứ để chấp nhận
10
kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T và bị đơn bà Chu Thị H.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ
luật Tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa
14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án.
Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T, bị đơn Chu Thị H được miễn án phí
dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148; khoản 3 Điều 296 B lut T
tng dân s;
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca Ủy ban Thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim,
thu, np, qun lý và s dng án phí, l phí Tòa án;
Tuyên x:
1. Không chp nhn yêu cu kháng cáo ca nguyên đơn Phm Th
Thanh T và b đơn bà Chu Th H.
Gi nguyên Bn án dân s thẩm s 02/2025/DS-ST ngày 25/11/2025
ca Tòa án nhân dân khu vc X - Đin Biên.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho nguyên
đơn bà Phạm Thị Thanh T và bị đơn bà Chu Thị H.
3. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
17/3/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- VKSND khu vc X - Đin Biên;
- TAND khu vc X - Đin Biên;
- THADS tỉnh Điện Biên;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Văn Phương
Tải về
Bản án số 08/2026/DS-PT Bản án số 08/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2026/DS-PT Bản án số 08/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất