Bản án số 214/2026/HS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 214/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 214/2026/HS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 214/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 214/2026/HS-PT Bản án số 214/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 214/2026/HS-PT Bản án số 214/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐK LK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 241/2026/HSPT
Ngày: 7 - 9 – 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐK LK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị My My.
Các Thẩm phán:Ông Lê Ngọc Minh
Bà Lê Thị Thái Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Minh Hồng - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 7 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 187/2026/TLPT-HS ngày 03 tháng 8 năm
2026 đối với bị cáo Y Dam N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”,
do có kháng cáo của bị cáo Y Dam N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:
37/2026/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk
Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Y Dam N, sinh ngày 14/10/1992, tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi đăng ký
thường trú: Buôn Nhang Ea Tlu, xã M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn A,
xã M, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc:
Ê Đê; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Tấn
D và bà H Buăn N1; Có vợ H Thy Byă; Bị cáo có 02 con (Con lớn nhất sinh năm
2018 và nhỏ nhất sinh năm 2021). Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 39/2014/HSST ngày 28/11/2014, bị cáo bị Tòa án
nhân dân huyện M’Drắk xử phạt 07 tháng tù về tội: “Hủy hoại tài sản”. Đã chấp
hành xong bản án, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/9/2025 đến ngày 26/9/2025, chuyển sang
biện pháp tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Buôn Ma T,
Trại tạm giam số 1-Công an tỉnh Đ – Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Y Dam N: Ông Nguyễn Đình Đ – Trợ giúp viên
pháp lý thuộc trung tâm T2 tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Y Dam bắt đầu sử dụng ma túy đá từ khảng tháng 8 năm 2025. Y Dam quen
biết Trần Duy K thông qua mạng xã hội facebook (Facebook của Y D1 là “Đại
Tam”, của K là “Trần Duy K”). Khoảng 22 giờ ngày 17/9/2025, Y D1 sử dụng
điện thoại của mình (gắn sim số 0967478090) gọi điện thoại cho K (số điện thoại
09249260776) để hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000đồng (dạng ma tuý
đá), nhằm mục đích để sử dụng thì K đồng ý bán. Đến khoảng 22 giờ 30 phút
cùng ngày, K đi đến phòng ở của Y D1 tại quán K1 (thuộc thôn A, xã M, nơi Y
làm thuê) giao cho Y D1 01 gói ma túy, K đăng nhập vào tài khoản Game lấy mã
QR, Y D1 quét mã QR chuyển khoản trước 300.000đồng, còn nợ 200.000đồng.
Y Dam cất giấu ma túy dưới gầm giường trong phòng ở của mình, rồi đi quét dọn
quán.
Đến khoảng 01h00 sáng ngày 18/9/2025, Y D1 mang gói ma túy đá cùng với
dụng cụ sử dụng ma túy qua phòng của H'Hậu M (sinh ngày 28/8/2009) và
Nguyễn Thị Bích N2 (sinh ngày 19/5/2010) (cùng là nhân viên quán K1) để cất
giấu nhưng khi qua thì không thấy N2 và H ở trong phòng nên Y D1 đã mang số
ma túy đá và dụng cụ hút ma túy (Cóng) cất vào một góc phòng, rồi tiếp tục ra
quét dọn quán. Đến 03h30 cùng ngày, Y D1, qua phòng của N2 và H. Y Dam và
H ngồi nói chuyện một lúc thì N2 đi về. Y D1 hỏi N2 và H “hai đứa có chơi ma
túy đá không?” thì N2 và H'Hậu M nói “có”, Y D1 lấy dụng cụ và ma túy đá cất
trong góc phòng ra rồi bật quẹt đốt và hút trước, tiếp đó Y D1 lần lượt bật quẹt
châm cho N2 và H hút. Sau khi hút được 03 lượt thì H lên giường ngủ, còn Y D1
và N2 ngồi hút đến khi hết số ma túy đã mua thì Y D1 nằm tại phòng của N2 và
H đến sáng.
Khoảng 05 giờ cùng ngày, K nhắn tin vào số điện thoại của Y D1, nội dung
“ban K2 tiền em cái đi”, đồng thời sử dụng Facebook “Trần Duy K” nhắn vào
Facebook “Đại Tam” của Y D1 “Bắn tiền e cái a ơi”, Y D1 nhắn lại “chuyển tk
nào v” thì khánh gửi cho Y D1 mã QR (số tài khoản 10448479293 Ngân hàng V).
Khoảng 7h cùng ngày, Y D1 đã sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển
vào tài khoản trên số tiền 200.000đồng để trả tiền mua ma túy cho K.
Đến khoảng 09h30 ngày 18/9/2025, Công an xã M'Đrắk vào kiểm tra quán
K1, đồng thời yêu cầu Y D1, N2, H lên làm việc và tiến hành kiểm tra ma túy.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Y Dam N và Nguyễn Thị
Bích N2 dương tính với M1 (ma túy đá) và Methylene D2 (nhóm thuốc lắc);
H’Hậu Mlô dương tính với M1 (ma túy đá).
- Tại kết luận giám định số: 691 ngày 26/9/2025 của Phòng K3 Công an tỉnh
Đ, kết luận:
+ 01 lọ nhựa màu trắng nắp màu vàng bên trong có chứa dung dịch được
niêm phong gửi giám định có tìm thấy ma túy, loại: Methamphetamine.
3
+ 01 ống thuỷ tinh có một đầu hình cầu thủng lỗ bên trong đầu hình cầu có
ám khói màu đen được niêm phong gửi giám định có tìm thấy ma túy, loại:
Methamphetamine.
+ 01 ống hút màu đỏ được niêm phong gửi giám định có tìm thấy ma túy,
loại: Methamphetamine.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2026/HSST ngày 24/6/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Y Dam N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma
túy”.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật hình sự. Xử phạt bị cáo Y Dam N 08 (T1) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm gian ngày 19/9/2025.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 9/7/2026, bị cáo Y Dam N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Y Dam N vẫn giữ nguyên nội dung đơn
kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung
bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Lăk tại phiên
tòa: Xét thấy mức hình phạt 08 năm 09 tháng tù, Tòa cấp sơ thẩm tuyên phạt đối
với bị cáo là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y Dam N. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số
37/2026/HSST ngày 24/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk.
Người bào chữa cho bị cáo, ông Nguyễn Đình Đ trợ giúp viên pháp lý
trình bày lời bào chữa: Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Y Dam N 08 năm
09 tháng tù là quá nghiêm khắc, bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, bị cáo
có con nhỏ và là lao động duy nhất trong gia đình. Bị cáo là người dân tộc thiểu
số, sống tại vùng có điều kiện kinh tế -xã hội khó khăn. Bị cáo đã ăn năn hối cải
hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ
luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận, bổ sung bào chữa gì thêm chỉ mong Hội đồng xét
xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai
của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với các tài liệu,
4
chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở
kết luận: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 18/9/2025, tại phòng ở của nhân viên quán
K1 ơ thôn A, xã M, tỉnh Đăk Lăk. Y Dam N đã chuẩn bị dụng cụ và ma túy đá rồi
cùng với H'Hậu M (sinh ngày 28/8/2009) và Nguyễn Thị Bích N2 (sinh ngày
19/5/2010) sử dụng ma túy đá thì bị Công an xã M4'Đrắk phát hiện bắt giữ. Tòa
án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Y Dam N về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn
cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng: Tòa án cấp
sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Y Dam N 08 năm 09 tháng tù là thỏa đáng, tương xứng
với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Bởi lẽ, hành vi tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội và đã trực tiếp
xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy.
Đồng thời gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt cho xã hội và tình hình trật tự trị an
tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2014 đã bị Tòa án nhân dân huyện
M’Drăk xử phạt 07 (B) tháng tù về tội: “Hủy hoại tài sản”, bị cáo không chịu ăn
năn hối cải mà lại tiếp tục phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm
đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị
cáo như sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội
và là người dân tộc thiểu số nên trình độ nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị
cáo sống tại vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Tại cấp phúc
thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ hình phạt nào mới nên việc
cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để cải tạo giáo dục bị cáo là cần thiết. Vì vậy, Hội
đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số
sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí
hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp
luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y Dam N.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2026/HSST ngày 24 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk về hình phạt đối với bị cáo Y
Dam N.
[2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật hình sự. Xử phạt bị cáo Y Dam N 08 (T1) năm 09 (C) tháng tù về tội: “Tổ
5
chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/9/2025.
[3].Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Y Dam N không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
- Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
- Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk
Lắk;
- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk;
- Những người TGTT;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị My My
6
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐK LK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 09 tháng 02 năm 2026;
Tại: Phòng nghị án - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My M2;
Các Thẩm phán: Ông Bùi Quốc H1;
Ông Lê Ngọc M3.
7
Tiến hành nghị án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 374/2025/TLPT-HS ngày
29 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo Hà Văn D3, bị Toà án nhân khu vực 4, tỉnh Đắk
Lắk xét xử về tội tội “Đánh bạc” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với
mức hình phạt (06) sáu tháng tù.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hà Văn D3.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 13/11/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 4, tỉnh Đắk Lắk.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng .
[2]. Về Điều luật và hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ
luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hà Văn D3 phạm tội: “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Hà Văn D3 01 (Một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian
chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình
sự Công an tỉnh Đ nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Hà Văn D3 cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đắk Lắk giám sát, gia
đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát,
giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật
về Thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Hà Văn D3.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng .
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Hà Văn D3 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng
cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng .
8
Biên bản lập xong hồi 09 giờ 30 phút cùng ngày. Đã đọc lại cho mọi người cùng
nghe nhất trí và ký tên.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
B1
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 214/2026/HS-PT Bản án số 214/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 214/2026/HS-PT Bản án số 214/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất