Bản án số 194/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 194/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 194/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 194/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N yêu cầu bị đơn ông Phạm Ngọc V trả lại cho bà N số tiền gốc 500.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất 1,2%/tháng, cụ thể
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 194/2026/DS-PT
Ngày: 05-3-2026
V/v “Tranh chấp Hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất, Hợp
đồng vay tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Hải.
Bà Phạm Thị Liên Hiệp.
- Thư phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Mai Thị Đào Quyên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05/02/2026 ngày 05/3/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 960/2025/TLPT-DS
ngày 17/12/2025, vviệc “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, Hợp
đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 101/2025/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực M - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 222/2026/QĐ-PT ngày
08 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm 1971 ( mặt);
Địa chỉ: Ấp T, T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay ấp T, L, tỉnh
Đồng Tháp).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Nguyễn Thị N:
Luật sư Nguyễn Thanh T - Văn phòng Luật Cao Minh T1 thuộc Đoàn Luật
tỉnh Đồng Tháp ( mặt).
2. Bị đơn: Ông Phạm Ngọc V, sinh năm 1971 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp B, T1, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay ấp B, M, tỉnh
Đồng Tháp);
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Huỳnh Thanh S,
sinh năm 1990 ( mặt); Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp
L, xã C, tỉnh Đồng Tháp) theo Giấy ủy quyền ngày 20/6/2025.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh
năm 1966 (vắng mặt, Đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay ấp T, L, tỉnh
Đồng Tháp).
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trnh bày: Do quen biết nên ngày
09/12/2020, N cho ông V vay số tiền 250.000.000 đồng, làm biên nhận
(nội dung bên giao tiền, phần chữ số của số tiền 250.000.000 đồng phần
do bà N ghi; ông V ghi nội dung bên nhận tiền và tên) thỏa thuận lãi suất
5%/tháng, thời hạn trả là khi ông V bán được đất sẽ trả vốn và lãi cho N. Để
đảm bảo khoản vay, bà N và ông V có tiến hành ký kết Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng (QSD) đất ngày 09/12/2020, nội dung ông V chuyển nhượng cho
N thửa đất số 481, tờ bản đồ số 16 tọa lạc tại ấp B, T1, huyện C, tỉnh Tiền
Giang; Hợp đồng chuyển nhượng này được công chứng tại Văn phòng Công
chứng Đ. Sau khi ký kết xong hợp đồng chuyển nhượng, N đã giao cho ông V
số tiền 250.000.000 đồng, sau đó ông V đưa lại cho N 01 tháng tiền lãi
12.500.000 đồng ông V trả tiền công chứng, dịch vụ khác liên quan đến việc
hợp đồng chuyển nhượng. Ngoài trả tiền lãi tháng đầu tiên, ông V không tr
thêm khoản tiền lãi và vốn nào nữa.
Đến ngày 12/9/2021, ông V mượn thêm của N 250.000.000 đồng,
làm biên nhận, nội dung là do ông V viết, trong biên nhận có cộng thêm
100.000.000 đồng tiền lãi của số tiền 250.000.000 đồng của biên nhận ngày
09/12/2020; lúc đầu thỏa thuận lãi 5%/tháng nhưng khi làm biên nhận ngày
12/9/2021 bớt lãi cho ông V còn 100.000.000 đồng, số tiền lãi này tính từ lúc
vay ngày 09/12/2020 đến ngày 12/9/2021. Số tiền 250.000.000 đồng theo Biên
nhận ngày 12/9/2021 số tiền mượn thêm không liên quan số tiền 250.000.000
đồng của biên nhận ngày 09/12/2020; thỏa thuận lãi vẫn là 5%/tháng thời hạn
trả khi ông V bán được đất. Sau khi làm xong Biên nhận ngày 12/9/2021, ông
V không trả tiền cho N nên ngày 13/5/2022, N đã làm giấy tờ sang tên
đất cho bà N. Từ lúc hợp đồng chuyển nhượng đến nay N chưa quản lý đất
và ông V cũng chưa bàn giao đất cho bà N.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N yêu cầu bị đơn ông Phạm Ngọc V trả lại cho
N stiền gốc 500.000.000 đồng tiền lãi với lãi suất 1,2%/tháng, cụ thể:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả số
3
tiền 500.000.000 đồng theo các biên nhận ngày 09/12/2020, ngày 12/9/2021
tiền i với lãi suất 1,2%/tng, cụ thể: Số tiền i theo biên nhận ngày 09/12/2020
tiền gốc 250.000.000 đồng, tính lãi từ ngày 09/12/2020 đến ngày 05/9/2025 là 56,5
tháng: 250.000.000 đồng x 56,5 tháng x 1,2%/tháng = 169.500.000 đồng; Số tiền
lãi theo Biên nhận ngày 12/9/2021 tiền gốc 250.000.000 đồng, tính lãi từ ngày
12/9/2021 đến ngày 05/9/2025 47,5 tháng: 250.000.000 đồng x 47,5 tháng x
1,2%/tháng = 142.500.000 đồng. Tổng cộng tiền lãi là 312.000.000 đồng. Đồng ý
cấn trừ số tiền 44.500.000 đồng vào số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn. Đối
với thửa đất số 481 và tài sản khác gắn liền với đất bà N sẽ chuyển nhượng lại ông
V khi ông V trả đtiền vốn lãi cho N. Ngoài ra, không yêu cầu Tòa án giải
quyết nội dung gì khác.
- Bị đơn ông Phm Ngọc V, người đại diện theo ủy quyền ông
Nguyễn Huỳnh Thanh S trình bày: Do nhu cầu sử dụng vốn nên ông V
vay của bà N số tiền 250.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, thời hạn trả thỏa thuận
khi nào bán đất strả. Việc vay mượn nêu trên làm biên nhận, biên nhận
được ký kết ngày 09/12/2020, trong biên nhận này ông V chỉ ghi htên của ông
V chỗ nhận tiền và ký tên, các nội dung khác do bà N ghi; nội dung ghi chuyển
nhượng QSD đất trong Biên nhận ngày 09/12/2020, thời điểm ông V tên
không ghi, vsau N ghi thêm khi nào ông V không biết. Để đảm bảo
khoản vay, N yêu cầu ông V hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 481,
tờ bản đồ số 16 tọa lạc tại ấp B, T1, huyện C, tỉnh Tiền Giang cho N vào
ngày 09/12/2020, hợp đồng chuyển nhượng này được công chứng tại Văn phòng
Công chứng Đ. Sau khi công chứng xong, N cấn trừ lại 12.500.000 đồng
tiền lãi phí công chứng 500.000 đồng, nên số tiền ông V thực nhận chỉ
237.000.000 đồng.
Đến ngày 12/9/2021, bà N yêu cầu ông V viết biên nhận có nợ bà N số tiền
250.000.000 đồng và tiền lãi 100.000.000 đồng. Số tiền 250.000.000 đồng này là
tiền vốn theo Biên nhận ngày 09/12/2020 100.000.000 đồng tiền i của số
tiền 250.000.000 đồng của Biên nhận ngày 09/12/2020, lúc mượn ngày
09/12/2020 thỏa thuận lãi 5%/tháng nhưng khi viết Biên nhận ngày 12/9/2021
N ông V thỏa thuận bớt lãi lại còn 100.000.000 đồng, số tiền lãi này là tính
từ lúc vay ngày 09/12/2020 đến ngày 12/9/2021. Ông V chỉ thừa nhận còn nợ của
N số tiền 250.000.000 đồng, đồng ý trả số tiền 250.000.000 đồng cho N
tiền lãi với lãi suất 1,2%/tháng tính từ ngày 09/12/2020 đến khi Tòa án đưa vụ án
ra xét xử. Việc chuyển nhượng nhằm đảm bảo khoản vay, do đó từ lúc ký hợp
đồng đến nay ông V chưa giao đất và nhà cho bà N.
Hiện nay trên phần đất thửa 481 bà N đang đứng tên có ông V và em ông V
là Trương Thế Anh sinh năm 1986 đang sinh sống. Theo ông V được biết bà N có
nhận 32.000.000 đồng tin bồi thường giải tỏa phần đất thửa 481. Do đó ông V ch
đồng ý trả khoản tiền 205.000.000 đồng sau khi đã khấu trừ số tiền 32.000.000
4
đồng bà N nhận bồi thường giải tỏa và tiền lãi với lãi suất 1,2%/tháng tính từ ngày
09/12/2020; đồng thời ông V yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất ngày 09/12/2020 giữa ông V N, u cầu hủy Giấy chứng
nhận QSD đất đã cấp cho N. Trường hợp Tòa án tuyên bố vô hiệu đề nghị Tòa
án giải quyết hậu quả pháp của hợp đồng hiệu ông V được quyền liên hệ
với cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận QSD đất.
Bị đơn ông Phạm Ngọc V đồng ý trcho nguyên đơn số tiền 250.000.000
đồng theo Biên nhận ngày 09/12/2020 tiền lãi với lãi suất 1,2%/tháng tính từ
ngày 09/12/2020 đến ngày 05/9/2025: 250.000.000 đồng x 56,5 tháng x
1,2%/tháng = 169.500.000 đồng; thay đổi một phần yêu cầu phản tố, yêu cầu cấn
trừ số tiền 44.500.000 đồng vào số tiền lãi phải trả cho nguyên đơn; yêu cầu
tuyên bố hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 09/12/2020; kiến nghị
quan thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận QSD đất cấp cho N; ông V
quyền liên hvới cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, khai cấp Giấy chứng
nhận QSD đất theo quy định pháp luật. Ngoài ra không yêu cầu Tòa án giải quyết
nội dung gì khác.
- Người quyền lợi, nghĩa vliên quan ông Nguyễn Văn H trình
bày: Ông Hai và bà N vợ chồng. Việc N cho ông V mượn tiền ông Hai
không biết. Số tiền 500.000.000 đồng N cho ông V mượn tiền riêng của
N không phải tiền chung của vợ chồng. Ông Hai không tranh chấp số tiền này với
bà N và cũng không yêu cầu ông V trả tiền cho ông Hai.
Tại Bản án dân sự thẩm số 101/2025/DS-ST ngày 05 tháng 9 m
2025 của Tòa án nhân dân khu vực M - Đồng Tháp đã xử:
1. Chp nhận một phần u cầu khởi kiện của ngun đơn Nguyễn
Th N.
Buộc ông Phạm Ngọc V nghĩa vụ trả Nguyễn Thị N số tiền vốn
250.000.000 đồng (hai trăm năm ơi triệu đồng) tiền lãi 125.000.000 đồng
(một trăm hai mươi lăm triệu đồng), tổng cộng 375.000.000 đồng (ba trăm bảy
mươi lăm triệu đồng).
K tngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi nh án nếu người
phải thi hành án chm thc hin nghĩa v theo ni dung quyết định này thì hàng
tháng phải trả tiền lãi theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ng vi s tin và thi gian chm thi hành án.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Nguyễn Thị N về việc buộc bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 250.000.000 đồng
theo Biên nhận ngày 12/9/2021 và tiền lãi với lãi suất 1,2%/tháng tính từ ngày
12/9/2021 đến ngày 05/9/2025 là 142.500.000 đồng.
5
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phạm Ngọc V về việc khấu
trừ số tiền 44.500.000 đồng vào số tiền còn nợ của Nguyễn Thị N; tuyên bố
Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông Phạm Ngọc V Nguyễn Thị N
do Văn phòng Công chứng Đ, tỉnh Tiền Giang công chứng số 1915, quyển số
01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/12/2020 đối với phần đất diện tích 149,7m2
thuộc thửa đất số 481, tờ bản đồ số 16, đất tọa lạc tại ấp B, T1, huyện C, tỉnh
Tiền Giang (nay là ấp B, xã M, tỉnh Đồng Tháp) là giao dịch dân sự vô hiệu.
4. Kiến nghị quan thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận QSD đất
theo quy định pháp luật.
Ông Phạm Ngọc V quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê
khai cấp Giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của Luật đất đai.
Ngoài ra bản án còn tun về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa
vụ thi hành án của c đương s theo quy định pháp lut.
Sau khi xét xsơ thẩm, ngày 08/9/2025, nguyên đơn Nguyễn Thị N
đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Giữ nguyên Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất thửa 481 do Sở Tài nguyên Môi trường cấp cho
Nguyễn Thị N ngày 13/5/2022;
- Buộc bị đơn Phạm Ngọc V phải trả lại cho khoản nợ vay 250.000.000
đồng theo Biên nhận nợ ngày 12/9/2021 cộng với tiền lãi từ ngày 12/9/2021 cho
đến nay theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Luật Nguyễn Thanh T bảo vệ quyn và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn
Nguyễn Thị N trình bày: Theo Biên nhận ngày 09/12/2020 Biên nhận ngày
12/9/2021 ông Phạm Ngọc V đã thừa nhận tên vào các biên nhận nợ này,
việc Tòa án cấp thẩm không chấp nhận số tiền ông V nợ N 250.000.000
đồng theo Biên nhận ngày 12/9/2021 là không có cơ sở; Căn cứ Điều 90, Điều 91
Bộ luật Tố tụng dân sự thì nghĩa vụ chứng minh ông V không còn nợ N
250.000.000 đồng theo Biên nhận ngày 12/9/2021 thuộc về ông V; Theo văn
bản ý kiến của ông V (bút lục 40-41) thể hiện ông V bán đất để trả nợ cho N.
vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của N sửa bản án
thẩm buộc ông V phải trả lại cho N khoản nợ vay 250.000.000 đồng theo Biên
nhận nợ ngày 12/9/2021, cộng với tiền lãi từ ngày 12/9/2021 cho đến nay theo
quy định của pháp luật.
- Nguyên đơn Nguyễn Thị N trình bày: Thống nhất trình bày của Lut
Nguyễn Thanh T như u trên. N xin rút lại u cầu kháng o đối với nội
dung: Giữ nguyên Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
6
gắn liền với đất thửa 481 do Sở Tài nguyên Môi trường cấp cho Nguyễn
Thị N ngày 13/5/2022.
- Bị đơn ông Phạm Ngọc V có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn
Huỳnh Thanh S trình bày: Việc ông V tên vào Biên nhận ngày 12/9/2021
chốt nợ lại số tiền ông V đã vay của N theo Biên nhận ngày 09/12/2020,
do ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ bà N trễ hạn 09 tháng. Yêu cầu Hội
đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn
Thị N và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tc kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị N thc
hin đúng quy định và hp l theo quy định của Bluật Tố tụng dân sự. Vviệc
tuân theo pháp luật tố tụng trong qtrình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng đã thc hiện đúng, đầy đủ quyền
nghĩa v tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung kháng cáo: Đề ngh Hội đng xét x áp dụng khon 1,
khoản 5 Điu 308 B lut T tng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của Nguyễn Thị N về việc sửa án sơ thẩm buộc bị đơn Phạm Ngọc V phải trả
lại cho khoản nvay 250.000.000 đồng theo Biên nhận nợ ngày 12/9/2021
cộng với tiền lãi từ ngày 12/9/2021 cho đến nay theo quy định của pháp luật, đình
chỉ kháng cáo của N về việc rút yêu cầu kháng cáo nội dung giữ nguyên
Giấy chứng nhận QSD đất thửa 481 do Sở Tài nguyên Môi trường cấp cho
Nguyễn Thị N ngày 13/5/2022, tuyên x giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
101/2025/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực M -
Đồng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm giải quyết
vụ án số: 447/PB-VKS-DS ngày 05/3/2026).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực M - Đồng Tháp thụ giải
quyết thẩm ván “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, Hợp đồng
vay tài sản” đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan htranh chấp thẩm
quyền của Tòa án.
7
Sau khi xét x sơ thm nguyên đơn Nguyễn Thị N không thng nht
bản án thẩm nên đã kháng cáo. Vic bà N nộp đơn kháng cáo vào ngày
08/9/2025 là trong thi hn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 B lut T tng
dân s, nên được xem xét gii quyết theo th tc phúc thm.
Ti phiên tòa phúc thm ông Nguyễn Văn H vắng mặt đơn yêu cầu
xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét x tiến hành xét x vng mt theo quy định
tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo: Xét kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị
N, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[2.1] Về bản chất pháp lý của Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông
Phạm Ngọc V và bà Nguyễn Thị N do Văn phòng Công chứng Đ, tỉnh Tiền
Giang công chứng số 1915, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/12/2020:
Bà N trình bày việc ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 09/12/2020
với giá 250.000.000 đồng giao dịch chuyển nhượng QSD đất. Tuy nhiên, trong
quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và tại đơn kháng cáo, bà N trình bày sau
khi hợp đồng, ông V có đnghị được chuộc lại đất trong thời hạn 06 tháng
bà N đã đồng ý. Việc bà N chấp nhận cho ông V chuộc lại QSD đất trong thời hạn
xác định cho thấy ý chí của các bên không hướng đến việc chuyển QSD đất một
cách dứt điểm, mà chỉ mang tính chất bảo đảm cho một giao dịch khác.
Mặt khác, sau khi kết hợp đồng, N chưa nhận đất, ông V cũng chưa
giao đất; N không quản lý, sdụng QSD đất theo hợp đồng. Việc không thực
hiện giao - nhận đất không phù hợp với bản chất của giao dịch chuyển nhượng
QSD đất đã hoàn tất.
Từ các tình tiết u trên, đủ căn cứ xác định Hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất ngày 09/12/2020 tuy được xác lập dưới hình thức chuyển nhượng nhưng
không phản ánh đúng ý chí thực sự của các bên khi giao kết, đồng thời là giao dịch
dân sự giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác theo quy định tại Điều 124 Bộ luật
n sự. Do đó, hợp đồng u trên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các
bên theo nội dung chuyển nhượng đã ký kết; các bên có trách nhiệm khôi phục lại
tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên
bố Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất trên hiệu căn cứ, đúng quy định
pháp luật.
N kháng cáo cho rằng hợp đồng chuyển nhượng không phải giao
dịch giả tạo không phợp với chính lời khai sự thừa nhận của N trong
quá trình giải quyết vụ án, nên không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Về yêu cầu giữ nguyên Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà
và tài sản khác gắn liền với đất thửa 481 do Sở Tài nguyên Môi trường cấp
cho Nguyễn Thị N ngày 13/5/2022. Tại phiên tòa phúc thẩm bà N xin rút lại
8
yêu cầu kháng cáo đối với nội dung này. Hội đồng xét xử xét thấy đây stự
nguyện của đương sự, không trái pháp luật, nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối
với yêu cầu kháng cáo này của đương sự.
[2.4] Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N buộc bị
đơn ông Phạm Ngọc V phải trả lại cho bà N khoản nợ vay 250.000.000 đồng theo
Biên nhận nợ ngày 12/9/2021 cộng với tiền lãi tngày 12/9/2021 cho đến nay
theo quy định ca pháp luật, xét thấy như sau:
Theo Biên nhận ngày 09/12/2020, ông Phạm Ngọc V nhận của Nguyễn
Thị N số tiền 250.000.000 đồng; mặc biên nhận ghi do chuyển nhượng
QSD đất, nhưng các tình tiết được làm rõ trong quá trình giải quyết vụ án cho thấy
việc giao tiền nhằm mục đích vay, thỏa thuận về lãi suất thời hạn trả nợ,
không phát sinh việc chuyển nhượng QSD đất trên thực tế. Do đó, căn cứ xác
định số tiền 250.000.000 đồng là tiền vay phát sinh giữa các bên.
Đối với Biên nhận ngày 12/9/2021, nội dung thể hiện ông V nhận số tiền
250.000.000 đồng và tiền lãi 100.000.000 đồng, tổng cộng 350.000.000 đồng; tuy
nhiên, biên nhận này không thể hiện việc vay thêm hoặc xác lập một khoản vay
mới. Số tiền 250.000.000 đồng ghi trong Biên nhận ngày 12/9/2021 trùng khớp
với số tiền theo Biên nhận ngày 09/12/2020. Đồng thời, các đương sthống nhất
số tiền lãi 100.000.000 đồng ghi trong Biên nhận ngày 12/9/2021 tiền lãi của
khoản vay 250.000.000 đồng theo Biên nhận ngày 09/12/2020, được tính từ ngày
09/12/2020 đến ngày 12/9/2021. Tại phiên tòa phúc thẩm N cho rằng ngày
12/9/2021 có đến phòng làm việc của ông V tại UBND Xã để giao số tiền mặt
250.000.000 đồng, khi đó chỉ có mặt của bà và ông V ngoài ra không có ai chứng
kiến, do nhận tiền nên ông V mới viết Biên nhận ngày 12/9/2021, tuy nhiên
ngày 12/9/2021 ngày chnhật không phải ngày làm việc chính thức, mặt
khác việc này cũng không được ông V thừa nhận cho rằng Biên nhận ngày
12/9/2021 để chốt lại biên nhận nvay ngày 09/12/2020 khoản lãi phải trả
đến ngày 12/9/2021 cho bà N, xét trình bày của ông V là phù hợp tình tiết khách
quan của vụ án.
N cho rằng số tiền 250.000.000 đồng ghi trong Biên nhận ngày
12/9/2021 khoản vay mới; tuy nhiên, ông V không thừa nhận nội dung này
bà N không xuất trình được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh có việc giao
nhận thêm tiền ngoài khoản vay đã phát sinh trước đó. Hơn nữa, chính N còn
thừa nhận khi giao tiền ngày 09/12/2020 đã tự trừ trước 12.500.000 đồng tiền i
của tháng đầu tiên từ thời điểm đó đến ngày 12/9/2021 ông V không trả vốn,
lãi, cho thấy khoản vay đã được thực hiện liên tục Biên nhận ngày 12/9/2021
chỉ nhằm xác nhận, chốt lại số tiền gốc và lãi của khoản vay này.
Do đó, Tòa án cấp thẩm xác định Biên nhận ngày 12/9/2021 chỉ là văn
bản chốt số tiền gốc lãi của khoản vay ngày 09/12/2020, không làm phát sinh
9
nghĩa vụ trnợ mới, đồng thời xác định tổng stiền vốn ông V vay của N
250.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.5] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp
sơ thẩm đã xác định đúng bản chất quan hệ pháp luật, đánh giá đúng chứng cứ
áp dụng đúng quy định của pháp luật. N kháng cáo nhưng không cung cấp
được chứng cứ mới làm thay đổi ni dung bản án thẩm, nên không căn cứ
chấp nhận kháng cáo của bà N.
[3] Đối với quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc
thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên
chấp nhận.
[4] Đối với ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên
đơn không phù hợp với các nhận định của Hội đồng xét xử nêu trên, nên không
được chấp nhận.
[5] Về án phí: Do kháng o của Nguyễn Thị N không được chấp
nhận, nên bà N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các phn khác ca bn án thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khon 1, khoản 5 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyễn Thị N về việc buộc
bị đơn ông Phạm Ngọc V phải trả lại cho N khoản nợ vay 250.000.000 đồng
theo Biên nhận nợ ngày 12/9/2021 cộng với tiền lãi từ ngày 12/9/2021 cho đến
nay theo quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của Nguyễn
Thị N về việc yêu cầu giữ nguyên Giấy chứng nhận QSD đất thửa 481 do Sở Tài
nguyên và Môi trường cấp cho bà Nguyễn Thị N ngày 13/5/2022.
3. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm s: 101/2025/DS-ST ngày 05 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực M - Đồng Tháp.
4. Án p n sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 29 của Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án p và lệ phí Tòa án.
Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002229 ngày 08/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Tháp.
10
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- a Phúc thẩm TANDTC tại TP. HCM;
- VKSND Tỉnh;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND Tỉnh;
- TAND Khu vực M - ĐT;
- Phòng THADS Khu vực M - ĐT;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Tải về
Bản án số 194/2026/DS-PT Bản án số 194/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 194/2026/DS-PT Bản án số 194/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất