Bản án số 841/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 841/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 841/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 841/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: HĐ vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 841/2026/DS-PT Bản án số 841/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 841/2026/DS-PT Bản án số 841/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Hà
Bà Lê Thị Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn
Thị Mỹ Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 492/2026/TLPT-DS ngày 11 tháng
8 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 195/2026/DS-ST ngày 03 tháng 7 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 775/2026/QĐ-PT ngày 21
tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 952/2026/QĐ – PT ngày 10
tháng 9 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc C, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Số CCCD: ************;
Địa chỉ: Số G, ấp H, phường P, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của bà C: Anh Lê Phạm Hoàng T, sinh năm 2002 (có
mặt)
Địa chỉ: Số D Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo văn bản ủy quyền
ngày 29/12/2025.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn
Thành T1 – Công ty L và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1976 (có mặt)
Số CCCD: ************;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 841/2026/DS - PT
Ngày 22 - 9 - 2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Địa chỉ: Số D, khu phố F, phường A, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Tấn T2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc C và trong quá
trình giải quyết vụ án anh Lê Phạm Hoàng T là người đại diện hợp pháp của nguyên
đơn trình bày: Do có quan hệ quen biết nên bà Lê Thị Ngọc C có cho ông Nguyễn
Tấn T2 vay số tiền 13.400.000.000 đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 18/10/2023,
công chứng số 017280, quyển số 10/2023 TP/CC-SCC/HĐGD, thời hạn vay là 06
tháng kể từ ngày ký hợp đồng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận theo quy định của pháp
luật. Ông T2 đã nhận đủ số tiền 13.400.000.000 đồng và có ký biên nhận tiền.
Cùng ngày ông Nguyễn Tấn T2 tiếp tục vay của bà C số tiền 4.220.000.000
đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 18/10/2023, công chứng số 017281, quyển số
10/2023 TP/CC-SCC/HĐGD, thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, lãi
suất hai bên tự thỏa thuận theo quy định của pháp luật. Ông T2 đã nhận đủ số tiền
4.220.000.000 đồng và có ký biên nhận tiền.
Tổng số tiền ông Nguyễn Tấn T2 đã vay của bà Lê Thị Ngọc C là
17.620.000.000 đồng. Tuy nhiên, từ khi vay tiền đến nay, ông T2 không thực hiện
đúng thỏa thuận, không thực hiện việc trả nợ như cam kết. Nay bà Lê Thị Ngọc C
khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Tấn T2 trả số tiền vay gốc là 17.620.000.000 đồng và
tiền lãi tính từ ngày 18/4/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 10%/năm.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn T2 trình bày: Ông Nguyễn Tấn T2 thừa nhận có ký tên
theo Hợp đồng vay tiền ngày 18/10/2023, công chứng số 017280, quyển số 10/2023
TP/CC-SCC/HĐGD và Hợp đồng vay tiền ngày 18/10/2023, công chứng số 017281,
quyển số 10/2023 TP/CC-SCC/HĐGD02; chữ ký và dấu lăn tay trong 02 hợp đồng
vay tiền và 02 biên nhận tiền là của ông T2. Tuy nhiên, không có việc ông T2 vay và
nhận của bà C số tiền 17.620.000.000 đồng vào ngày 18/10/2023. Ông T2 cho rằng
có vay tiền của bà C nhưng bà C giao tiền nhiều lần từ năm 2020 đến năm 2023, việc
giao nhận tiền thông qua chuyển khoản, có 01 đến 02 lần tiền mặt. Từ năm 2020 đến
2023, ông T2 đã đóng lãi cho bà C là 9%/tháng nhưng hiện không nhớ rõ số tiền lãi
cụ thể là bao nhiêu, số tiền lãi đã đóng thì không có yêu cầu gì. Trong tháng 3/2023,
ông T2 đã báo bà C về việc không có khả năng đóng lãi do làm ăn thua lỗ. Do đó,
ngày 18/10/2023, ông T2 ký hợp đồng vay tiền là để chốt lại số tiền còn nợ lại bà C
tổng cộng là 13.400.000.000 đồng, ông T2 thừa nhận còn nợ lại bà C số tiền gốc là
13.400.000.000 đồng. Đối với số tiền 4.220.000.000 đồng là tiền lãi bà C chốt lại từ
tháng 4/2023 đến tháng 10/2023 của số tiền nợ vay 13.400.000.000 đồng nên không
đồng ý trả số tiền này. Ông T2 đồng ý trả số tiền gốc còn nợ lại bà C là
13.400.000.000 đồng và không đồng ý trả lãi.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 195/2026/DS-ST ngày 03 tháng 7 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc C.
3
Buộc ông Nguyễn Tấn T2 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Ngọc C số tiền là
21.510.070.600 đồng (trong đó số tiền vay gốc là 17.620.000.000 đồng, số tiền lãi là
3.890.070.600 đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ chậm thi
hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/7/2026, bị đơn ông Nguyễn Tấn T2 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Không chấp toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của bà C, ông T2 đồng ý trả cho bà C số tiền 13.400.000.000 đồng; yêu
cầu tính lại số tiền lãi mà ông T2 đã trả cho bà C từ ngày 01/11/2022 đến ngày
15/4/2023 với lãi suất 9%/tháng với số tiền lãi là 12.028.200.000 đồng, khấu trừ số
tiền lãi này vào số tiền nợ 13.400.000.000 đồng; Hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giả tạo giữa ông T2 với bà C để ông T2 vay của bà C số tiền
1.000.000.000 đồng nằm trong số tiền 13.400.000.0000 đồng mà ông T2 còn nợ bà C;
yêu cầu bà C trả lại cho ông T2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 475277 do
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/5/2019 cho bà Nguyễn Thị Vân A,
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 8001147 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh B cấp ngày 26/7/2018 cho bà Nguyễn Thị Vân A, giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CR 475276 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/5/2019
cho bà Nguyễn Thị Vân A.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Lê Phạm Hoàng T không rút yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc C. Bị đơn ông Nguyễn Tấn T2 giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo và cho rằng số tiền lãi ông T2 trả cho bà C số tiền 17.480.100.000 đồng
chứ không phải là số tiền 12.028.000.000 đồng nêu trong đơn kháng cáo. Các đương
sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại bản luận cứ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn T2,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng: Tại 02 hợp đồng vay tiền ngày
18/10/2023 và 02 biên nhận tiền cùng ngày thể hiện nội dung ông Nguyễn Tấn T2 có
vay của bà Lê Thị Ngọc C và thừa nhận nhận đủ số tiền vay 13.400.000.000 đồng và
4.220.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông T2 cũng thừa nhận còn
nợ bà C số tiền 13.400.000.000 đồng; đối với số tiền 4.220.000.000 đồng ông T2 cho
rằng là số tiền lãi của số tiền 13.400.000.000 đồng nhưng ông T2 không có chứng cứ
chứng minh. Trong khi đó bà C cho rằng số tiền 13.400.000.000 đồng và số tiền
4.220.000.000 đồng là ông T2 vay sau này, không liên quan gì đến các giao dịch tiền
giữa bà C với ông T2 trước đây. Do đó, việc ông T2 không đồng ý trả số tiền vay
4.220.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận. Đối với kháng cáo của ông T2 yêu
cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T2 với bà C; yêu cầu
4
bà C trả lại cho ông T2 các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các yêu cầu này
trong quá trình giải quyết giai đoạn cấp sơ thẩm, ông T2 không có yêu cầu Tòa án
giải quyết và Tòa án cấp sơ thẩm chưa thụ lý giải quyết nên không thuộc phạm vi xét
xử của Tòa án cấp phúc thẩm nên kháng cáo này của ông T2 không được cấp phúc
thẩm xem xét giải quyết. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận kháng cáo của ông T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn luật sư Nguyễn
Thành T1 vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào Điều 296
của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn T2 không đồng ý trả số tiền nợ
vay 21.510.070.600 đồng (trong đó số tiền vay gốc là 17.620.000.000 đồng, số tiền
lãi là 3.890.070.600 đồng); chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền 13.400.000.000
đồng và yêu cầu tính lại số tiền lãi mà bị đơn đã trả cho nguyên đơn từ ngày
01/11/2022 đến ngày 15/4/2023 với lãi suất 9%/tháng với số tiền lãi là
12.028.200.000 đồng (tại phiên tòa phúc thẩm ông T2 cho rằng số tiền lãi đã trả là
17.480.100.000 đồng) khấu trừ số tiền lãi này vào số tiền nợ 13.400.000.000 đồng,
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc C cho rằng vào ngày
18/10/2023, bà C có cho ông T2 vay số tiền 17.460.000.000 đồng, thời hạn vay 06
tháng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận theo quy định pháp luật. Còn bị đơn ông T2 cho
rằng ông T2 vay tiền của bà C nhiều lần, từ năm 2020 đến năm 2023 còn nợ bà C số
tiền 13.400.000.000 đồng; đối với số tiền 4.220.000.000 đồng là tiền lãi bà C chốt lại
từ tháng 4/2023 đến tháng 10/2023 của số tiền nợ vay 13.400.000.000 đồng. Để
chứng minh cho yêu cầu của mình, bà C có cung cấp cho Tòa án 02 hợp đồng vay
tiền: Hợp đồng vay tiền ngày 18/10/2023, công chứng số 017280, quyển số 10/2023
TP/CC-SCC/HĐGD thể hiện nội dung bà C cho ông T2 vay số tiền 13.400.000.000
đồng (BL 368 - 370); Hợp đồng vay tiền ngày 18/10/2023, công chứng số 017281,
quyển số 10/2023 TP/CC-SCC/HĐGD02 thể hiện nội dung bà C cho ông T2 vay số
tiền 4.220.000.000 đồng (BL 372 - 374); 02 biên nhận tiền cùng ngày 18/10/2023 thể
hiện nội dụng ông T2 ký nhận nhận đủ số tiền 13.400.000.000 đồng và 4.220.000.000
đồng (BL 371, 375). Nguyên đơn bà C cho rằng lý do cùng một ngày làm hai hợp
đồng cho vay trên là vì đối với hợp đồng cho vay số tiền 4.220.000.000 đồng; số tiền
4.220.000.000 đồng này là số tiền bà C vay của người khác cho ông T2 vay lại nên bà
C muốn tách riêng đối với số tiền cho vay 13.400.000.000 đồng nên mới làm hai hợp
đồng riêng cùng ngày. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông T2 thừa nhận chữ ký
trong hai hợp đồng vay tiền và hai biên nhận tiền trên là của ông T2, ông T2 cũng
thừa nhận ông không bị đe dọa hay bị ép buộc khi ký vào các văn bản trên. Trong quá
trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, ông T2 có cung cấp
cho Tòa án các tin nhắn qua mạng xã hội Zalo giữa ông T2 với bà C và bảng sao kê
giao dịch ngân hàng để chứng minh cho lời trình bày của mình (BL 87 – 214; 223 -
5
354). Phía bà C cho rằng giữa bà C và ông T2 có mối quan hệ làm ăn qua lại với
nhau, các tin nhắn qua mạng xã hội Zalo và bảng sao kê giao dịch ngân hàng mà ông
T2 cung cấp là việc làm ăn giữa bà C với ông T2 trước đây, không có liên quan gì
đến khoản tiền 13.400.000.000 đồng và 4.220.000.000 đồng mà bà C cho ông T2 vay
ngày 18/10/2023. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo nội dung hai hợp đồng vay ngày
18/10/2023 và hai biên nhận tiền ngày 18/10/2023 thể hiện bà C có cho ông T2 vay
số tiền 13.400.000.000 đồng và 4.220.000.000 đồng, ông T2 có làm biên nhận tiền
thể hiện là ông T2 đã nhận đủ số tiền trên; các tin nhắn Zalo và bảng sao kê giao dịch
ngân hàng mà ông T2 cung cấp có thể hiện nội dung trao đổi, các giao dịch chuyển
tiền giữa bà C, ông T2 nhưng thời gian trước ngày 18/10/2023; bà C và anh T cho
rằng các khoản tiền trảo đổi, chuyển tiền giữa hai bên theo các tin nhắn Zalo, sao kê
ngân hàng này là các khoản tiền giữa bà C với ông T2 làm ăn với nhau trước đó,
không liên quan gì đến số tiền 13.400.000.000 đồng và 4.220.000.000 đồng mà bà C
cho ông T2 vay ngày 18/10/2023. Ông T2 không chứng minh được số tiền
13.400.000.000 đồng vay ngày 18/10/2023 là số tiền vay từ năm 2020 đến năm 2023;
số tiền 4.220.000.000 đồng là tiền lãi của số tiền 13.400.000.000 đồng. Việc Tòa án
cấp sơ thẩm buộc ông T2 trả cho bà C số tiền nợ vay 17.620.000.000 đồng và số tiền
lãi 3.890.070.600 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, kháng cáo này của ông
T2 là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Đối với kháng cáo của ông T2 yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giả tạo giữa ông T2 với bà C để ông T2 vay của bà C số tiền
1.000.000.000 đồng nằm trong số tiền 13.400.000.0000 đồng mà ông T2 còn nợ bà C;
yêu cầu bà C trả lại cho ông T2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 475277 do
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/5/2019 cho bà Nguyễn Thị Vân A,
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 8001147 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh B cấp ngày 26/7/2018 cho bà Nguyễn Thị Vân A, giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CR 475276 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/5/2019
cho bà Nguyễn Thị Vân A, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết giai
đoạn cấp sơ thẩm, ông T2 không có yêu cầu giải quyết nội dung này và Tòa án cấp sơ
thẩm chưa thụ lý giải quyết nên không thuộc phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc
thẩm nên kháng cáo này của ông T2 không được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét
giải quyết.
[4] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; ý
kiến của vị Kiểm sát viên như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ
sở chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Nguyễn Tấn T2 phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm mà ông T2 đã nộp theo biên lai số: 0001214 ngày 28/7/2026 của Thi hành
án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
6
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn T2.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 195/2026/DS-ST ngày 03 tháng 7 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long.
Áp dụng các Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc C.
Buộc ông Nguyễn Tấn T2 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Ngọc C số tiền
21.510.070.600 đồng (trong đó số tiền vay gốc là 17.620.000.000 đồng, số tiền lãi là
3.890.070.600 đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi
hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tướng ứng với thời gian chưa thi
hành án.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Nguyễn Tấn T2 phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm mà ông T2 đã nộp theo biên lai số: 0001214 ngày 28/7/2026 của Thi hành
án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị,
không bị cải sửa có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71, 72 của Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân
sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 5 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 841/2026/DS-PT Bản án số 841/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 841/2026/DS-PT Bản án số 841/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất