Bản án số 1319/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1319/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1319/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1319/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu trả đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1319/2026/DS-PT Bản án số 1319/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1319/2026/DS-PT Bản án số 1319/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1319/2026/DS-PT
Ngày: 14/9/2026
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.
Bà Đào Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2026 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1101/TLPT-DS ngày 03 tháng 7 năm 2026
về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 109/2026/DS-
ST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1233/2026/QĐ-PT
ngày 06 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lương Văn Ó, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Ấp M, xã T, thành phố Cần Thơ (Có mặt).
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Ấp M, xã T, thành phố Cần Thơ (Có mặt).
Người kháng cáo: Ông Lương Văn Ó, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 04/7/2025 (Bút lục 01), Tờ tự khai ngày
03/4/2025 (Bút lục 11), Biên bản lấy lời khai ngày 31/10/2025 (Bút lục 49) cũng
như quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 90) và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn
là ông Lương Văn Ó trình bày: Ông Ó có quyền sử dụng 6.500m
2
đất tại ấp M,
xã T, thành phố Cần Thơ nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận. Nguồn gốc
quyền sử dụng đất này, ông Ó được cha của ông Ó là cụ Lương Văn Đ tặng cho
từ năm 1983. Sau khi được tặng cho, ông Ó trực tiếp canh tác đến năm 2002 thì
Ủy ban nhân dân huyện L (C) cho xe cuốc vào đắp lộ Tuyến 2 đi ngang chia
2
thửa đất thành 02 phần; phần phía biển thì trả cho ông Ó, phần cặp kênh Nhân
Lực có chiều ngang 36m và dài 50m thì Ủy ban nhân dân xã T thông báo thu hồi
để xây khu tái định cư tránh bão, động viên ông Ó sẽ được đền bù từ người được
giao đất. Do tin tưởng, ông Ó không ngăn cản khi người được giao đất đến xây
nhà. Tuy nhiên, đến nay không có ai thỏa thuận bồi thường. Căn cứ kết quả xem
xét, thẩm định tại chỗ; ông Ó biết được bà Huỳnh Thị Kim C đang sử dụng
456,5m
2
thuộc thửa 55, tờ bản đồ số 130 nằm trong phần đất trên của ông Ó và
thừa nhận bà C nhận chuyển nhượng của ông P, ông T. Dù không gặp bà C để
trao đổi, ông Ó vẫn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã T (C) hòa giải nhưng không
thành. Nay, ông Ó khởi kiện, yêu cầu bà C trả lại quyền sử dụng đất nêu trên.
- Theo Biên bản lấy lời khai ngày 31/10/2025 (Bút lục 51), quá trình giải
quyết vụ án (Bút lục 90) và tại phiên tòa sơ thẩm; bị đơn là bà Huỳnh Thị Kim C
với người đại diện theo ủy quyền của bà C là ông Trần Chi L trình bày: Quyền
sử dụng đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Phạm Ngọc P và người khác là
ông T, ông P với ông T được Nhà nước giao đất nền vào năm 1992 - 1993; đến
năm 1995, ông P và ông T chuyển nhượng lại cho bà C, việc chuyển nhượng
này chỉ được lập giấy viết tay. Sau khi nhận chuyển nhượng, duy nhất chỉ có bà
C quản lý và sử dụng liên tục; quá trình sử dụng, bà C đã chuyển nhượng cho
người khác một phần với chiều ngang 04m giáp lộ Tuyến 2, phần còn lại khoảng
08m thì bà C tiếp tục sử dụng đến nay. Từ khi bà C nhận chuyển nhượng đến
thời điểm ông Ó khởi kiện, không có bất cứ ai ngăn cản hoặc có ý kiến gì liên
quan đến thửa đất. Vào năm 2020, bà C đã làm thủ tục đo đạc nhưng do không
có nhu cầu giao dịch nên đến nay chưa hoàn thành cấp Giấy chứng nhận. Bà C
không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Ó vì đã nhận chuyển nhượng
và sử dụng ổn định trên 30 năm.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Toà án nhân dân Khu vực
9 - Cần Thơ đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 109/2026/DS-ST ngày
27 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ đã tuyên như
sau:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Lương Văn Ó
theo Đơn đề ngày 16/3/2026 về công nhận quyền sử dụng 1.820m
2
đất, không
xác định được những thông tin liên quan.
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn Ó đối
với bà Huỳnh Thị Kim C về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” có đặc điểm,
diện tích, vị trí theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ được nêu tại Căn cứ thứ
nhất trong Mục [2] Phần Nhận định của Tòa án tại Bản án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự
theo quy định của pháp luật.
3
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn có đơn kháng cáo đối với bản án
sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử
đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến
khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn
kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt
hình thức.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng
như lời khai tại phiên tòa của các đương sự cho thấy cấp sơ thẩm đã xem xét đầy
đủ toàn diện ý kiến cũng như chứng cứ các bên cung cấp và trình bày. Nguyên
đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu
kháng cáo của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào
kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên
và những người tham gia tố tụng khác.
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà C trả lại
quyền sử dụng đất 456,5m
2
thuộc thửa 55, tờ bản đồ số 130 tại ấp M, xã T,
thành phố Cần Thơ do phía bị đơn đang quản lý sử dụng, nhưng bị đơn không
đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vây, cấp sơ thẩm xác định quan hệ
pháp luật “tranh chấp quyền sử dụng đất” là phù hợp.
[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, phía nguyên đơn có đơn kháng cáo trong thời
hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Nhận thấy, đất tranh chấp có diện tích 456,5m
2
thuộc thửa 55, tờ bản đồ
số 130 tại ấp M, xã T, thành phố Cần Thơ do bị đơn trực tiếp quản lý, sử dụng từ
năm 1995 đến nay, hiện còn chưa xây dựng công trình hoặc trồng cây lâu năm
trên đất. Nguyên đơn cho rằng đất có nguồn gốc của cụ Lương Văn Đ là cha của
nguyên đơn khai phá đến năm 1983 tặng cho lại nguyên đơn. Sau khi được tặng
cho, nguyên đơn trực tiếp canh tác đến năm 2002 thì Ủy ban nhân dân huyện L
4
(C) cho xe cuốc vào đắp lộ Tuyến 2 đi ngang chia thửa đất thành 02 phần; phần
phía biển thì trả cho nguyên đơn, phần cặp kênh Nhân Lực có chiều ngang 36m
và dài 50m thì Ủy ban nhân dân xã T thông báo thu hồi để xây khu tái định cư
tránh bão, động viên ông Ó sẽ được đền bù từ người được giao đất, nhưng đến
nay nguyên đơn vẫn không được giải quyết nhận đền bù nên nguyên đơn khởi
kiện yêu cầu bị đơn trả lại đất. Phía bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Do đó, Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ đã đưa vụ án ra xét
xử và đã bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn có đơn
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
[4] Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm,
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà C giao trả lại cho
nguyên đơn phần đất đang tranh chấp. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn,
Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Nguyên đơn cho rằng đất đang tranh chấp có diện tích 456,5m
2
thuộc thửa 55, tờ bản đồ số 130 tại ấp M, xã T, thành phố Cần Thơ, có nguồn
gốc do cụ Lương Văn Đ (cha của nguyên đơn) khai phá và cho lại nguyên đơn
từ năm 1982. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cụ Lương Văn Đ là người trực tiếp
khai phá phần đất này khi đất còn là đất chưa sử dụng; đồng thời, cũng không có
tài liệu, chứng cứ thể hiện việc cụ Lương Văn Đ đã cho nguyên đơn phần đất
tranh chấp từ năm 1982 hoặc chứng minh nguyên đơn được Nhà nước công
nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất này.
[4.2] Ngoài ra, nguyên đơn trình bày Ủy ban nhân dân xã T có thông báo
thu hồi đất để xây dựng khu tái định cư tránh bão và nguyên đơn sẽ được bồi
thường giá trị quyền sử dụng đất từ người được giao đất. Tuy nhiên, nguyên đơn
cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có việc thu hồi đất đối
với phần đất tranh chấp, cũng như việc nguyên đơn được xác định là người có
quyền sử dụng đất để được bồi thường. Do đó, nội dung trình bày này của
nguyên đơn chưa có cơ sở để xác định quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn
đối với phần đất đang tranh chấp.
[4.3] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn bà C là
người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp trong thời gian dài, liên tục,
ổn định và công khai, thời gian sử dụng trên 30 năm. Nguyên đơn khẳng định
chưa kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp và cũng
không có tài liệu chứng minh quá trình quản lý, sử dụng đất của nguyên đơn
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận. Vì vậy, nguyên đơn chưa
5
chứng minh được mình là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích
đất 456,5m² đang tranh chấp.
[5] Từ những phân tích trên, xét thấy nguyên đơn chưa chứng minh được
nguồn gốc quyền sử dụng đất, quá trình quản lý, sử dụng đất cũng như căn cứ
pháp lý xác lập quyền sử dụng đối với diện tích 456,5m² đang tranh chấp. Do
đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn
cứ, đúng quy định của pháp luật.
[6] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát trình bày tại phiên tòa phúc
thẩm là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên
nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, nguyên đơn là người cao
tuổi nên được miễn án phí theo điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội.
* Tuyên xử: Không chấp nhận đơn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông
Lương Văn Ó.
1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 109/2026/DS-ST ngày 27 tháng 3
năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí cho nguyên đơn.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại 2 Luật
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, Điều 6, Điều 7,
Điều 36 và Điều 71 Luật hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 34 Luật hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND Khu vực 9 – Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thị Tuyết Mai
6
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1319/2026/DS-PT Bản án số 1319/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1319/2026/DS-PT Bản án số 1319/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất