Bản án số 173/2026/HS-PT ngày 09/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 173/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 173/2026/HS-PT ngày 09/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 173/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Ngọc T cướp giật tài sản trị giá 25.000.000 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 173/2026/HS-PT Bản án số 173/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 173/2026/HS-PT Bản án số 173/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PH ĐÀ NNG
–––––––––––––––
Bản án số: 173/2026/HS-PT
Ngày: 09/6/2026
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
––––––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đỗ Thị Thúy Năng
Các Thẩm phán: Ông Trương Chí Trung
Ông Ngô Hà Nam
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Thư Tòa án nhân dân thành
ph Đà Nẵng.
- Đại din Vin kim sát nhân dân thành ph Đà Nẵng tham gia phiên:
Nguyn Th M Bình - Kim sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2026 ti Tr s Tòa án nhân dân thành ph Đà Nẵng xét
x phúc thm công khai v án hình s phúc thm th s: 65/2026/TLPT-HS ngày
02 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét x s: 66/2026/QĐXXPT-HS
ngày 07 tháng 4 năm 2026 đối vi bo:
Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2007; nơi sinh huyện Đ, tỉnh Quảng
Nam (cũ). Số CCCD: ************; Nơi ĐKHKTT nơi hiện tại: thôn P, H,
thành phố Đà Nẵng; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông Nguyễn Ngọc M
Nguyễn Thị Đ;
Tiền án; tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2025, đến ngày 20/6/2025, thay đổi biện pháp
ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu trong hồvụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên bị cáo T nảy sinh ý định đem bán điện thoại di động
Iphone 16 Promax của mình để lấy tiền. Khoảng 09 giờ ngày 14/6/2025, bị cáo T
mang chiếc điện thoại đến tiệm V thuộc thôn V, xã H, thành phố Đà Nẵng để bán cho
ông Nguyễn Văn M1, trú thôn T, T, thành phố Đà Nẵng. Sau khi thống nhất giá
chiếc điện thoại 25.000.000 đồng, bị cáo T đưa điện thoại cho ông M1 ông M1
chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng M2 của bị cáo T 25.000.000 đồng. Có được tiền,
bị cáo T về nhà lấy điện thoại cảm ứng của mẹ ruột Nguyên Thị Đ1 đăng nhập
đê chơi game và mua các vật phẩm trong game hết toàn bộ số tiền này. Đến khoảng
11 giờ cùng ngày, bị cáo T nảy sinh ý định chiếm đoạt lại chiếc điện thoại đã bán cho
ông M1 để lấy tiền tiếp tục chơi game. Bị cáo T truy cập vào tài khoản Messenger của
mình, nhắn tin cho ông M1 hỏi thì được biết điện thoại của bị cáo T vẫn còn ở tiệm V.
Lúc này, bị cáo Tân mặc áo khoác màu xanh thẫm, mạng khẩu trang, đội bảo
hiểm màu trắng (mục đích để khỏi bị phát hiện) rồi điều khiến xe 92F6-3862
(xe do ba ruột Nguyễn Ngọc M đứng tên chủ sở hữu) đến tiệm V. Đến cửa hàng, bị
cáo T để nguyên chìa khóa trên xe quay đầu xe về hướng trường Chu Văn A (xã
T), nhằm mục đích chiếm đoạt được điện thoại thì nhanh chóng tẩu thoát (theo lời
khai của bcáo T). Bị cáo T vào cửa hàng, nói dối với ông M muốn mua lại điện
thoại Iphone 16 Promax đã bán nên ông M báo giá mua lại 26.000.000 đồng. Khi
ông M đưa điện thoại cho bị cáo T thì bị cáo T nói để bị cáo T đăng nhập chuyển
khoản tiền cho ông M nhưng thực chất bị cáo T tìm hở để tẩu thoát. Lợi dụng lúc
ông M lo sửa điện thoại, không chú ý bị cáo T liền bỏ điện thoại Iphone 16 Promax
vào túi áo đang mặc rồi nhanh chóng bỏ đi. Lúc này, ông M phát hiện kêu lên và chạy
theo đề giữ bị cáo Tân lại nhưng không kịp. Bị cáo T lên xe điêu khiên chạy vê hướng
trường Chu Văn A để tẩu thoát.
Sau đó, ông M nhắn tin cho bcáo T với nội dung: "Mi coi chạy được t
chạy đi-nghe", "Cho mi hội đó". Bị cáo Tân đọc xong tin nhắn liền đổi tài khoản
"Nguyễn Ngọc T" thành "Asu Naphan" rồi chặn liên lạc với ông M. Liền sau đó, bị
cáo T mang điện thoại chiếm đoạt được đến cửa hàng "Tâm Long" thuộc thôn M,
H để bán cho ông Hồng T1, trú thôn S, H với giá 22.000.000 đồng. Bị cáo T
nhận tiền qua tài khoản đi về nhà. Số tiền được từ việc bán điện thoại chiếm
đoạt, bị cáo T dùng mua vật phẩm trong game hết. Cùng ngày, ông M đến Công an xã
Đ (nay là Công an xã H) trình báo sự việc. Công an tiến hành truy xét và đưa bị cáo T
3
về trụ sở làm việc. Tại đây, bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội như nêu trên giao
nộp các tang vật có liên quan.
Tại Kết luận định giá tài sản số 188/KL-HĐĐGTS ngày 22/9/2025 của Hội
đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng kết luận: Một điện
thoại di động Iphone 16 Promax màu vàng gold, số IMEI: 351366064154255,
IMEI2: 351366064238868, gắn ốp lưng nhựa. Điện thoại đã qua sử dụng, trị giá là
25.000.000 đồng.
Với nội dung trên: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2026/HS-ST ngày
14/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11, thành phố Đà Nẵng dã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật
Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 14/6/2025
đến ngày 20/6/2025.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 22/01/2026 bị cáo Nguyễn Ngọc T đơn kháng cáo với nội dung: xin
xem xét được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên kháng cáo, xin HĐXX xét giảm nhẹ hình phạt .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải
quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên đảm bảo
hợp lệ.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của
mình. vậy, Bản án hình sthẩm số: 03/2026/HS-ST ngày 14/01/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 11- thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Cướp giật tài
sản” theo khoản 1 Điều 171 BLHS xphạt bị cáo 01 năm căn cứ, đúng
pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới: Gia đình có công
với Cách mạng, bị cáo sinh viên đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4
Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Điều 357 BLTTHS chấp
nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho
bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đơn kháng cáo trong hạn luật
định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bcáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có
trong hồ sơ vụ án, cũng như tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở
khẳng định:
Do cần tiền tiêu xài nên sáng ngày 14/6/2025, Nguyễn Ngọc T đem điện thoại
Iphone 16 Promax của bị cáo đến tiệm điện thoại Việt S bán cho anh Nguyễn Văn M1
với giá 25.000.000 đồng. Sau khi chơi game tiêu xài hết số tiền này, bị cáo nảy
sinh ý định quay lại tiệm của anh M1 để chiếm đoạt điện thoại bị cáo vừa bán.
Khoảng 12 giờ cùng ngày, bcáo đến lại tiệm của anh M1 nói dối lại mua lại điện
thoại để anh M1 giao điện thoại cho bị cáo. Sau khi anh M1 đưa điện cho bị cáo
chờ thanh toán tiền thì bcáo lợi dụng hở cầm điện thoại nhanh chóng tẩu thoát.
Cùng ngày, bị cáo tiếp tục đem điện thoại này đến bán cho anh Hồng T1 với giá
22.000.000 đồng. Bị cáo nhận tiền qua tài khoản và đi về nhà. Số tiềnđược từ việc
vừa bán điện thoại chiếm đoạt, bị cáo dùng vào việc mua vật phẩm trong game hết số
tiền này. Chiếc điện thoại Iphone 16 Promax bị cáo chiếm đoạt trị giá 25.000.000
đồng.
vậy, Tòa án cấp thẩm đã xét xử bị cáo về tội Cướp giật tài sản” theo
khoản 1 Điều 171 BLHS là đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy
đủ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử
phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp, không nặng. Tại cấp phúc thẩm, bcáo bổ sung
thêm tình tiết mới gia đình ông cố nội Nguyễn P Liệt nộp 200.000 đồng
án phình sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0001068 ngày 02/4/2026 tại Thi hành án
dân sự thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, mức án cấp thẩm đã tuyên với bị cáo là
phù hợp với tính chất, hành vi phạm tộibị cáo đã thực hiện. Do đó, HĐXX không
chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
5
Đề nghị của đại diện VKS nhân dân thành phố Đ tại phiên tòa chưa phù hợp
với nhận định của HĐXX, nên không chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Do không chấp nhận kháng cáo, nên bị o phải chịu 200.000 (hai trăm
nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T, giữ nguyên Bản án
thẩm.
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ
luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (một) năm về tội: “Cướp giật tài sản”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ đi
thời gian tạm giữ từ ngày 14/6/2025 đến ngày 20/6/2025.
2.Về án phí: Căn cứ điểm b Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- Phòng HSNV-CATP Đà Nẵng (PV 27);
- Vụ GĐKT 1-TANDTC;
- Công an thành phố Đà Nẵng ;
- TAND khu vực 11- Đà Nẵng ;
- Phòng THA khu vực 11 - Đà Nẵng;
- TB kết quả xét xử;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: HS; HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Thúy Năng
6
7
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 173/2026/HS-PT Bản án số 173/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 173/2026/HS-PT Bản án số 173/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất