Bản án số 197/2026/DS-PT ngày 09/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 197/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 197/2026/DS-PT ngày 09/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 197/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ngân hàng phải trả cho ông B số tiền gốc + lãi đã thu vượt trên số tiền bảo lãnh của ông B với ông T là 2.277.412.000 đồng (hai tỷ hai trăm bảy mươi bảy triệu bốn trăm mười hai nghìn đồng). Đồng thời kể từ ngày 06/11/2024 trở đi Ngân hàng phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất mà Ngân hàng đã tính với ông B là 0,0332%/01 ngày tương đương 0,996%/01 tháng. Ngoài ra, ông B không yêu cầu gì đối với ông Nguyễn Thanh T vì ông B chấp nhận trả khoản nợ vay gồm gốc và lãi mà ông B đã bảo lãnh cho ông T vay vốn với số tiền 500.000.000 đồng tại Ngân hàng. Sau đó ông Nguyễn Văn B rút yêu cầu đối với yêu cầu tính lãi đã thu vượt trên số tiền bảo lãnh của ông B với ông T và kể từ ngày 06/11/2024 trở đi Ngân hàng phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất mà Ngân hàng đã tính với ông B là 0,0332%/01 ngày tương đương 0,996%/01 tháng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 197/2026/DS-PT
Ngày: 09-3-2026
V/v “Tranh chấp đòi lại tài
sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm.
Bà Phạm Thị Liên Hiệp.
- Thư phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Thanh Mến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03/02/2026, ngày 03/3/2026 ngày 09/3/2026 tại trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý
số: 874/2025/TLPT-DS ngày 17/12/2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 29/2025/DS-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực S - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 218/2026/QĐ-PT
ngày 08/01/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Văn B, sinh năm 1963;
Địa chỉ: SA, đường N, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay
phường C, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế H, sinh
năm 1960 theo Hợp đồng y quyền ngày 03/3/2025 (có mặt); Địa chỉ: Tổ A,
khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp).
2. Bị đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần T4;
Địa chỉ: Tầng D, 5, 6 Tòa nT, Ô đất P Khu đô thị C, phường C, Thành
phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Cao Thị Thúy N, chức vụ: Chủ tịch
Hội đồng Quản trị;
Người đại diện theo ủy quyền của N: Ông Nguyễn Văn H1, chức vụ:
Giám đốc Chi nhánh Đ - Ngân hàng TMCP T4 (theo Quyết định ủy quyền số
203/2025/QĐ-CTHĐQT ngày 05/5/2025);
2
Địa chỉ: Số A, đường N, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H1: Ông Đỗ Văn Q, chức vụ: Phó
giám đốc Chi nhánh Đ - Ngân hàng TMCP T4 theo Giấy ủy quyền ngày
18/6/2025 (ông Q có mặt ngày 03/3/2026, vắng mặt ngày 09/3/2026).
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh T, sinh
năm 1972 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp D, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn n B trình bày: Vào ngày 20/08/2012, ông
B kết Hợp đồng thế chấp bằng quyn sử dụng đất số: 294A/2012/HDBL-
CN/PGB-ĐT để đảm bảo cho ông Nguyễn Thanh T vay số tiền 500.000.000
đồng. Đến ngày 27/02/2014 thì phát sinh nợ quá hạn (theo bảng nh i của
Ngân ng TMCP X - Chi nhánh Đ ny 04/12/2020). Thế nhưng Ngân hàng
Thương mại cổ phần T4 (trước đây là Ngân hàng TMCP X viết tắt là Ngân hàng
H3) lại thu hồi vượt nợ gốc tính lãi cho ông B 990.000.000 đồng, trong đó số
tiền gốc 490.000.000 đồng là số tiền do ông Nguyễn n T1 bảo lãnh cho ông T,
ông B chỉ bảo nh cho ông T số tiền 500.000.000 đồng. do: Ngân ng yêu
cầu ông B trả luôn phần ông Nguyn n T1 bảo nh cho ông T tổng cộng
990.000.000 đồng (ông B chỉ bảo lãnh 500.000.000 đồng), nếu ông B trả hết
phần này thì Ngân hàng mi giải chấp 05 nền nhà tại thị trấn M, huyện T mà ông
B đã thế chấp bảo đảm cho ông T vay tại Ngân hàng. Nhưng khi ông B trả xong
nợ (990.000.000 đồng) thì Ngân hàng vẫn không giải chấp mà lấy tài sản này của
ông B đemn cho ông V chuyn tiền vào tài khoản của ông T để trừ số nợ gốc +
lãi, với tổng số tiền: 605.000.000 đồng, nhưng Ngân hàng lại không xử lý tài sản
của ông T1 (tài sản thế chấp bảo đảm cho ông T vay 490.000.000 đồng, gồm diện
tích: 19.601m², thuộc các thửa số 76, 94, 664, tờ bản đồ số 01, đất toạ lạc tại xã B,
huyện C, tỉnh Đồng Tháp) mà lại ép buộc ông B phải bán tài sản là 05 nền nhà tại
thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để trả nợ thay cho ông T1.
Ông B nộp tiền 04 lần vào Ngân hàng cụ thể như sau:
+ Lần 1: Ngày 24/12/2018, nộp 450.000.000 đồng thông qua tài khoản
của cán bộ Ngân hàng ông Đoàn Đình Q1 nội dung là: Đoàn Đình Q1 trả nợ
gốc HDTD 294/2012 Nguyễn Thanh T.
Ông B không yêu cầu đối với ông Đoàn Đình Q1 số tiền đã được
chuyển vào tài khoản của ông T và số tiền 450.000.000 đồng là của ông B.
+ Lần 2: Ngày 21/12/2020 ông B nộp 540.000.000 đồng nội dung ông
Nguyễn Văn B NTM vào TK KH Nguyễn Thanh T
+ Lần 3: Ngày 24/3/2021, ông Nguyễn Quốc V ( người nhận chuyển
nhượng 05 thửa đất của ông B) chuyển vào tài khoản ông Nguyễn Thanh T số
tiền 605.000.000 đồng. Số tiền bán đất 4.900.000.000 đồng: ông C cho
Ngân hàng số tiền 605.000.000 đồng, số tiền còn lại ông V trả cho ông B. Do
3
đó, ông B không tranh chấp đối với ông V về việc chuyển nhượng đất trong
vụ án này. Số tiền 605.000.000 đồng là ông Vũ N1 thay ông B vào tài khoản của
ông T tại Ngân hàng.
+ Lần 4: ông B nộp tiền tại Ngân hàng số tiền 300.000.000 đồng, sau đó
nộp biên lai cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh nhưng nộp tiền tại
Ngân hàng và Chi cục Thi nh án thời gian nào tsự việc quá lâu nên không
nhớ và không sao lục được tài liệu nộp cho Tòa án.
Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự s
109/2017/QĐST-DS ngày 19/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh:
“Ông Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Văn B bà Phạm Kim T2 đồng ý trả cho
Ngân hàng TMCP X số tiền vay 504.000.000 đồng tiền lãi tính đến ngày
10/7/2017 là 320.265.000 đồng, tổng cộng 824.265.000 đồng (tám trăm hai
mươi bốn triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đng).
do ông B không nộp trả số tiền trên vào tài khoản của ông Ngân
hàng không nhận tiền của ông B, hướng dẫn ông nộp vào tài khoản của ông T
nếu ông không nộp vào tài khoản của ông T thì khi nợ quá hạn, Ngân hàng sẽ
yêu cầu quan Thi hành án biên, phát mãi tài sản ông B thế chấp để bảo
đảm cho khoản vay của ông T, nên ông B phải trả np tiền vào tài khoản ông T
để bảo vệ tài sản của mình. Việc ông B bNgân hàng É thể hiện qua biên bản về
việc giải quyết việc thi nh án ngày 16/3/2021 của Chi cục Thi hành án huyện
Cao Lãnh nhưng biên bản này ghi không đúng lời trình bày của ông.
Ông B xác định cụ thể số tiền Ngân hàng thu thực tế của ông là
1.895.000.000 đồng. Nhưng ông B chấp nhận trả khoản nợ vay gồm gốc lãi
mà ông B đã bảo lãnh cho ông T vay vốn với số tiền 824.265.000 đồng tại Ngân
hàng. Đối với ông Nguyễn Thanh T, Nguyễn Văn T1, Phạm Kim T2 không
văn bản ủy quyền cho ông Nguyễn Văn B về việc trả tiền cho Ngân hàng và ông
B cũng không yêu cầu đối với ông Nguyễn Thanh T, Nguyễn Văn T1, Phạm
Kim T2 trong vụ án này.
Ông B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ngân hàng phải trả cho
ông B số tiền gốc + lãi đã thu vượt trên số tiền bảo lãnh của ông B với ông T
2.277.412.000 đồng (hai tỷ hai trăm bảy mươi bảy triệu bốn trăm ời hai nghìn
đồng). Đồng thời kể từ ngày 06/11/2024 trở đi Ngân hàng phải trả lãi trên số tiền
chậm trả theo lãi suất mà Ngân hàng đã tính với ông B là 0,0332%/01 ngày tương
đương 0,996%/01 tháng. Ngoài ra, ông B không u cầu đối với ông Nguyễn
Thanh T ông B chấp nhận trả khoản nợ vay gồm gốc lãi mà ông B đã bảo
lãnh cho ông T vay vốn với số tiền 500.000.000 đồng tại Ngân hàng.
Sau đó ông Nguyễn Văn B rút yêu cầu đối với yêu cầu tính lãi đã thu vượt
trên số tiền bảo lãnh của ông B với ông T kể từ ngày 06/11/2024 trở đi Ngân
hàng phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất mà Ngân hàng đã tính với ông
B là 0,0332%/01 ngày tương đương 0,996%/01 tháng.
Ông Nguyễn Văn B yêu cầu triệu tập ông Đoàn Đình Q1 ông Nguyễn
Quốc V đến tham gia phiên tòa để xác nhận số tiền ông đã nộp tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần T4 và Phát T3 là tiền của ông.
4
- Bị đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần T4, người đại diện theo
ủy quyền ông Đỗ Văn Q trình bày: Ông Nguyễn Thanh T quan hệ vay
vốn tại Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh Đ (Nay Ngân hàng TMCP T4), theo
các hợp đồng tín dụng cụ thể:
1. Hợp đồng hạn mức tín dụng ngắn hạn số 294/2012/HĐHM/NH-
TN/PGB ký ngày 28/06/2012 Phụ lục hợp đồng số 01/294/2012/HĐHM/NH-
TN/PGB ngày 20/08/2012, với các nội dung chính: Số tiền hạn mức vay:
1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng); Thời hạn hạn mức: 36 tháng, kể từ ngày
28/06/2012; Giấy nhận nợ số 05/294/2012/HMTD/NH-TN/GNN ngày
30/08/2013, số tiền nhận nợ: 990.000.000 đồng (chín trăm chín mươi triệu
đồng), ngày đến hạn: 30/08/2014.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay quyền sử dụng đất tài sản gắn liền
với đất của bên thứ ba.
Việc này được giải quyết bằng Quyết định công nhận sthỏa thuận của
các đương sự số 109/2017/QĐST-DS ngày 19/7/2017 của Tòa án nhân dân
huyện Cao Lãnh theo đó:
+ Ngày 24/12/2018: Ông Đoàn Đình Q1 nộp 450.000.000 đồng vào tài
khoản của ông T để trả nợ gốc;
+ Ngày 21/12/2020: Ông Nguyễn Văn B tự nguyện nộp 540.000.000 đồng
vào tài khoản của ông T để trả nợ gốc.
Tổng lãi phát sinh đến ngày 03/01/2021 là 1.256.003.281 đồng.
+ Ngày 24/03/2021: Ông Nguyễn Quốc V nộp 605.000.000 đồng vào tài
khoản ông Nguyễn Thanh T để tất toán khoản vay.
Căn cứ theo Hợp đồng vay vốn Quyết định công nhận sự thỏa thuận
giữa các bên, tính đến ngày 1/3/2021 thì ông Nguyễn Thanh T ông Nguyễn
Văn T1, phải trả số tiền ngốc 490.000.000 đồng nợ lãi 570.910.582
đồng. Tổng cộng: 1.060.910.582 đồng.
Ông Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Văn B Phạm Kim T2, phải trả
số tiền ngốc 504.000.000 đồng nợ lãi: 685.092.699 đồng. Tổng cng:
1.189.092.699 đồng.
Thực tế, khi tất toán khoản vay, Ngân hàng đã miễn giảm cho ông Nguyễn
Thanh T với số tiền là: 651.003.281 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bên thực
nộp nợ gốc là 990.000.000 đồng và n lãi: 605.000.000 đồng. Tổng cộng:
1.595.000.000 đồng. Trong đó, chứng từ ghi nhận ông Nguyễn Văn B chỉ trực
tiếp nộp số tiền 540.000.000 đồng vào tài khoản của ông Nguyễn Thanh T để
Ngân hàng thu gốc nvay. Trong khi theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận
của các đương sự số 109/2017/QĐST-DS ngày 19/7/2017 của Tòa án nhân dân
huyện Cao Lãnh: “Ông Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn Văn B Phạm Kim
T2 đồng ý trả cho Ngân hàng TMCP X số tiền vay 504.000.000 đồng tiền
lãi tính đến ngày 10/7/2017 320.265.000 đồng, tổng cộng 824.265.000 đồng
(tám trăm hai mươi bốn triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Bên có nghĩa
vụ còn phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng số
5
294/2012/HĐHM/NH-TN/PGB ngày 29/6/2012 Phụ lục hợp đồng số
01/294/2012/HĐHM/NH-TN/PGB ngày 20/8/2012.”
Nay Ngân hàng không yêu cầu ông Nguyễn Văn B trong vụ án này,
ông Nguyễn Thanh T đã tất toán xong Hợp đồng hạn mức tín dụng ngắn hạn số
294/2012/HĐHM/NH-TN/PGB ngày 28/06/2012 và Phụ lục hợp đồng số
01/294/2012/HĐHM/NH-TN/PGB ký ngày 20/08/2012 vào ngày 24/3/2021.
Ngân hàng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B
vì số tiền ông B nộp vào tài khoản ca ông Nguyễn Thanh T là để trả nợ cho ông
T theo thỏa thuận của các bên vay và bên bảo lãnh hoàn toàn tự nguyện. Số
tiền thanh toán nằm trong giới hạn nghĩa vụ theo hợp đồng theo Quyết định
công nhận của Tòa án.
Về việc giải chấp tài sản bảo lãnh của ông Nguyễn Văn B: Ngân hàng chỉ
giải chấp tài sản sau khi nghĩa vụ thanh toán khoản vay được hoàn thành. Việc
chuyển nhượng tài sản của ông B giao dịch dân sự độc lập do hai bên chuyển
nhượng thực hiện, Ngân hàng không tham gia. Ông B người trực tiếp nhận
giấy tờ tài sản tại Ngân hàng để thực hiện giao dịch.
vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B yêu cầu Ngân
hàng trả cho ông Nguyễn Văn B số tiền 1.070.735.000 đồng thì Ngân hàng
không đồng ý. Ngân hàng yêu cầu xem xét thời hiệu khởi kiện.
Tại bn án dân sthẩm số: 29/2025/DS-ST ngày 10/9/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực S - Đồng Tháp (viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn B về việc: yêu cầu tính
lãi đã thu vượt trên số tiền bảo lãnh của ông Nguyễn Văn B với ông Nguyễn
Thanh T và kể tngày 06/11/2024 trở đi Ngân hàng Thương mại cổ phần T4
phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất mà Ngân hàng đã tính với ông B
0,0332%/01 ngày tương đương 0,996%/01 tháng.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn B
yêu cầu Ngân hàng Thương mại cổ phần T4 trả cho ông Nguyễn Văn B số tiền
là 1.070.735.000 đồng.
Ngoài ra bn án còn tuyên về án p, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyn kng
cáo, quyn và nghĩa vụ thi hành án của c đương sự theo quy định pháp lut.
Sau khi xét xử thẩm. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B nộp đơn kháng cáo
đề ngày 22/9/2025 vào ngày 29/9/2025, kháng cáo u cầu Tòa án cấp phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm theoớng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc
Ngân hàng Tơng mại cổ phần T4 trả cho ông số tiền là 770.735.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B ủy quyền cho ông Nguyễn Thế H đại
diện trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông B theo
Đơn kháng cáo ngày 22/9/2025 Đơn kháng cáo bổ sung ngày 03/3/2026. Sửa
bản án thẩm theo đó buộc Ngân hàng Thương mại cổ phần T4 Phát T3 trả
6
cho ông B số tiền 770.735.000 đồng (gồm số tiền ông B đã nộp cho Ngân
hàng 1.595.000.000 đồng - số tiền 824.265.000 đồng theo Quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 109/2017/QĐST-DS ngày 19/7/2017
của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh), ông B thay đổi yêu cầu khởi kiện không
yêu cầu Ngân hàng trả số tiền 1.070.735.000 đồng mà ông B yêu cầu Ngân hàng
trả số tiền là 770.735.000 đồng như nêu trên. Bởi các căn cứ như sau:
+ Ông B chỉ nghĩa vụ trả bảo lãnh cho ông Nguyễn Thanh T số tiền
824.265.000 đồng theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số
109/2017/QĐST-DS ngày 19/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh
nhưng đến ngày 21/12/2021 ông B đã nộp cho Ngân hàng số tiền 990.000.000
đồng. Ông B không có yêu cầu ông Nguyễn Quốc V chuyển khoản số tiền mà ông
V mua 05 nền nhà của ông Bông kết H2 với Ngân hàng tự lấy tiền bán đất
của ông B chuyển vào tài khoản của ông T 605.000.000 đồng để trả nợ cho ông T
vi phạm pháp luật nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền lợi của ông B.
+ Căn cứ vào biên bản về việc thỏa thuận thi hành án ngày 15/01/2020,
ông B đã trả xong phần bảo lãnh. Căn cứ vào biên bản về việc thỏa thuận thi
hành án ngày 04/12/2020 Ngân hàng yêu cầu ông B trả thêm 540.000.000 đồng
sẽ giải chấp cho ông B 2-3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng sau khi
trả xong thì Ngân hàng cố tình không giải quyết 05 nền thị trấn M, huyện T,
tỉnh Đồng Tháp, nên đã vi phạm Hợp đồng bảo lãnh tín dụng số 294 năm 2012.
+ Ngân hàng quản lý 05 nền nhà của ông B để ép buộc ông Nguyễn Quốc
V người mua đất nộp tiền cho Ngân hàng 605.000.000 đồng trả cho ông T
ngày 24/3/2021.
+ Căn cứ Thông báo số 28/TB-CCTHADS ngày 10/3/2021 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Cao Lãnh về kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng tài sản
chung hộ nhưng Chi cục Thi hành án Ngân hàng không thực hiện theo Thông
báo số 28/TB-CCTHADS mà ép buộc ông B bán 05 nền nđể cấn trừ việc bảo
lãnh của ông T1 cho ông T vi phạm pháp luật nghiêm trọng gây thiệt hại cho
ông B. Trong trường hợp dấu hiệu tội phạm đề nghị Tòa án chuyển quan
điều tra Công an Tỉnh khởi tố hình sự tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy
định tại Điều 172 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Bị đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần T4 có đại diện hợp pháp theo ủy
quyền là ông Đỗ Văn Q trình bày: Không thống nhất theo kháng cáo của ông B,
bởi vì Ngân hàng thu hồi nợ từ tài khoản của ông T chứ không thu hồi nợ từ ông
B. Việc ông B nộp vào tài khoản của ông T là tự nguyện thỏa thuận giữa họ. Sau
khi ông T trả xong nợ thì Ngân hàng đã tất toán xong Hợp đồng. Số tiền thanh
toán nằm trong giới hạn nghĩa vụ theo Hợp đồng và theo Quyết định của Tòa án.
vậy, yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông B, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
7
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tc kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B thc
hiện đúng quy đnh và hp l theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân
theo pháp luật của Thẩm phán, Hi đồng xét x và Thư ký phiên tòa kể từ khi th
lý v án đến thời điểm xét x phúc thẩm đã chấp hành và thc hiện đúng, đầy đủ
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thc hin
đúng, đầy đủ quyền và nghĩa v tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét x áp dụng khoản 1 Điều 308 B
lut T tng n sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn
B; tuyên x giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 29/2025/DS-ST ngày
10/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực S - Đồng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm giải quyết
vụ án số: 448/PB-VKS-DS ngày 03/3/2026).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực S - Đồng Tháp thụ giải
quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sảnđúng quy định tại khon 2
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng
dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét x sơ thẩm
nguyên đơn ông Nguyễn Văn B không thng nhất bản án thẩm nên đã kháng
cáo. Vic ông B nộp đơn kháng cáo đngày 22/9/2025 vào ngày 29/9/2025 là
trong thi hn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ lut T tng dân s, nên
đưc xem xét gii quyết theo th tc phúc thm.
Ti phiên tòa phúc thm ông Nguyễn Thanh T vắng mặt sau khi được Tòa
án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét x tiến hành xét x vng
mặt theo quy đnh tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] V ni dung: Nguyên đơn Nguyễn Văn B cho rằng theo Quyết định
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 109/2017/QĐST-DS ngày
19/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh thì ông Nguyễn Thanh T, ông
Nguyễn Văn B Phạm Kim T2 đồng ý trcho Ngân ng TMCP X (nay
Ngân hàng Thương mại cổ phần T4) stiền vay 504.000.000 đồng tiền lãi
tính đến ngày 10/7/2017 320.265.000 đồng, tổng cộng 824.265.000 đồng,
theo đó ông B chỉ chấp nhận trả khoản nợ vay gồm gốc lãi mà ông đã bảo
lãnh cho ông T vay vốn với số tiền 824.265.000 đồng tại Ngân ng. Nhưng
thực tế Ngân hàng đã thu của ông B số tiền 1.895.000.000 đồng đã vượt số tiền
824.265.000 đồng 1.070.735.000 đồng. vậy, ông B khởi kiện yêu cầu bị
8
đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần T4 trả cho ông B số tiền 1.070.735.000
đồng. Bị đơn không thống nhất theo khởi kiện của nguyên đơn, bởi số tiền
ông B nộp vào tài khoản của ông Nguyễn Thanh T là để trả nợ cho ông T, theo
thỏa thuận của các bên vay bên bảo lãnh hoàn toàn tnguyện. Số tiền
thanh toán nằm trong giới hạn nghĩa vụ theo hợp đồng theo Quyết định công
nhận của Tòa án. Trong đó, chứng từ ghi nhận ông Nguyễn Văn B chỉ trực tiếp
nộp số tiền: 540.000.000 đồng vào tài khoản của ông Nguyễn Thanh T để Ngân
hàng thu gốc nợ vay. Điều này đã làm phát sinh tranh chấp đòi lại tài sản giữa
các đương sự.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B yêu cầu Ngân hàng
Thương mại cổ phần T4 trả cho ông B số tiền là 770.735.000 đồng không
cơ sở. Bởi các căn cứ như sau:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh việc bị đơn Ngân hàng TMCP X (nay Ngân hàng Thương mại cổ
phần T4) đã ép buộc ông B phải nộp số tiền 770.735.000 đồng vào tài khoản của
ông T để trả nợ cho Ngân hàng, nên Ngân hàng phải trách nhiệm hoàn trả lại
cho ông B số tiền 770.735.000 đồng, mặt khác việc này cũng không được phía
bị đơn thừa nhận.
- Tại Tòa án ông B cho rằng lý do không nộp trả số tiền trên vào tài khoản
của ông Ngân hàng không nhận tiền của ông B, hướng dẫn ông nộp vào tài
khoản của ông T, nếu ông không nộp vào tài khoản của ông T tkhi nợ quá
hạn, Ngân hàng sẽ yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mãi tài sản ông thế
chấp để bảo đảm cho khoản vay của ông T, nên ông phải trả nộp tiền vào tài
khoản ông T để bảo vệ tài sản của mình, việc ông bNgân hàng É thể hiện theo
Biên bản về việc giải quyết việc thi hành án ngày 16/3/2021 của Chi cục Thi
hành án huyện Cao Lãnh. Tuy nhiên, đối chiếu với Biên bản về việc giải quyết
việc thi hành án ngày 16/3/2021 không thể hiện nội dung sự việc nông B
trình bày mà chỉ ghi nhận ý kiến trình bày của ông B về việc thỏa thuận giao kết
hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông B và ông Nguyễn Quốc V nghĩa
vụ thanh toán của ông B ông V với Ngân hàng TMCP X. Mặt khác, ông B
cho rằng Biên bản này ghi không đúng lời trình bày của ông nhưng ông B cũng
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình
có cơ sở.
- Việc ông Nguyễn Văn B yêu cầu Ngân hàng Thương mại cổ phần T4 trả
cho ông Nguyễn Văn B số tiền là 770.735.000 đồng. Xét thấy ông B đã tự
nguyện trả nợ cho Ngân hàng TMCP X (nay Ngân hàng Thương mại cổ phần
T4) theo Quyết định công nhận s thỏa thuận của các đương sự số
109/2017/QĐST-DS ngày 19/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh cho
cả ông Nguyễn Thanh T, Nguyễn Văn T1, Phạm Kim T2 nhưng không ủy
9
quyền của ông T, ông T1 bà T2, đồng thời ông B cũng không yêu cầu đối
với ông T ông T1, T2 trong vụ án này. vậy, không sở xác định
trách nhiệm của ông T, ông T1 bà T2 đối với ông B theo quy định tại Điều
146, Điều 574 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, như phân tích trên cũng
không có cơ sở xác định trách nhiệm của Ngân hàng phải hoàn trả lại cho ông B
số tiền 770.735.000 đồng theo yêu cầu khởi kiện của ông B.
[4] Tại phiên tòa ông Nguyễn Thế H đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn ông Nguyễn Văn B vẫn giữ nguyên u cầu kháng cáo của ông B u cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, buộc Ngân hàng Thương mại cổ phần T4 trả cho ông số tiền
770.735.000 đồng (1.070.735.000 đồng - 300.000.000 đồng do ông B không
cung cấp đchứng từ), đồng thời cung cấp Bảng ghi ý kiến ngày 04/3/2026 của
ông B. Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của ông H đại diện cho nguyên đơn n
nêu trên không đủ căn cứ, đồng thời phía nguyên đơn cũng không cung cấp
được i liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng o của mình có sở
như đã phân tích trên, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] T sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
ca ông Nguyễn Văn B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ s và ph hp pháp lut, nên
được chấp nhận.
[7] Về án phí: Do kháng cáo ca ông Nguyễn n B không được chấp
nhận, n phi chu án phí dân s phúc thm. Tuy nhiên, do ông B thuộc trường
hợp người cao tuổi và có đơn đề nghị được miễn án phí, nên được xét miễn án phí
theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghquyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phn khác ca bn án thm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khon 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B;
2. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 29/2025/DS-ST ngày 10/9/2025
của Tòa án nhân dân Khu vực S - Đng Tháp.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
10
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Tòa án.
Ông Nguyễn Văn B được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án n sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP. HCM;
- VKSND Tỉnh;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND Tỉnh;
- TAND Khu vực S - ĐT;
- Phòng THADS Khu vực S - ĐT;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Tải về
Bản án số 197/2026/DS-PT Bản án số 197/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 197/2026/DS-PT Bản án số 197/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất