Bản án số 187/2026/HS-PT ngày 12/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 187/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 187/2026/HS-PT ngày 12/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 187/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: HSPT
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 187/2026/HS-PT Bản án số 187/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 187/2026/HS-PT Bản án số 187/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 187/2026/HS-PT
Ngày: 12/6/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thị Bé
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Hữu Thị Hảo Hảo
Ông Phan Vĩnh Chuyển
- Thư phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tiến Thư Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Phan Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2026 tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử
công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 109/2026/TLPT-HS ngày 14 tháng
4 năm 2026 đối với bị cáo Mai Thị Kim X do kháng cáo của bị cáo đối với Bản
án hình sự thẩm số: 34/2026/HSST ngày 03 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân
dân Khu vực 1 thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo: Mai Th Kim X. Tên gi khác: Không; Gii tính: N;
Sinh ngày: 07/10/1990 ti thành ph Đà Nng; CCCD s: ************, cp
ngày 28/7/2024, nơi cấp: Cc Cnh sát QLHC v TTXH B C1. HKTT:
K15/H2/27 đưng P, phường H, thành ph Đà Nẵng. Nơi hin nay: K đường T,
phưng H, thành ph Đà Nẵng. Quc tch: Vit Nam. Dân tc: Kinh. Tôn giáo:
Không. Trình độ hc vn: 12/12. Ngh nghiệp: Lao động t do. Con ông Khc
D (sinh năm: 1979) và bà Mai Th Kim T (sinh năm: 1972). (Đều còn sng). Gia
đình có 01 người con, b cáo là con duy nht. Có chng là Thái Bu N (sinh năm:
1984) và có 02 con, con ln nhất sinh năm 2013 và con nhỏ nhất sinh năm 2017.
Tin án, tin s: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi trú, có mặt tại phiên
tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 01/01/2024, Công ty TNHH C2 (Gọi tắt
2
Công ty C2) có địa chỉ: Khu A, đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng, do ông
Trương Quang C làm Giám đốc người đại diện theo pháp luật, kết Hợp
đồng lao động với Mai Thị Kim X. Theo Hợp đồng Nội quy, quy trình làm
việc kèm theo, X được tuyển dụng vào làm việc tại Công ty C2 với vị trí "Nhân
viên bán hàng" ktừ ngày 01/01/2024 đến ngày 31/12/2024, nhiệm vụ: Tìm
kiếm khách hàng mới là các cửa hàng tạp hóa; làm việc với các khách hàng cũ có
nhu cầu nhập mặt hàng sữa Nutifood thuộc tuyến S - N, thành phố Đà Nẵng. Sau
khi thỏa thuận được với khách hàng về loại mặt hàng số lượng cần nhập, X
phải báo về hệ thống của Công ty (thực hiện trên máy tính bảng của Công ty cấp
cho nhân viên bán hàng, cài đặt sẵn phần mềm quản lý đơn ng PMS). Kế toán
Công ty là chị Nguyễn Thị Minh T1 stổng hợp đơn, sau đó duyệt đơn và chuyển
đơn cho bộ phận quản kho xuất hàng cho bộ phận giao hàng để giao cho khách
rồi trực tiếp thu tiền về. Trường hợp khách trả tiền ngay thì nhân viên phải cung
cấp stài khoản để khách hàng chuyển trực tiếp vào tài khoản của ông C hoặc
ông Nguyễn Tôn Minh T2 (là nhân viên phụ trách tài chính của Công ty C2), hoặc
đưa tiền mặt cho bộ phận giao hàng để đem về nộp lại cho Công ty (khách hàng
sẽ xác nhận đã thanh toán vào Phiếu giao hàng). Trường hợp khách ntiền
hàng, khách hàng sẽ công nợ trên Phiếu giao hàng, bphận giao hàng mang
Phiếu về giao lại cho kế toán để theo dõi. Sau 07-10 ngày, kế toán Công ty sẽ tổng
hợp công nợ của khách hàng, trực tiếp thu công nợ. Tuy nhiên, do điều kiện ban
đầu mới thành lập, nhân sự chưa ổn định nên vào thời điểm X làm việc, Công ty
C2 giao nhân viên bán hàng (trong đó X) hỗ trợ thu hộ công nợ của
khách.
Quá trình điều tra xác định: X thấy bản thân có nhiệm vụ được bán hàng
Công ty cho khách hàng công nợ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của
Công ty. X đã dùng thủ đoạn: Xuân tìm tên những tạp hóa trên địa bàn để tạo đơn
đặt hàng giả, tự đặt mặt hàng, số lượng và địa điểm nhận hàng; khi bộ phận giao
hàng của Công ty đi giao thì X nói với nhân viên giao hàng là các khách quen, đ
X tự đi giao cho khách nên yêu cầu vận chuyển số hàng đó về nhà của X tại địa
chỉ: K đường T, phường H, thành phố Đà Nẵng. X tvào mục chữ của
khách hàng trên các phiếu giao hàng. Đồng thời, ghi báo công nợ về Công ty đ
chậm thanh toán tiền. Sau đó, X lấy số hàng này bán lại cho những người buôn
hàng sỉ, lẻ bên ngoài thị trường với giá thấp hơn (không thông tin cụ thể về
nhân thân).
Với thủ đoạn trên, từ tháng 06 đến tháng 10/2024, X đã tự lập ra 40 đơn
hàng giả chiếm đoạt các hàng hóa theo sản phẩm của N1 như: sữa nuvi, sữa
nuti, sữa nitimilk, nuvi thạch…Số tiền bán hàng được (X không xác định được),
3
X đã sử dụng trả cho Công ty nhiều lần, với số tiền 29.096.123 đồng (X báo o
là tiền thu nợ của khách hàng). Số tiền còn lại, X đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Các nhân viên của Công ty đã giao hàng cho X, gồm: Nguyễn Văn T3 đã
giao khoảng 02 đơn; Trương Văn Q đã giao khoảng 25 đơn; Phan Công K đã giao
khoảng 11 đơn. Còn 02 đơn không xác định được người giao. Khi nhận hàng đi
giao, 03 người này có liên hệ cho X để xác nhận thì X yêu cầu giao đến nhà X để
X tự giao cho khách hàng, tưởng thật nên đều giao đến nhà cho X. T3, Q, K không
biết X chiếm đoạt và không hưởng lợi gì.
Theo thông tin trên các đơn hàng giả, đã xác định và làm việc được những
người, gồm: Ngô Thị Mỹ H, Trương Công T4, Nguyễn Thị K1, Nguyễn Đông T5,
Bùi Thị Bích T6, Lê Thị Kim D1, Trần Thị H1, Trần Thị X1, Phan Thị Phụng H2,
Nguyễn Trần Tuyết N2, Hoàng Thị T7, Nguyễn Hồng Q1, Thị N3, Nguyễn
Trung H3, Nguyễn Thị Thanh T8, Trần Thị Kim Á, Huỳnh Thị H4, Nguyễn Văn
L, Đặng Thị T9, Trần Văn K2. Những người này đều không đặt các đơn hàng mà
X đã chuyển cho công ty, không biết và không liên quan gì đến việc đặt hàng của
X.
Vật chứng thu giữ:
+ Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp; Nội quy quy trình làm việc
của Công ty TNHH C2; Hợp đồng lao động, các biên bản làm việc giữa Công ty
C2 với Mai Thị Kim X.
+ Danh sách công nợ do Mai Thị Kim X xác nhận; 40 đơn hàng của Công
ty C2 đã giao cho Mai Thị Kim X.
Theo Kết luận định giá tài sản số: 147/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2025 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - U, kết luận: Các sản phẩm trong
40 đơn hàng nêu trên có tổng trị giá là 163.964.269 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2026/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2026
của là Tòa án nhân dân Khu vực 1 thành phố Đà Nẵng.
Tuyên bố bị cáo Mai Thị Kim X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm
g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Mai Thị
Kim X 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ
ngày bắt tạm giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về phần xử lý vật chứng, phần án phí và quyền
kháng cáo.
Ngày 05/3/2026, bị cáo Mai Thị Kim X đơn kháng cáo với nội dung: Án
thẩm xử nặng, xin Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án
treo để bị cáo có điều kiện nuôi 02 con nhỏ và bà ngoại đang ở tuổi 82 tuổi.
4
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Mai Thị Kim X vẫn giữ nguyên nội dung
đơn kháng cáo.
- Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Mai Thị Kim X theo đúng thủ tục
và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng quan điểm về việc
giải quyết vụ án như sau: Xét về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Mai Thị Kim
X thì thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2026/HSST ngày 03 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Mai Thị Kim
X về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình
sự có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Mai
Thị Kim X 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm,
bị cáo được Công ty TNHH C2 tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
do đã khắc phục hoàn toàn, bị cáo lao động chính duy nhất, bản thân bị cáo
đang sống ly thân chồng, hiện nay đang nuôi 02 con nhỏ, trong đó 01 con bị bệnh
tự kỷ bà ngoại 82 tuổi. Mặc phạm tội nghiêm trọng, tình tiết tăng nặng
phạm tội 02 lần trở lên nhưng mỗi lần phạm tội ít nghiêm trọng, 02 tình tiết
giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự số tình tiết giảm nhẹ rất nhiều
quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên vẫn đảm bảo Nghị quyết số:
02/2018/NQ-TP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày
15/4/2022; Nghị quyết số: 03/2025/NQ-HĐTP ngày 10/7/2025 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình
sự về án treo. Do đó, đnghHội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Mai Thị Kim X, chuyển hình phạt 01 năm 06 tháng sang hình phạt treo. Thời
gian thử thách là 36 tháng.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái với
pháp luật, bị cáo mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ ván đã được
tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đủ căn cứ để khẳng
định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Mai Thị Kim X đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của nh. Lời khai của bị cáo phợp với các tài liệu, chứng cứ
khác tại hồ sơ ván nên HĐXX đủ skhẳng định: Từ tháng 01/2024 đến
31/12/2024, bị cáo Mai Thị Kim X là nhân viên bán hàng của Công ty TNHH C2
do ông Trương Quang C làm Giám đốc người đại diện theo pháp luật. Từ
tháng 06 đến tháng 10/2024, bị cáo Mai Thị Kim X đã dùng thủ đoạn gian dối
5
bằng cách tự lập ra 40 đơn hàng giả với các sản phẩm của N1 như: sữa nuvi, sữa
nuti, sữa nitimilk, nuvi thạch…; báo cho Công ty TNHH C2 duyệt đơn, xuất hàng
đi giao thì bị cáo X nói dối khách hàng quen nên để bị cáo X giao trực tiếp,
nhân viên giao hàng tưởng thật nên đã giao hàng đến nhà bị cáo X. Bị cáo X lấy
hàng bán rẻ lại cho người khác để lấy tiền. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt
163.964.269 đồng.
[2] Hành vi của bị cáo dùng thủ đoạn gian dối lập ra các đơn hàng giả để
chiếm đoạt hàng hcủa Công ty TNHH C2, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của
người khác được pháp luật bảo vệ. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt
163.964.269 đồng. vậy đủ sở xác định: Bản án Hình sự sơ thẩm s:
34/2026/HSST ngày 03 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 thành
phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Mai Thị Kim X vtội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Mai Thị Kim X, Hội đồng xét
xử thấy rằng: Mặc bị cáo phạm tội nghiêm trọng, 01 tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 B
luật hình sự. Tuy nhiên, trong 29 lần tạo 40 hóa đơn thì mỗi lần tạo các đơn hàng
giá trị trên 2.000.000 đồng (thấp nhất 259.200 đồng vào ngày 25/9/2024; cao
nhất là 18.096.201 đồng vào ngày 29/6/2024). Như vậy, mỗi lần bị cáo phạm tội
ít nghiêm trọng. Mặt khác, bị cáo 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình snhiều tình tiết
giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm, Công ty
TNHH C2 đã tiếp tục đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do khắc phục
hoàn toàn. Ngoài ra, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo có
nơi trú ràng; giấy xác nhận bản thân bị cáo đang sống ly thân chồng
hiện nay lao động chính duy nhất, đang nuôi 02 con nhỏ, lớn nhất 13 tuổi
nhỏ nhất 9 tuổi trong đó 01 con bị bệnh tự kỷ, được chính quyền địa phương xác
nhận và bị cáo còn đang nuôi bà ngoại 82 tuổi do mẹ bị cáo đang chấp hành hình
phạt tù. Với hoàn cảnh khó khăn cùng với gia đình hiện tại thì mức án mà bản án
cấp sơ thẩm đã tuyên 01 (một) năm 6 (sáu) tháng đối với bị cáo là phù hợp. Tuy
nhiên, căn cứ vào nhân thân, rất nhiều tình tiết giảm nhẹ tính chất hành vi phạm
tội của bị o, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống hội
nhưng vẫn đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa. HĐXX cấp phúc thẩm áp dụng
điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo
của bị cáo Mai Thị Kim X; Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1,
2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; Điều 65 Bộ
luật hình sự chuyển hình phạt giam thành cho hưởng án treo phợp, đồng
thời thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước Việt Nam nhưng
6
vẫn đảm bảo đđiều kiện theo quy định tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP
ngày 15/5/2018; Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022; Nghị quyết
số: 03/2025/NQ-TP ngày 10/7/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo như đề nghị
của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là thể hiện tính nhân văn đối với bị cáo.
[4] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Do chấp nhận kháng cáo, nên bị cáo Mai Thị Kim X không phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Thị Kim X, sửa bản án hình sự
sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.
2. Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: B
cáo Mai Thị Kim X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Mai Thị Kim X 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 tháng
kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, ngày 12/6/2026.
Giao bị cáo Mai Thị Kim X về Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Đà
Nẵng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi
nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong
thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy
định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án thể buộc người
đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Mai
Thị Kim X không phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc
thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Giải thích chế độ án treo)
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
7
- Phòng HSNV CATP Đà Nẵng;
- TAND khu vực 1 – Đà Nẵng;
- VKSND khu vực 1 – Đà Nẵng;
- CQCSĐT CATP Đà Nẵng;
- Phòng THADS khu vực 1 – Đà Nẵng;
- Vụ GĐKT I – TAND tối cao;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HS.
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Bé
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 187/2026/HS-PT Bản án số 187/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 187/2026/HS-PT Bản án số 187/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất