Bản án số 132/2026/DS-PT ngày 09/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 132/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 132/2026/DS-PT ngày 09/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 132/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị V - Nguyễn Thị X - “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu”.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Ngọc Minh
Các Thẩm phán: Ông Y Thông Kbuôr và ông Trương Công Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Hùng - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 473/TLPT-DS ngày 13/11/2025 về việc “Yêu
cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hiệu”. Do bản án dân sự
thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7- Đắk Lắk bị
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 08/2026/QĐXX-PT
ngày 05/01/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị V, sinh năm 1966; Nơi trú: Tổ dân phố C, thị
trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay thôn V, E, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt, đơn
xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sự. Phan Văn
V1, thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ; Địa chỉ: Số A, N, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Bị đơn: Nguyễn Thị X, sinh năm 1970; Nơi trú: Thôn E, E, huyện E,
tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn E E, xã E). Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đồng Văn N, sinh năm 1964; vắng mặt.
2. Anh Đồng Gia Đ, sinh năm 2003; vắng mặt.
3. Anh Đồng Giang T, sinh năm 1996; vắng mặt.
- Cùng cư trú: Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay thôn E E,E, tỉnh
Đắk Lắk).
4. Văn phòng C2. Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thị L Trưởng
văn phòng; Địa chỉ: D N, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 132/2026/DS-PT
Ngày 09/3/2026
V/v: Yêu cầu tuyên bố hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng
đất vô hiệu .
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
5. Ngân Hàng TMCP Phát Triển Thành Phố H; Địa chỉ: B B N, Phường B, Quận
A, Tp . (nay là phường S, thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Quốc T1 - chức vụ Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Trần Ngọc Q; chức vụ: Phó trưởng phòng
QHKH cá nhân. Có mặt.
6. Ông Lê Hoàng V2, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk
Lắk (nay là thôn E E, xã E, tỉnh Đắk Lắk). vắng mặt.
7. Ông Hồng Văn C, sinh năm 1992; địa chỉ: Buôn T,E, tỉnh Đắk Lắk. vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn; người đại diện theo uỷ quyền của
nguyên đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Từ năm 2022 đến năm 2023, Nguyễn Thị X vay của Nguyễn Thị V
tổng cộng 2.629.999.996 đồng (làm tròn thành 2.630.000.000 đồng). Do X không
trả nợ vay nên ngày 20/01/2025, V đã khởi kiện yêu cầu X trả số nợ
630.000.000 đồng tiền vay gốc. Tại quyết định công nhận sự thoả thuận của các
đương sự số 19 ngày 24/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Ea Kar, X đã thoả
thuận trả cho bà V số tiền 744.834.000đồng bao gồm: 630.000.000 đồng tiền nợ gốc
và 114.834.000 đồng tiền lãi; thời hạn trả nợ Ngày 16/8/2025 trả 100.000.000 đồng;
ngày 16/9/2025 trả 200.000.000 đồng ngày 16/12/2025 trả 444.834.000 đồng.
Còn số nợ 2.000.000.000 đồng thì V đã làm đơn khởi kiện X vào ngày
22/7/2025, hiện nay Toà án đang giải quyết.
Đối với số tiền nợ 2.000.000.000 đồng X vay của V vào tháng 9/2023 mục
đích để đáo hạn ngân hàng, X đã dùng số tiền vay của V để trả nợ cho ngân
hàng, nhưng sau khi vay lại thì X không trả nợ cho V dùng số tiền đó để trả
vào các hợp đồng thế chấp khoản vay tại ngân hàng khác để rút các giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đang thế chấp lập Hợp đồng tặng cho các quyền sử dụng đất
này để tặng cho con trai anh Đồng Giang T và Đồng Gia Đ vào ngày 24/6/2024
ngày 16/9/2024.
Nhận thấy, tại thời điểm kết các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với
anh Đồng Giang Tanh Đồng Gia Đ thì Nguyễn Thị X vẫn còn đang nợ V số
tiền 2.630.000.000 đồng nên việc bà X tặng cho các tài sản nói trên là giao dịch giả
tạo, nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối với bà V. Vì vậy, bà Nguyễn
Thị V khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
1. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 16 tháng 09 năm
2023 tại Văn phòng C2 giữa n tặng cho là Nguyễn Thị X, ông Đồng Văn N với
bên nhận tặng cho anh Đồng Giang T đối với thửa đất số 410, tờ bản đồ số 22; diện
tích 104 m
2
tại Buôn M, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk là vô hiệu.
3
2. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 24 tháng 06 năm
2024 tại Văn phòng C2 giữa bên tặng chobà Nguyễn Thị X, Đồng Văn N với bên
nhận tặng cho là anh Đồng Gia Đ đối với thửa đất số 366, tờ bản đồ số 25; diện tích
110 m
2
tại Buôn T, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk Hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất lập ngày 24 tháng 06 năm 2024 tại Văn phòng C2 giữa bên tặng cho là
Nguyễn Thị X, Đồng Văn N với bên nhận tặng cho là anh Đồng Gia Đ đối với thửa
đất số 200, tờ bản đồ số 01; diện tích 808 m
2
tại Thôn E, E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk
là vô hiệu. Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
* Bị đơn Nguyễn Thị X trình bày: Vào ngày 16/9/2023 ngày 24/6/2024
Nguyễn Thị X cùng chồng là Đồng Văn N có ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất cho 2 con là Đồng Gia Đ và Đồng Giang T cũng như số nợ mà bà X có nợ bà V
như nguyên đơn đã trình bày đúng. Tuy nhiên, bị đơn không đồng ý với các yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn vì: Tại thời điểm lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất nói trên thì số nợ bà vay củaV chưa đến hạn trả nợ, bà V cũng chưa thông
báo, yêu cầu tôi trả nợ hoặc khởi kiện tôi về các khoản vay tôi còn nợ của bà V. Mặt
khác hiện nay thì ngoài 03 quyền sử dụng đất vợ chồng tôi tặng cho các con thì vợ
chồng tôi còn 02 quyền sử dụng đất khác đang thế chấp Ngân hàng S để vay số
tiền 3.500.000.000 đồng nhưng giá trị 02 thửa đất này giá hiện tại khoảng 6 tỷ
đồng. Ngoài ra hiện nay tôi là người được Thi hành án đối với các bản án đã có hiệu
lực pháp luật với số tiền được thi hành án hơn 6 tỷ đồng. Do đó tôi đang có đủ điều
kiện về tài sản để trả nợ cho bà V.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đồng Văn N trình bày: Thống nhất
như ý kiến của bà Nguyễn Thị X, không có yêu cầu gì thêm.
* Người Đại diện theo uỷ quyền của quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân Hàng
TMCP Phát Triển Thành Phố H (H) ông Trần Ngọc Q trình bày:
Ngày 05/03/2025, H cấp hạn mức tín dụng cho ông Đồng Gia Đ theo Hợp đồng
tín dụng số 6277/25MN/HĐTD ngày 05/03/2025, số tiền vay: 2.000.000.000 đồng
(Hai tỷ đồng), nợ hiện tại: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) H cấp hạn mức tín
dụng cho ông Đồng Giang T theo Hợp đồng tín dụng số 12499/25MN/HĐTD ngày
29/04/2025, số tiền vay: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), nợ hiện tại:
1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
Tài sản đảm bảo cho khoản vay 2.000.000.000 đồng quyền sử dụng đất tại
thửa đất số 366, tờ bản đồ số 25, được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sử hữu nhàvà tài sản khác gắn liền với đất số BA 696380 do UBND Huyện
E cấp ngày 28/06/2010, cập nhật đăng biến động tặng cho ông Đồng Gia Đ vào
ngày 15/07/2024 quyền sử dụng đất tại thửa đất số 200, tờ bản đồ số 01, được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 541011 do UBND huyện E cấp ngày
28/10/2016, cập nhật đăng biến động tặng cho ông Đồng Gia Đ vào ngày
15/07/2024.
4
Đối với khoản vay 1.000.000.000 đồng thì tài sản đảm bảo cho khoản vay trên
là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 410, tờ bản đồ số 22, được cấp theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AK 589375 do UBND Huyện E cấp ngày 01/10/2007, cập
nhật đăng ký biến động tặng cho ông Đồng Giang T vào ngày 29/09/2023. H đã thực
hiện nhận thế chấp tài sản nêu trên theo đúng quy định của pháp luật, đăng biện
pháp bảo đảm tại chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện E đã cập nhật nội
dung thế chấp trên Giấy chứng nhận.
Việc thế chấp của anh Đồng Gia Đ và anh Đồng G triều để vay vốn của Ngân
hàng là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, ngân hàng không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Nguyễn Thị L trình bày: Ngày 10/02/2022, Văn phòng C2 công
chứng các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giửa X, ông N với các con
Đồng Gia Đ, Đồng Giang T. Về thủ tục công chứng đã tuân thủ đúng các quy định
của pháp luật, thời điểm công chứng c thửa đất tặng cho không tranh chấp,
không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn của cơ quan thẩm quyền vậy đề nghị T
án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng V3, ông Hồng Văn C
trình bày: Ông V3 ông C người đang thuê đất của ông T ông Đ. Hiện nay
nguyên đơn khởi kiện yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà X,
ông N với anh T anh Đ thì đề nghị Toà án án giải quyết theo pháp luật, ông
Hồng V3 và ông Hồng Văn C không có yêu cầu gì thêm.
Bản án số 24/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 đã
quyết định:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 1 Điều 147, khoản 1, Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 235
của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số
điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án,
- Căn cứ các Điều 116; 117; 457; 459 Điều 500 của Bộ luật Dân sự; Điều
179, Điều 188 của Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/
2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị V về yêu
cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 16 tháng 09 năm 2023 tại
Văn phòng C2 giữa bên tặng cho Nguyễn Thị X, ông Đồng Văn N với bên nhận
tặng cho anh Đồng Giang T đối với thửa đất số 410, tờ bản đồ số 22; diện tích 104,
m
2
tại Buôn M, E, tỉnh Đắk; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 24
tháng 06 năm 2024 tại Văn phòng C2 giữa bên tặng cho Nguyễn Thị X, ông
5
Đồng Văn N với bên nhận tặng cho anh Đồng Gia Đ đối với thửa đất số 366, tờ bản
đồ số 25; diện tích 110 m
2
tại Buôn T, E, tỉnh Đắk Lắk Hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất lập ngày 24 tháng 06 năm 2024 tại Văn phòng C2 giữa bên tặng
cho Nguyễn Thị X với bên nhận tặng cho anh Đồng Gia Đ đối với thửa đất số
200, tờ bản đồ số 01; diện tích 808 m
2
tại Thôn E E, xã E, tỉnh Đắk Lắk là vô hiệu.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo
cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa
án nhân dân cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu
cầu kháng cáo. Bị đơn người quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên ý kiến
trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm.
Quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham
gia tố tụng: đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị V. Giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số Bản án số 24/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án, kết quả thẩm tra chứng cứ
và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyễn Thị V nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đã đóng tạm
ứng án phí nên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thụ lý và giải quyết là đúng quy định
của pháp luật.
[2] Về nội dung:
Nguyên đơn trình bày: Từ năm 2022 đến năm 2023, Nguyễn Thị X vay
của bà Nguyễn Thị V tổng cộng 2.629.999.996 đồng (làm tròn thành 2.630.000.000
đồng) gồm:
- Khoản nợ theo Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 19
ngày 24/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Ea Kar, bà X đã thoả thuận trả choV
số tiền 744.834.000 đồng bao gồm: 630.000.000 đồng tiền nợ gốc 114.834.000
6
đồng tiền lãi; thời hạn trả nợ Ngày 16/8/2025 trả 100.000.000 đồng; ngày 16/9/2025
trả 200.000.000 đồng và ngày 16/12/2025 trả 444.834.000 đồng.
- Số nợ 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) bà X vay của bà V vào tháng 9/2023
mục đích để đáo hạn ngân hàng, nhưng sau khi vay lại thì X không trả nợ cho V
dùng số tiền đó để trả vào các hợp đồng thế chấp khoản vay tại ngân hàng khác để
rút các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp và lập Hợp đồng tặng cho
các quyền sử dụng đất này để tặng cho con trai là anh Đồng Giang T và Đồng Gia Đ
vào ngày 24/6/2024 và ngày 16/9/2024.
Vì vậy, bà Nguyễn Thị V khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
Bị đơn Nguyễn Thị X trình bày: thống nhất với tổng số tiền nợ V, tuy
nhiên bà X không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà V.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:
Xét các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 16 tháng 09 năm 2023 tại
Văn phòng C2 giữa bên tặng cho Nguyễn Thị X, ông Đồng Văn N với bên nhận
tặng cho anh Đồng Giang T; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 24
tháng 06 năm 2024 tại Văn phòng C2 giữa bên tặng choNguyễn Thị X với bên
nhận tặng cho anh Đồng Giang T Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập
ngày 24 tháng 06 năm 2024 tại Văn phòng C2 giữa bên tặng cho Nguyễn Thị X
với bên nhận tặng cho là anh Đồng Gia Đ.
[3.1] Về năng lực chủ thể hợp đồng:
Ông Đồng Văn N, Nguyễn Thị X, ông Đồng Giang C1, ông Đồng Gia Đ đều
người đầy đủ năng lực trách nhiệm Dân sự, đủ năng lực để giao kết hợp đồng,
việc ký hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc.
[3.2] Về hình thức và hiệu lực hợp đồng:
Các hợp đồng tặng cho giữa Nguyễn Thị X, ông Đồng Văn N với ông Đoàng
G1 Chiều ngày 16/9/2023, với ông Đồng Gia Đ ngày 24/6/2024 đều đảm bảo hình
thức, được công chứng, chứng thực, đảm bảo theo quy định tại Điều 459 Bộ luật Dân
sự. đã thực hiện việc điều chỉnh biến động quyền sử dụng đất tại quan thẩm
quyền nên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên đầy đủ điều kiện hiệu
lực của hợp đồng.
[3.3] Xét tính hợp pháp của các thửa đất là tài sản tặng cho:
Tại thời điểm X, ông N làm thủ tục tặng cho anh Đồng Gia Đ Đồng Giang
T thì các thửa đất được tặng cho không có ai tranh chấp, đất không thế chấp, không bị
kê biên hay áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật;
[3.4] Xét ý kiến của bà Nguyễn Thị V: tại thời điểm ký kết các hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất với anh Đồng Giang T và anh Đồng Gia Đ thì Nguyễn Thị
X vẫn còn đang nợ bà V số tiền 2.630.000.000 đồng nên việc bà X tặng cho các tài
7
sản nói trên giao dịch giả tạo, nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối
với bà V.”, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Việc tặng cho giữa ông Đồng Văn N,Nguyễn Thị X cho ông Đồng Giang T
và ông Đồng Gia Đ vào các ngày 16/9/2023 và ngay 24/6/2024.
Ngày 20/01/2025 Nguyễn Thị V đã khởi kiện yêu cầu X phải trả nợ
630.000.000 đồng đã được Toà án giải quyết tại quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự số 19 ngày 24/6/2025. Đối với khoản vay còn lại
2.000.000.000 đồng, V cho vay vào năm 2023 tuy nhiên khôngthỏa thuận thời
điểm trả nợ, khoản nợ này chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật của Toà án.
Như vậy, các hợp đồng tặng cho diễn ra trước khi bà V khởi kiện hoặc có Bản
án, quyết định có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền;
Ngoài ra Các tài sản là quyền sử dụng đất mà bà X, ông N tặng cho anh Đồng
Gia Đ và anh Đồng Giang T nói trên không phải là tài sản duy nhất của bà X. Theo
biên bản xác minh tại Văn phòng đăng đất đai khu vực E và Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 7- Đắk Lắk thì ngoài các tài sản nói trên hiện nay X và ông N còn
có 02 quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dung đất số K306929, thửa
đất số 65, tờ bản đồ số 07 diện tích 430m
2
tại thôn E,E và thửa đất số 512, tờ bản
đồ số 8 diện tích 1590m
2
địa chỉ buôn T, xã E theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BD 798271. Hiện nay 02 thửa đất này đang được thế chấp tại Ngân hàng S.
Mặt khác hiện nay Nguyễn Thị X đang được Thi hành án đối với các bản án, quyết
định đã hiệu lực pháp luật với số tiền được thi hành án là: 6.270.000. 000 đồng
(sáu tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng), ngoài ra Nguyễn Thị X không phải thi hành
bản án, quyết định nào của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
Nên ý kiến của Nguyễn Thị V cho rằng việc tặng cho giữa ông Đồng Văn N,
Nguyễn Thị X cho ông Đồng Giang T ông Đồng Gia Đ vào các ngày 16/9/2023
và ngay 24/6/2024 là nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ với bà V là không có
cơ sở để chấp nhận.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, nhận thấy yêu cầu kháng cáo của
nguyên đơn không có cơ sở để chấp nhận cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên
nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị V. Giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số Bản án số 24/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk.
8
[2] Áp dụng pháp luật:
- Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1, Điều 157; Điều 308; của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật pháp người chưa thành niên, Luật phá
sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án,
- Căn cứ các Điều 116; 117; 457; 459 Điều 500 của Bộ luật Dân sự; Điều
179, Điều 188 của Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/
2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị V về yêu
cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 16 tháng 09 năm 2023 tại
Văn phòng C2 giữa bên tặng cho Nguyễn Thị X, ông Đồng Văn N với bên nhận
tặng cho anh Đồng Giang T đối với thửa đất số 410, tờ bản đồ số 22; diện tích 104
m
2
tại Buôn M, E, tỉnh Đắk; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 24
tháng 06 năm 2024 tại Văn phòng C2 giữa bên tặng cho Nguyễn Thị X, ông
Đồng Văn N với bên nhận tặng cho anh Đồng Gia Đ đối với thửa đất số 366, tờ bản
đồ số 25; diện tích 110 m
2
tại Buôn T, E, tỉnh Đắk Lắk Hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất lập ngày 24 tháng 06 năm 2024 tại Văn phòng C2 giữa bên tặng
cho Nguyễn Thị X với bên nhận tặng cho anh Đồng Gia Đ đối với thửa đất số
200, tờ bản đồ số 01; diện tích 808 m
2
tại Thôn E E, xã E, tỉnh Đắk Lắk là vô hiệu.
[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản: Nguyên đơn
Nguyễn Thị V phải chịu 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) tiền xem
xét thẩm định tại chỗ và tiền chi phí định giá tài sản. Số tiền này bà V đã nộp đủ và
Toà án đã chi phí hết.
[4] Về án phí:
[4.1] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị V phải chịu 900.000 đồng (Chín trăm
ngàn đồng) tiền án phí Dân sự thẩm không giá ngạch. Được khấu trừ vào số tiền
900.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm V đã nộp tại Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Ea Kar (nay phòng thi hành án dân sự khu vực 7) theo biên lai số
AA/2023/0001090 ngày 09/4/2025.
[4.2] Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm
ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0001914 ngày 09/10/2025 của
Cơ quan Thi hành án Dân sự tỉnh Đ.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
9
Nơi nhận:
- Vụ giám đốc, kiểm tra II-TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 7 - Đắk Lắk (2);
- Phòng THADS khu vực 7 - Đắk Lắk
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Ngọc Minh
Tải về
Bản án số 132/2026/DS-PT Bản án số 132/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 132/2026/DS-PT Bản án số 132/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất