Bản án số 751/2026/DS-PT ngày 19/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 751/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 751/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 751/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 751/2026/DS-PT ngày 19/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 751/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Huỳnh Tấn T - Phan Thị V |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 751/2025/DS-PT
Ngày: 09/12/2025
“V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH
TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân
Bà Đinh Thị Ngọc Yến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chiêu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 615/2025/TLPT-DS, ngày 10
tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025, của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 730/2025/QĐ-PT ngày
31 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Tấn T, sinh năm 1969; Địa chỉ (cũ): Ấp 2, xã
B, huyện Đ, tỉnh Long An. Địa chỉ (mới): Ấp G, xã Đ, tỉnh Tây Ninh (có mặt)
2. Bị đơn: Bà Phan Thị V, sinh năm 1969 và ông Huỳnh Văn D, sinh năm
1969; Địa chỉ (cũ): Ấp 5, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Địa chỉ (mới): Ấp M,
xã M, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Quốc S, sinh năm 1981;
Địa chỉ thường trú (cũ): Số 321/5/5, C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí
Minh; địa chỉ (mới): Số 321/5/5, C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ
liên hệ (cũ): Số 36A, Ô 6, Khu B, thị trấn H, huyện F, tỉnh Long An; địa chỉ
(mới): Số 36A, Khu B, xã H, tỉnh Tây Ninh. (Văn bản ủy quyền ngày 02-11-
2023 - có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà Phan Thị V: Ông Huỳnh Thanh T1, sinh
năm 1990; địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Tây Ninh.
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh
chi nhánh Đức Huệ Bắc Long An (Tên viết tắt: Agribank chi nhánh chi nhánh
Đức Huệ Bắc Long An); Địa chỉ (cũ): Khu phố 2, thị trấn Đông Thành, huyện
Đức Huệ, tỉnh Long An; Địa chỉ (mới): Số 232, Nguyễn Trung Trực, ấp Thành
Nam, xã Đông Thành, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt);
- Ông Lê Hữu T2, sinh năm 1973; Địa chỉ (cũ): Ấp 1, xã Ti, huyện B, tỉnh
Long An; Địa chỉ (mới): Xã Thạnh Lợi, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Tất, sinh năm 1955; Địa chỉ (cũ): Ấp 4, xã M, huyện Đ,
tỉnh Long An. Địa chỉ (mới): Ấp 4, xã M, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
Người kháng cáo: Bà Phan Thị V, ông Huỳnh Văn D là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 30-6-2023, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày
07-11-2024, các văn bản tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Huỳnh Tấn
T trình bày và yêu cầu:
Ngày 11 tháng 5 năm 2022, ông nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông
Huỳnh Văn D, bà Phan Thị V quyền sử dụng đất diện tích 13.692m
2
thuộc thửa
số 354, tờ bản đồ số 4-1, tọa lạc tại ấp Voi, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, giá
chuyển nhượng 2.460.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho việc nhận chuyển nhượng phần đất trên, ông đặt cọc cho
vợ chồng bà V 250.000.000 đồng; Đồng thời, do giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa số 354 nêu trên đang trong quá trình cấp đổi, nên vợ chồng bà V
cam đoan với ông thửa đất mới sau khi cấp đổi là thửa số 1025, tờ bản đồ số 11
(ghi trong Hợp đồng đặt cọc ngày 11-5-2022). Phần đất ông nhận chuyển
nhượng có tứ cận: Đông giáp kênh, Tây giáp kênh, Nam giáp thửa 1074 và Bắc
giáp thửa 1026.
Tại Hợp đồng đặt cọc nêu trên, ông và vợ chồng bà V thỏa thuận đến ngày
11-6-2022 sẽ đến Văn phòng công chứng có thẩm quyền để tiến hành công
chứng sang tên đối với thửa đất nêu trên. Đến ngày 11-6-2022, do thủ tục cấp
đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 354 chưa hoàn tất, nên vợ chồng bà
V đề nghị ông đặt cọc thêm 750.000.000 đồng. Tổng số tiền ông đã đặt cọc cho
vợ chồng bà V là 1.000.000.000 đồng.
Đến ngày 27-6-2023, sau khi hoàn tất thủ tục cấp đổi đối với thửa số 354
nêu trên, vợ chồng bà V đưa ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì thửa đất
mới sau khi cấp đổi là thửa đất số 1146, tờ bản đồ số 11, diện tích 12.584,9m
2
,
đất tọa lạc tại ấp 2, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, vị trí thửa đất mới sau khi cấp
đổi có tứ cận: Đông giáp bờ kênh, Tây giáp bờ kênh và thửa đất số 99, Nam giáp
thửa đất số 859, 915 và Bắc giáp thửa đất số 1074.
3
Như vậy, thửa đất số 354 nêu trên sau khi cấp đổi là thửa đất số 1146,
không đúng với thỏa thuận ban đầu tại Hợp đồng đặt cọc ngày 11-5-2022, về số
thửa, về diện tích và cả về vị trí đất. Vì vậy, ông không đồng ý tiếp tục thực hiện
Hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất 354 (thửa đất mới là 1146) nêu trên.
Ông đã nhiều lần liên hệ yêu cầu vợ chồng bà V trả lại số tiền ông đã đặt
cọc là 1.000.000.000 đồng, nhưng vợ chồng bà V cố tình lãng tránh, không hợp
tác.
Nay ông yêu cầu:
- Buộc bà Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D thanh toán cho ông
1.483.336.000 đồng, gồm: 1.000.000.000 đồng tiền đặt cọc theo hợp đồng đặt
cọc ngày 11-5-2022 và 483.336.000 đồng tiền lãi phát sinh, gồm:
Đối với số tiền 250.000.000 đồng: Tiền lãi 123.496.000 đồng (250.000.000
đồng x 1,66%/tháng x 29 tháng 26 ngày, từ 11-5-2022 đến ngày 07-11-2024;
Đối với số tiền 750.000.000 đồng: Tiền lãi 359.390.000 đồng (750.000.000
đồng x 1,66%/tháng x 28 tháng 26 ngày, từ 11-6-2022 đến ngày 07-11-2024;
- Yêu cầu bà Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D tiếp tục trả lãi cho đến khi
vụ án được giải quyết xong.
Ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà V, ông D.
* Theo đơn yêu cầu phản tố đề ngày 16-11-2023, đơn thay đổi yêu cầu
phản tố đề ngày 27-3-2025, các văn bản tiếp theo và tại phiên tòa, bị đơn bà
Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D, do ông Phạm Quốc S đại diện, trình bày:
Ngày 11-5-2022 ông T và bà V, ông D có ký hợp đồng đặt cọc để chuyển
nhượng và nhận chuyển nhượng thửa đất số 354, tờ bản đồ số 4-1, đất toạ lạc ấp
Voi, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, giá chuyển nhượng là 2.460.000.000 đồng.
Ngày 11-5-2022 ông T đặt cọc cho bà V, ông D 250.000.000 đồng, sau đó
bà V, ông D yêu cầu ông T đặt cọc lần 2 là 750.000.000 đồng, tổng cộng 2 lần
bà V, ông D nhận cọc là 1.000.000.000 đồng.
Hai bên thoả thuận sau khi bà V, ông D cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất xong sẽ ra công chứng chuyển nhượng thửa đất nêu trên.
Ngày 27-6-2023 sau khi bà V, ông D được cấp đổi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất mới của thửa đất số 354, tờ bản đồ số 4-1, bà V, ông D liên hệ với
ông T ra công chứng để làm thủ tục chuyển nhượng theo hợp đồng đặt cọc ngày
11-5-2022 thì ông T không đồng ý.
Bà V, ông D không đồng ý các yêu cầu khởi kiện của ông T.
Bà V, ông D yêu cầu: Tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 11-5-2022 giữa
ông Huỳnh Tấn T và bà Phan Thị V, ông Huỳnh Văn D, đồng thời, công nhận số
tiền 1.000.000.000 đồng trong Hợp đồng đặt cọc ngày 11-5-2022 là tiền hợp
pháp của bà Phan Thị V, ông Huỳnh Văn D.
4
* Tại Bản tự khai ngày 30-10-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Lê Hữu T2 trình bày:
Ngày 11-5-2022, ông và ông Huỳnh Tấn T có mua của bà Đặng Thị Tất
diện tích đất lúa 13.693m
2
, thuộc thửa số 1074, tờ bản đồ số 11, xã M, sau đó
chia thành 02 thửa:
+ Thửa 1, do ông Lê Hữu T2 đứng tên, số thửa 1140, tờ bản đồ 11, xã M,
diện tích 6.850,1m
2
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG
440330, số vào sổ 12265, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp
ngày 10-8-2022;
+ Thửa 2, do ông Huỳnh Tấn T đứng tên, số thửa 1074 phần còn lại, tờ bản
đồ 11, xã M, diện tích 6.842,9m
2
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số DG 440331, số vào sổ 12264, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An
cấp ngày 10-8-2022;
Ông mua đất hợp pháp, được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, không liên quan đến vụ án của ông Huỳnh Tấn T và ông Huỳnh Văn D.
* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 13-02-2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Nguyễn Thị Tất trình bày:
Bà chỉ nghe nói việc ông Huỳnh Tấn T và bà Phan Thị V tranh chấp hợp
đồng đặt cọc với nhau. Việc bà V, ông D cho rằng đất của bà và đất của bà V,
ông D liền kề nhau nên bị cấp nhầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp
nhầm vị trí cho nhau là không đúng. Đất của bà khai hoang canh tác đã lâu, sau
đó bà bán cho ông Huỳnh Tấn T và ông Lê Hữu T2 thửa số 1074, tờ bản đồ số
11 xã M, diện tích 13.693m
2
. Việc
tranh chấp giữa ông T và bà V nêu trên bà
không có liên quan gì.
Tại Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 16/7/2025 của Tòa án nhân khu vực 2 -
Tây Ninh đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn T đối với bà
Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D và một phần yêu cầu phản tố của bà Phan Thị
V và ông Huỳnh Văn D đối với ông Huỳnh Tấn T về việc “Tranh chấp hợp đồng
đặt cọc”.
2. Ghi nhận sự thống nhất của các đương sự: Hủy Hợp đồng đặt cọc ngày
11 tháng 5 năm 2022 giữa ông Huỳnh Tấn T đối với bà Phan Thị V và ông
Huỳnh Văn D.
3. Buộc bà Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D có nghĩa vụ trả cho ông
Huỳnh Tấn T 1.397.293.324 đồng (một tỷ, ba trăm chín mươi bảy triệu, hai trăm
chín mươi ba nghìn, ba trăm hai mươi bốn đồng) khi án có hiệu lực pháp luật,
gồm: 1.000.000.000 đồng tiền cọc theo hợp đồng đặt cọc ngày 11 tháng 5 năm
2022 và 394.526.659 đồng tiền lãi từ 18-7-2023 đến ngày 16-7-2025.
5
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/7/2025 bà Phan Thị V, ông Huỳnh Văn D kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà V, ông D.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ông Huỳnh Văn D, bà Phan Thị V trình bày: Trên hợp đồng đặt cọc nội
dung 1025 mới là ông T thêm vào sau khi ký hợp đồng, ông T nghĩ tương lai
thửa đất của ông bà sắp chuyển nhượng cho ông T là thửa 1025. Ông bà cũng
không biết nhằm thửa đất, thửa đất 1074 của ông bà đang canh tác bị cấp nhầm
thửa cho bà Tất. Buộc ông bà thanh toán lãi suất là không đúng quy định.
Ông Huỳnh Tấn T trình bày: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của ông D,
bà V. Do thỏa thuận chuyển nhượng là thửa 1025 nay không phải là thửa 1025
mà là thửa 1146 nên ông yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ
án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của
Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình
tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện
đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng
không tính lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Phan Thị V ông Huỳnh Văn D được
thực hiện đúng quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự và được gửi đến Tòa
án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận
xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Ông Lê Hữu T2, bà Nguyễn Thị Tất và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh chi nhánh Đức Huệ Bắc Long An có đơn
xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét xử vắng các đương sự nói trên là đúng
theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
6
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị V, ông Huỳnh Văn D thấy rằng:
[2.1] Về hình thức: Hợp đồng đặt cọc ngày 11-5-2022 để chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được hai bên lập bằng văn bản, có người làm chứng, nhưng
không công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật, hợp đồng không đảm
bảo về mặt hình thức.
[2.2] Về nội dung: Hai bên thỏa thuận chuyển nhượng diện tích 13.692m
2
thuộc thửa đất số 354, tờ bản đồ số 4-1, đất tọa lạc tại ấp Voi, xã M, huyện Đ,
tỉnh Long An, do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 354 nêu trên
đang trong quá trình cấp đổi nên vợ chồng ông D, bà V có cam đoan với ông T
thửa đất mới sau khi cấp đổi là thửa đất số 1025, tờ bản đồ số 11 (ghi trong Hợp
đồng đặt cọc ngày 11-5-2022).
Tuy nhiên, khi hoàn tất thủ tục cấp đổi, có giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, thì thửa đất mới sau khi cấp đổi là thửa số 1146, tờ bản đồ số 11, diện tích
12.584,9m
2
, tọa lạc tại: ấp 2, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên xảy ra tranh
chấp.
Như vậy, bên nhận cọc đã không thực hiện đúng thỏa thuận ban đầu, phần
đất bị đơn yêu cầu chuyển nhượng sau khi cấp đổi không đúng diện tích, sai số
thửa và sai địa chỉ thửa đất so với thỏa thuận ban đầu.
[2.3] Hợp đồng đặt cọc ngày 11-5-2022 không đảm bảo quy định pháp luật
về hình thức, bên nhận cọc thực hiện không đúng nội dung thỏa thuận, không
đúng diện tích, sai số thửa và sai địa chỉ thửa đất so với thỏa thuận ban đầu, nên vô
hiệu, việc bên đặt cọc (nguyên đơn) và bên nhận cọc (bị đơn) cùng yêu cầu hủy
hợp đồng đặt cọc là tự nguyện, phù hợp Điều 122 và Điều 123 Bộ luật dân sự
nên ghi nhận.
[2.4] Giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu,
hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại.
Về việc các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những
gì đã nhận:
Quyền sử dụng đất do bên bà V, ông D quản lý sử dụng, chưa giao cho ông
T nên không đề cập.
Ông T đã giao cho bà V, ông D 1.000.000.000 đồng tiền cọc, nên bà V, ông
D có nghĩa vụ trả lại cho ông T 1.000.000.000 đồng tiền cọc phù hợp với quy
định của pháp luật và phù hợp với sự thỏa thuận tại Biên bản ghi nhận kết quả
hòa giải ngày 17-7-2023 mà hai bên đã thỏa thuận.
Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông D, bà V.
Tuy nhiên cấp sơ thẩm căn cứ vào Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày
17-7-2023 cả hai bên đã thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc và bà V, ông D có
nghĩa vụ trả lại ông T 1.000.000.000 đồng, sự việc được hòa giải thành. Nhưng
sau đó ngày 31-7-2023 bà V, ông D gửi đơn thay đổi ý kiến và sự việc kéo dài
7
đến nay nên tính lãi của số tiền 1.000.000.000 đồng từ sau ngày thỏa thuận là
không đúng với quy định của pháp luật. Do đó cấp phúc thẩm sửa bản án sơ
thẩm không tính tiền lãi đối với số tiền đạt cọc 1.000.000.000 đồng.
[3] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận 01 phần kháng cáo của bà
Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D sửa bản án sơ thẩm.
Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận 01 phần nên bà Phan Thị V và ông
Huỳnh Văn D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phù
hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận 01 phần yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị V và ông Huỳnh
Văn D.
- Sửa Bản án dân sư sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025,
của Toà án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh.
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1
Điều 39, Điều 92, các khoản 1 Điều 228, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015; Các Điều 117, 122, 328, 357, 500, 501 và 502 của Bộ luật
Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn T đối với bà
Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D và một phần yêu cầu phản tố của bà Phan Thị
V và ông Huỳnh Văn D đối với ông Huỳnh Tấn T về việc “Tranh chấp hợp đồng
đặt cọc”.
2. Ghi nhận sự thống nhất của các đương sự: Hủy Hợp đồng đặt cọc ngày
11 tháng 5 năm 2022 giữa ông Huỳnh Tấn T đối với bà Phan Thị V và ông
Huỳnh Văn D.
3. Buộc bà Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D có nghĩa vụ trả cho ông
Huỳnh Tấn T số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng).
4. Về chi phí tố tụng:
Buộc bà Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D phải chịu 35.580.000 đồng (ba
mươi lăm triệu, năm trăm tám mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ, đo vẽ và định giá tài sản; Số tiền này ông Huỳnh Tấn T đã tạm nộp và
chi phí xong; Buộc bà Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D phải nộp trả cho ông
Huỳnh Tấn T 35.580.000 đồng (ba mươi lăm triệu, năm trăm tám mươi nghìn
đồng) khi án có hiệu lực pháp luật.
8
5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (của người được thi hành án) cho
đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền (phải trả cho người được thi hành
án), hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả
theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.
6. Về án phí:
Buộc ông Huỳnh Tấn T phải chịu 23.333.440 đồng án phí dân sự sơ thẩm,
được khấu trừ 32.666.720 đồng (ba mươi hai triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn,
bảy trăm hai mươi đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, theo các
Biên lai thu số 0002335 ngày 03-11-2023 và số 0004813 ngày 14-11-2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ, trả lại ông Huỳnh Tấn T 9.333.280
đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bà Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D phải chịu 42.000.000 đồng án
phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 21.300.000 đồng (hai mươi mốt triệu, ba trăm
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, theo Biên lai thu số
0004221 ngày 21-11-2023 và số 0005024 ngày 02-4-2025 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Đức Huệ, bà Phan Thị V và ông Huỳnh Văn D còn phải nộp
thêm 20.700.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
7. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trả cho bà Phan Thị V số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân
sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0023163 ngày 30-7-2025 tại Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 2 - Tây Ninh (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh).
Hoàn trả cho ông Huỳnh Văn D số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0023162 ngày 30/7/2025 tại Phòng
Thi hành án dân sự khu vực 2 - Tây Ninh (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây
Ninh).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- Phòng KTNV.TAT;
- TAND khu vực 2 -Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tập án; Lưu VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN
Dương Thúy Hằng
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm