Bản án số 671/2026/DS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 671/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 671/2026/DS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 671/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Phan Thị V, Phạm Tiến H "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 671/2026/DS-PT Bản án số 671/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 671/2026/DS-PT Bản án số 671/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 671/2026/DS-PT
Ngày: 07 - 9 - 2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Long Châu
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Thu Hương
Bà Bùi Lan Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Khánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai: Bà Nguyễn Thị
Bình - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 07 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng
Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số
447/2026/TLPT-DS ngày 02/7/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 09/2026/DS-ST ngày 02/02/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 640/2026/QĐ-PT ngày
30/7/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 723/2026/QĐ-PT ngày
19/8/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984
Địa chỉ: Số nhà 117, tổ 5, thôn T, xã P, thành phố Đ
Đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Xuân T1, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Số nhà 117, tổ 5, thôn T, xã P, thành phố Đ
2
- Bị đơn: Bà Phan Thị V, sinh năm 1980; Ông Phạm Tiến H, sinh năm
1981.
Địa chỉ: Thôn T, xã P, thành phố Đ
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1954; Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm
1965.
Địa chỉ: Thôn T1, xã L, thành phố Đ
2. Văn phòng công chứng T3
Đại diện theo pháp luật: Bà Trịnh Thị Bến H1 – Trưởng Văn Phòng.
Địa chỉ: Thôn T3, xã P, thành phố Đ
3. Thi hành án dân sự thành phố Đồng Nai
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Chu Thị T4 – Chấp hành
viên
Địa chỉ: Xã P, thành phố Đ
Người kháng cáo: Ông Phạm Tiến H, bà Phan Thị V.
(Ông T1, bà V và ông H có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và người đại diện theo ủy quyền ông Bùi
Xuân T1 trình bày:
Do quen biết nên bà T có cho bà Phan Thị V vay nhiều lần tiền. Ngày
05/12/2022 hai bên chốt lại bà V còn nợ bà T số tiền 1.300.000.000 đồng, thời
hạn trả là 01 tháng. Tuy nhiên hết thời hạn bà V không thực hiện nghĩa vụ trả
nợ.
Ngày 07/8/2023, bà T khởi kiện bà V yêu cầu bà V trả nợ.
Ngày 11/8/2023 bà V trả nợ cho bà T được 50.000.000 đồng.
Ngày 15/9/2023 Tòa án nhân dân huyện P ra quyết định công nhận kết
quả hòa giải thành số 10/2023 với nội dung bà V có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền
nợ 1.250.000.000 đồng.
Tháng 10/2023 bà T làm đơn yêu cầu thi hành án thì phát hiện, ông H, bà
V đã chuyển nhượng thửa đất số 280, tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại thôn 1, xã L,
huyện P. Nhận thấy việc chuyển nhượng thửa đất của bà V là có hành vi tẩu tán
tài sản. Nay bà T yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
3
đất giữa vợ chồng bà V với vợ chồng ông Đ đối với thửa đất số 280, tờ bản đồ
số 51, đất có diện tích 159,9m
2
tại thôn 1, xã L, huyện P, đất được chỉnh lý trang
4 vào ngày 09/8/2022 đứng tên ông H, bà V. Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất được Văn phòng công chứng L công chứng số: 005215, quyển số
01/2023 ngày 11/8/2023 vô hiệu để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án. Ngoài ra
không có yêu cầu nào khác.
- Bị đơn bà Phan Thị V trình bày:
Việc vay mượn nợ giữa bà với bà T và đã được Tòa án nhân dân huyện P
ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành số 10/2023 ngày 15/9/2023 theo
đó bà phải có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền vay 1.250.000.000 đồng là đúng,
hiện quyết định đang được thi hành án theo quy định.
Đối với việc chuyển nhượng thửa đất số 280, tờ bản đồ số 51 tại thôn 1,
xã L, huyện P giữa vợ chồng bà với vợ chồng ông Đ là đúng quy định pháp luật,
số tiền chuyển nhượng 400.000.000 đồng việc chuyển nhượng đất bà T biết và
hoàn toàn đồng ý và sau khi chuyển nhượng đã trả cho bà T số tiền 50.000.000
đồng, lý do không trả đủ tiền cho bà T là vì thửa đất này đã cầm cố cho bà Vân
và phải trả 350.000.000 đồng để chuộc sổ nên không còn tiền trả cho bà T. Vợ
chồng bà chuyển nhượng thửa đất là đúng pháp luật không có hành vi tẩu tán tài
sản nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T. Ngoài ra không có yêu
cầu nào khác.
- Ông Phạm Tiến H trình bày:
Ông và bà V kết hôn với nhau 2006, đến tháng 6/2022 chính thức có
quyết định của Tòa ly hôn. Thửa đất 280, tờ bản đồ số 51, nguồn gốc của vợ
chồng mua năm 2022 không nhớ chính xác thời gian nhưng trước thời điểm vợ
chồng ly hôn đến tháng 8/2022 sang tên trang 4 đứng tên ông và bà V. Vợ chồng
ông có 03 thửa đất, khi ly hôn thống nhất tự thỏa thuận với nhau mỗi người lấy
một thửa, còn thửa đất có nhà thì không chia, vì vậy khi bà T làm đơn yêu cầu
thi hành án thì được hướng dẫn những người liên quan khởi kiện xác định quyền
sở hữu và bà T đã khởi kiện ông và bà V phân chia tài sản là căn nhà chung này,
việc này đã được Tòa giải quyết và đang trong giai đoạn thi hành án.
Đối với thửa đất trên vợ chồng ông thống nhất để cho bà V, do ông vẫn
đứng tên trong sổ nên khi bà V yêu cầu ông ra công chứng ký thì ông ký sang
tên cho vợ chồng ông Đ chứ thực tế ông không còn liên quan gì tới thửa đất này,
việc mua bán đất tự bà V giao dịch với vợ chồng ông Đ, ông không tham gia và
không hưởng gì trong việc mua bán này, ông chỉ là người đứng tên trong sổ nên
khi bà V yêu cầu thì ông ký. Việc thỏa thuận phân chia tài sản của vợ chồng là
4
tự thỏa thuận với nhau và viết giấy tay với nhau nhưng không có công chứng,
chứng thực gì.
Việc thỏa thuận bán thửa đất này giữa bà V với cô T thỏa thuận như thế
nào ông không biết vì lúc này vợ chồng đã ly hôn với nhau và ông cũng không
có bất cứ thỏa thuận liên quan gì đến cô T. Đây là việc riêng của bà V với cô T.
Nay trước yêu cầu khởi kiện thì ông không đồng ý và xin vắng mặt trong quá
trình giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Xuân Đ và bà Nguyễn Thị T2 trình bày:
Ngày 11/8/2023 vợ chồng ông có ký nhận chuyển nhượng thửa đất số
280, tờ bản đồ số 51, đất có diện tích 159,9m
2
tại thôn 1, xã L, huyện P với ông
Phạm Tiến H và bà Phan Thị V, số tiền chuyển nhượng 410.000.000 đồng, tuy
nhiên trong hợp đồng chỉ ghi 400.000.000 đồng, việc chuyển nhượng được công
chứng theo đúng quy định, ông, bà không biết bà T là ai cũng như không biết gì
về việc bà V tẩu tán tài sản vì khi chuyển nhượng có yêu cầu bà V đưa sổ cho
ông, bà ra Văn phòng công chứng hỏi có chuyển nhượng được ông, bà mới đồng
ý mua.
Sau khi ký hợp đồng tại văn phòng công chứng thì ông Đ có nhờ người
cháu chuyển khoản cho bà V số tiền chuyển nhượng, đến cuối tháng 10, đầu
tháng 11/2023 ông làm thủ tục cấp sổ và sau khi nộp 10.000.000 đồng tiền thuế
thì thửa đất bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện P ngăn chặn không ra được sổ.
Sau khi nhận đất và nhà thì vợ chồng ông đã bỏ số tiền 250.000.000 đồng ra sửa
chữa nhà và ở đến hiện nay. Nay trước yêu cầu khởi kiện, ông Đ có yêu cầu độc
lập, yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng và công nhận đất cho vợ chồng ông,
trường hợp hợp đồng bị vô hiệu thì yêu cầu ông H, bà V phải trả lại số tiền
chuyển nhượng 410.000.000 đồng, 10.000.000 đồng tiền thuế và 250.000.000
đồng tiền sửa chữa cải tạo nhà. Tổng cộng 670.000.000 đồng. Ngoài ra ông Đ,
bà T2 không có yêu cầu nào khác.
2. Văn phòng công chứng T3 trình bày:
Ngày 11/8/2023 Văn phòng công chứng L nay là Văn phòng công chứng
T3 có công chứng hợp đồng chuyển nhượng số 005215, quyển số 01/2023 đối
với thửa đất số 280, tờ bản đồ số 51, đất có diện tích 159,9m
2
tại thôn 1, xã L,
huyện P, giữa ông Phạm Tiến H, bà Phan Thị V với ông Nguyễn Xuân Đ, bà
Nguyễn Thị T22. Việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng là đúng quy định
pháp luật. Trong vụ án này Văn phòng không có ý kiến, yêu cầu gì và đề nghị
được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
5
3. Thi hành án dân sự thành phố Đồng Nai trình bày:
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Nai đang tổ chức thi hành
quyết định số 10/2023/QĐHGT–DS ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện
Phú Riềng. Nội dung bà V phải có nghĩa vụ thi hành án số tiền 1.250.000.000
đồng cho bà T. Quá trình xác minh tài sản thì bà V có 02 tài sản, tài sản thứ nhất
là thửa đất 465, tờ bản đồ số 8, tại Thôn T, xã B, huyện P, thửa đất thứ hai là
thửa đất số 280, tờ bản đồ số 51, đất có diện tích 159,9m
2
tại thôn 1, xã L, huyện
P. Hiện cơ quan thi hành án đang tiến hành kê biên bán đấu giá tài sản đối với
toàn bộ thửa đất và tài sản thửa đất số 465, tài sản này bà V được chia 40% giá
trị và theo kết quả định giá thì không đủ để bà V thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho
bà T. Đối với việc khởi kiện của bà T trong vụ án này thì đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định pháp luật.
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2026/DS-ST ngày 02/02/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm
Tiến H, bà Phan Thị V với ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị T22 đối với
thửa đất số 280, tờ bản đồ số 51, diện tích 159,9m
2
tại Thôn 1, xã L, huyện P,
tỉnh B (Nay là thôn L, xã B, tỉnh Đ), đất được cấp giấy chứng nhận số BX
861740 do Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh Bình Phước cấp ngày 01/11/2016
được chỉnh lý trang 4 đứng tên ông Phạm Tiến H, bà Phan Thị V vào ngày
09/8/2022, do Văn phòng công chứng L công chứng vào ngày 11/8/2023 số
công chứng 005215, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu.
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Xuân Đ.
Buộc ông Phạm Tiến H, bà Phan Thị V phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho
ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị T22 số tiền chuyển nhượng đất:
410.000.000 đồng, tiền nộp thuế 10.000.000 đồng, tiền cải tạo sửa chữa nhà
218.554.380 đồng với tổng số tiền 638.554.380 đồng (Sáu trăm ba mươi tám
triệu năm trăm năm mươi bốn ngàn ba trăm tám mươi đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo
của đương sự.
- Ngày 23/3/2026, ông Phạm Tiến H có đơn kháng cáo, đề nghị sửa bản
án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của ông Nguyễn
Xuân Đ.
- Ngày 23/3/2026, bà Phan Thị V có đơn kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ
thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
6
- Tại Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 54/2026/QĐ-
SCBSBA ngày 20/8/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai về việc
sửa chữa, bổ sung như sau: … Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai …
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của
pháp luật từ khi thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, các đương sự
tham gia phiên tòa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định
của pháp luật.
Về đề xuất giải quyết vụ án: Chứng cứ trong hồ sơ thể hiện việc vay
mượn giữa bà V với bà T, Tòa án nhân dân huyện P ra quyết định số
10/2023/QĐHGT-DS ngày 15/9/2023, bà V có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền nợ
1.250.000.000 đồng. Ngày 11/8/2023 bà V, ông H chuyển nhượng diện tích đất
159,9m
2
thửa đất số 280, tờ bản đồ số 51, tại thôn 1, xã L, huyện P cho ông Đ,
bà T2 với số tiền 410.000.000 đồng. Sau khi chuyển nhượng, bà V chỉ trả cho bà
T số tiền 50.000.000 đồng, việc chuyển nhượng của bà V là nhằm tẩu tán tài
sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Căn cứ vào Điều 117, Điều 123 của Bộ luật dân
sự giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H, bà V với ông Đ, bà
T2 là vi phạm điều cấm của pháp luật nên giao dịch bị vô hiệu.
Việc bà V cho rằng chỉ trả được cho bà T 50.000.000 đồng là bà phải
chuộc sổ từ bà V1 số tiền 350.000.000 đồng, bà T không biết việc thỏa thuận
chuyển nhượng giữa vợ chồng bà V với vợ chồng ông Đ. Đây là quan hệ khác,
không liên quan đến nghĩa vụ trả nợ cho bà T, ý kiến của bà V không có căn cứ
chấp nhận.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Đ, việc chuyển nhượng bà V, ông H là
nhằm tẩu tán tài sản, vi phạm điều cấm của pháp luật từ thời điểm ký kết. Căn
cứ vào Điều 131 của Bộ luật dân sự, giao dịch vô hiệu không làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ giữa các bên, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn
trả cho nhau những gì đã nhận, bà V, ông H đã nhận số tiền 410.000.000 đồng
có nghĩa vụ trả lại cho ông Đ, bà T2.
Đối với số tiền 250.000.000 đồng vợ chồng ông Đ cải tạo, sửa chữa, theo
biên bản định giá có giá trị sử dụng còn lại 218.554.380 đồng nên cần buộc ông
H, bà V phải hoàn trả. Việc bà V, ông H chuyển nhượng đất cho ông Đ, bà T2
không cung cấp đầy đủ thông tin bà V đang phải trả nợ cho bà T, nên số tiền
10.000.000 đồng ông Đ, bà T2 nộp thuế bà V, ông H phải hoàn trả lại. Theo biên
bản định giá, giá đất hiện thấp hơn giá các bên chuyển nhượng nên không có
thiệt hại do đó không có cơ sở xem xét.
7
Đối với trình bày của ông Phạm Tiến H thửa đất trên đã chia cho bà V,
ông chỉ là người đứng ký hợp đồng, việc thỏa thuận phân chia tài sản chung giữa
bà V với ông H là tự phân chia, không phù hợp quy định pháp luật. Hợp đồng bị
vô hiệu, nên ông H phải có nghĩa vụ cùng với bà V hoàn trả lại cho vợ chồng
ông Đ, bà T2.
Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Tiến
H, bà Phan Thị V, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 09/2026/DS-ST ngày
02/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Tiến H, bà Phan Thị V kháng cáo và
nộp tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định, nên được xem xét theo trình
tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Cấp sơ thẩm đã xác định
quan hệ pháp luật, tư cách đương sự đúng quy định.
[3] Về nội dung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày bà Phan Thị V
phải trả cho bà số tiền 1.250.000.000 đồng theo quyết định công nhận kết quả
hòa giải thành số 10/2023 ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện P. Việc
chuyển nhượng thửa đất của bà V là nhằm tẩu tán tài sản, bà yêu cầu tuyên hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà V với vợ chồng ông
Đ đối với thửa đất số 280, tờ bản đồ số 51, đất có diện tích 159,9m
2
tại thôn 1,
xã L, huyện P, đất được chỉnh lý trang 4 vào ngày 09/8/2022 đứng tên ông H, bà
V vô hiệu để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
Bà Phan Thị V trình bày việc vay mượn nợ giữa bà với bà T đã được Tòa
án nhân dân huyện P ra quyết định công nhận hòa giải thành số 10/2023 ngày
15/9/2023 bà phải có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền vay 1.250.000.000 đồng.
Đối với việc chuyển nhượng đất giữa vợ chồng bà với vợ chồng ông Đ số
tiền 400.000.000 đồng, việc chuyển nhượng đất bà T biết và hoàn toàn đồng ý
và sau khi chuyển nhượng đã trả cho bà T số tiền 50.000.000 đồng, bà không trả
đủ tiền cho bà T là vì thửa đất này đã cầm cố cho bà Vân và phải trả
350.000.000 đồng để chuộc sổ nên không còn tiền trả cho bà T. Vợ chồng bà
chuyển nhượng thửa đất là đúng pháp luật, không có hành vi tẩu tán tài sản nên
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T.
8
Ông Phạm Tiến H trình bày, ông và bà V kết hôn với nhau 2006, đến
tháng 6/2022 ly hôn, thửa đất 280, tờ bản đồ số 51 vợ chồng ông thống nhất thỏa
thuận để cho bà V do ông vẫn đứng tên, nên ông phải ký khi sang tên cho vợ
chồng ông Đ, thực tế ông không còn liên quan gì tới thửa đất này.
Việc thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất giữa bà V với bà T, ông không
biết vì lúc này vợ chồng đã ly hôn, đây là việc riêng của bà V với bà T. Ông
không đồng ý yêu cầu khởi kiện, xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
[4] Tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ thể hiện ngày 15/9/2023 Tòa án nhân dân
huyện P ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành số 10/2023/QĐHGT-DS
bà Phan Thị V có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền nợ 1.250.000.000 đồng.
[4.1] Sau khi chuyển nhượng thửa đất trên, bà V chỉ trả cho bà T số tiền
50.000.000 đồng trong khi phải trả là 1.300.000.000 đồng nên việc chuyển
nhượng thửa đất của bà V là nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Căn cứ Điều 117, Điều 123 của Bộ luật dân sự giao dịch chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông H, bà V với ông Đ, bà T2 là vi phạm điều cấm của pháp
luật nên giao dịch bị vô hiệu.
[4.2] Bà V cho rằng chỉ trả được cho bà T 50.000.000 đồng do bà phải
chuộc sổ từ bà V1 với số tiền 350.000.000 đồng, bà T không biết việc thỏa thuận
chuyển nhượng giữa vợ chồng bà V với vợ chồng ông Đ. Việc cầm cố thửa đất
giữa bà V với bà Vân là quan hệ khác, không liên quan đến nghĩa vụ trả nợ cho
bà T, trình bày bà V không có căn cứ chấp nhận.
[4.3] Đối với yêu cầu độc lập của ông Đ, việc vợ chồng bà V chuyển
nhượng thửa đất trên nhưng trả tiền không đầy đủ cho bà T là nhằm tẩu tán tài
sản, vi phạm điều cấm của pháp luật nên giao dịch này bị vô hiệu ngay từ thời
điểm ký kết. Căn cứ Điều 131 của Bộ luật dân sự, giao dịch vô hiệu không làm
phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu
và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Nên bà V, ông H phải có nghĩa vụ trả lại
cho ông Đ, bà T2 số tiền 410.000.000 đồng.
Đối với số tiền 250.000.000 đồng vợ chồng ông Đ cải tạo, sửa chữa theo
biên bản định giá đối với những tài sản ông Đ, bà T2 sửa chữa cải tạo lớn có giá
trị sử dụng còn lại 218.554.380 đồng nên cần buộc ông H, bà V phải hoàn trả
lại.
[4.4] Việc bà V, ông H chuyển nhượng đất cho ông Đ, bà T2 không cung
cấp đầy đủ thông tin bà V đang phải chịu nghĩa vụ trả nợ cho bà T là lỗi của bà
V, ông H. Nên số tiền 10.000.000 đồng ông Đ, bà T2 đã đóng thuế, cần buộc bà
V, ông H trả lại số tiền này cho ông Đ, bà T2. Đối với thiệt hại giá đất, theo biên
9
bản định giá thì giá đất hiện thấp hơn giá các bên chuyển nhượng, nên không
xem xét.
Án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H, bà V với vợ chồng ông Đ, bà T2
đối với thửa đất số 280, tờ bản đồ số: 51, đất có diện tích 159,9m
2
tại thôn 1, xã
L, huyện P vô hiệu; Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Đ, buộc ông
H, bà V phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Đ, bà T2 số tiền nhận chuyển nhượng
410.000.000 đồng; 10.000.000 đồng tiền thuế và 218.554.380 đồng tiền sửa
chữa cải tạo nhà. Tổng cộng 638.554.380 đồng.
[4.5] Đối với trình bày ông Phạm Tiến H thửa đất trên đã chia cho bà V,
ông chỉ là người đứng tên ký hợp đồng theo yêu cầu của bà V, việc thỏa thuận
phân chia tài sản chung giữa bà V với ông H là tự phân chia, không phù hợp với
các quy định pháp luật, ông và bà V ký kết hợp đồng chuyển nhượng với vợ
chồng ông Đ, bà T2. Hợp đồng bị vô hiệu nên ông H phải có nghĩa vụ cùng với
bà V hoàn trả lại các số tiền cho vợ chồng ông Đ, bà T2.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm ông Phạm Tiến H và bà Phan Thị V không
còn có tài liệu, chứng cứ gì để cung cấp, nên không có cơ sở xem xét, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông Phạm Tiến H
và bà Phan Thị V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai
tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Tiến H và bà Phan Thị V, giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2026/DS-ST ngày 02/02/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai.
Áp dụng Điều 117, Điều 123, Điều 131, Điều 500, Điều 501, Điều 502, và
Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
10
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm
Tiến H, bà Phan Thị V với ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị T2 đối với thửa
đất số 280, tờ bản đồ số 51, diện tích 159,9m
2
tại Thôn 1, xã L, huyện P, tỉnh B
(Nay là thôn L, xã B, thành phố Đ), đất được cấp giấy chứng nhận số: BX
861740 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/11/2016 được
chỉnh lý trang 4 đứng tên ông Phạm Tiến H, bà Phan Thị V vào ngày 09/8/2022,
do Văn phòng công chứng L công chứng vào ngày 11/8/2023 số công chứng:
005215, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Xuân Đ.
Buộc ông Phạm Tiến H, bà Phan Thị V phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho
ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị T2 số tiền 638.554.380 đồng (Sáu trăm ba
mươi tám triệu năm trăm năm mươi bốn ngàn ba trăm tám mươi đồng). (Trong
đó tiền chuyển nhượng đất 410.000.000 đồng, tiền nộp thuế 10.000.000 đồng,
tiền cải tạo sửa chữa nhà 218.554.380 đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền phải thi hành theo mức lãi quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015.
- Về chi phí tố tụng: Ông Hùng, bà V phải hoàn trả lại số tiền chi xem xét
thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng)
cho bà T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hùng, bà V phải chịu 29.842.175 đồng
(hai mươi chín triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn một trăm bảy mươi lăm
đồng).
Hoàn trả lại cho bà T số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011206 ngày 10/05/2024 tại Chi cục thi
hành án dân sự huyện P (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng
Nai).
Ông Phạm Tiến H và bà Phan Thị V mỗi người phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án
phí phúc thẩm ông H nộp tại biên lai số 0007340 ngày 01/04/2026 bà V nộp tại
biên lai số 0007073 ngày 30/03/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai
được tính trừ án phí phúc thẩm ông H, bà V phải chịu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
11
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đồng Nai;
- TAND Khu vực 11 - Đồng Nai;
- VKSND Khu vực 11 - Đồng Nai;
- Phòng Thi hành án dân sự Khu vực
11 - Đồng Nai;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Long Châu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 671/2026/DS-PT Bản án số 671/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 671/2026/DS-PT Bản án số 671/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất