Bản án số 13/2026/HC-PT ngày 05/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 13/2026/HC-PT ngày 05/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 13/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/08/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Người khởi kiện yêu cầu hủy Công văn của ủy ban cấp xã
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 13/2026/HC-PT Bản án số 13/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 13/2026/HC-PT Bản án số 13/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 13/2026/HC-PT
Ngày: 05-8-2026
V/v: Khiếu kiện QĐ hành chính và
yêu cầu bồi thường thiệt hại.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Thu Hường.
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn và bà Lê Thị Thanh Huyền.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hải Mi – Thư ký Toà
án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Phan
Thị Ngọc Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tán nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở
phiên toà xét xử công khai trực tuyến vụ án hành chính thụ số: 03/2026/TLPT-
HC ngày 17/4/2026 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính yêu cầu bồi
thường thiệt hại”. Do bản án hành chính thẩm số: 01 ngày 20/6/2025 của TAND
thị Sông Cầu, tỉnh Phú Yên (nay TAND Khu vực 14 Đắk Lắk) bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2026/QĐ-PT ngày 17/6/2026, giữa:
- Người khởi kiện: Ông Phan L, sinh năm 1979; địa chỉ: Khu phố A, phường
X, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Hương Q, Công ty
L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: C M, phường T, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân phường X, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: K. T,
phường X, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngọc T Chủ tịch Ủy ban nhân dân
phường X, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Thanh V Phó Chủ tịch Ủy ban nhân
dân phường X, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khiếu kiện ngày 10/02/2025 trong quá trình giải quyết vụ án,
người khởi kiện ông Phan L trình bày:
2
Trước năm 1975, ông ngoại của ông Phan L ông Bùi M khai hoang được
mảnh đất diện tích 1.074m
2
. Sau năm 1975, ông M đlại cho bà Bùi Thị C (mẹ ruột
ông L) sử dụng. Sau này C già yếu thì để lại cho các con. Trong suốt thời gian
này gia đình liên tục sử dụng đất, trồng sắn, khoai lang, bắp, mít, bạch đàn. Năm
2012, nhân viên của Chi nhánh Tổng công ty V1 liên hệ gia đình ông L xin lấy đất
làm trụ phát sóng, hỗ trợ số tiền 800.000 đồng bồi thường cây cối bị ảnh hưởng
trên phần đất xây trụ. Năm 2016, Thị đội thị xã S hợp đồng với Tổng công ty V2
xây dựng trụ phát sóng trên phần đất của gia đình ông L nên gia đình ông L làm đơn
khiếu nại. UBND phường X đã tổ chức buổi hòa giải với sự có mặt của 03 bên (gia
đình ông L, Thị đội thị S Tổng công ty V2), kết quhòa giải là thửa đất trên
thuộc quyền sử dụng của gia đình ông L. vậy, Thị đội thị S đã chuyển giao
hợp đồng ký với Tổng công ty V2 cho gia đình ông L. Kể từ đó hàng tháng gia đình
ông L thu tiền thuê đất số tiền 1.800.000 đồng đối với Tổng công ty V2, đến năm
2022 thì thanh hợp đồng. Thủ tục hợp đồng giấy xác nhận của UBND
phường X.
Năm 2023, gia đình ông L phát hiện UBND phường X tự ý ký hợp đồng cho
thuê đất gia đình ông L với Công ty M2 từ năm 2012 đến năm 2022 và diện tích đất
quy chủ Ủy ban quản nên gia đình ông L làm đơn khiếu nại gửi đến UBND phường
X đề nghị quy chủ công nhận quyền sử dụng đối với thửa đất trên cho gia đình
ông thì UBND phường X Công văn s894/UBND ngày 31/7/2023 trả lời với nội
dung thửa đất trên thời gian sử dụng không liên tục, bỏ hoang nên không công
nhận quyền sử dụng đất cho gia đình, hiện thửa đất quy chủ UBND phường quản lý.
Do đó, ông Phan L khởi kiện yêu cầu hủy Công văn số 894/UBND ngày
31/7/2023 của UBND phường X, yêu cầu Toà án công nhận quyền sử dụng đất cho
gia đình ông L, đồng thời yêu cầu UBND phường X trả lại cho gia đình ông L số
tiền 207.000.000đ UBND đã thu được từ việc cho Công ty M2 thuê không đúng
quy định pháp luật.
Ngày 03/6/2025 tại phiên toà thẩm, ông Phan L xin rút một phần yêu
cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân phường X bồi thường số tiền
207.000.000đ và yêu cầu Toà án công nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan L.
Tại biên bản đối thoại ngày 16/5/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án,
người bị kiện Ủy ban nhân dân phường X trình bày:
Thửa đất mà ông Phan L trình bày có nguồn gốc của ông Bùi M từ trước năm
1975, sau này ông M mất để lại cho mẹ ông L là Bùi Thị C. Bà C quản lý canh
tác nhưng thời gian sử dụng không liên tục, bỏ hoang một thời gian. Đến năm
2010 thì ông Nguyễn Văn S trồng bạch đàn nhưng gia đình ông L không ý
kiến gì. Khi trung tâm M3 xây dựng trụ phát sóng thì Công ty Đ, hỗ trợ bằng ngân
sách. Năm 2012, UBND phường X làm hợp đồng cho thuê thửa đất trên với Công
3
ty M2. Về việc xây dựng trạm phát sóng của Tổng công ty V2, Ban chỉ huy quân sự
thị xã S đã chuyển giao hợp đồng được ký với Tổng công ty V2 cho gia đình ông L,
nhưng ông Phan L và Tổng công ty V2 hợp đồng cho thuê không chứng
nhận của quan có thẩm quyền nên chưa đủ cơ sở để quy chủ thửa đất trên cho gia
đình ông L. Nay ông L yêu cầu hủy Công văn số 894/UBND ngày 31/7/2023 thì
UBND phường X không đồng ý. Việc ông L rút yêu cầu UBND phường bồi thường
số tiền 207.000.000đ thì UBND phường không có ý kiến gì.
Những người làm chứng trình bày:
Ông Nguyễn Văn S trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 19/01/2024: Diện
tích đất đang tranh chấp giữa UBND phường X với Bùi Thị C tôi không biết
nguồn gốc như thế nào. Tôi thấy vtrí đất bỏ hoang, năm 2007 2008 tôi đến
trồng cây bạch đàn, trồng được khoảng 05 năm thì UBND phường X phối hợp với
khu phố A đến nhà tôi làm việc bồi thường cây cho tôi, bồi thường số tiền bao
nhiêu tôi không nhớ vì thời gian đã lâu, chỉ nhớ bồi thường cây cho tôi và tôi trả lại
đất cho nhà nước. Từ đó đến nay tôi đã giao lại đất cho UBND phường X nên tôi
không còn liên quan gì và tôi đề nghị vắng mặt khi toà án mời làm việc và xét xử.
Ông Nguyễn Hữu M1 trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 24/10/2023:
Diện tích đất bà Bùi Thị C đang tranh chấp và yêu cầu UBND phường bồi thường
cho bà C toạ lạc tại: Khu phố A, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. tôi là người lớn
tuổi sống lâu năm tại địa phương tôi thừa biết diện tích đất của gia đình bà Bùi Thị
C sử dụng canh tác từ năm 1971 cho đến nay. Năm 1971 bà C sử dụng trồng sắn và
khoai, diện tích đất tôi sdụng gần kế bên diện tích đất C nên tôi biết cụ thể. Năm
2010 C con trai C thuê người trồng cây bạch đàn, xuống nhà tôi xin nước
uống tôi cho nước uống nên tôi nhớ rất rõ. Năm 2012 Mobifone làm trạm phát
sóng, tôi gọi gia đình bà C chạy lên xem thì phát hiện đang tiến hành xây dựng trạm
phát sóng, hiện tại các cây bạch đàn là do con trai bà C là ông Phan L trồng.
Ông Nguyễn Văn T1 trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 26/7/2024: Đất
của tôi một khoảng rất nhỏ, i xây dựng nhà từ rất lâu, phần nhỏ trống tôi
trồng bạch đàn nằm gần chỗ đất đang tranh chấp giữa Bùi Thị C và UBND phường
X. Tôi không hiểu vì sao tờ bản đồ địa chính đo đạc năm 2012, thửa 34, tờ 02-LN,
loại đất RSX, sổ mục kê quy chủ tên tôi: Nguyễn Văn T1 vì tôi chỉ có diện tích đất
rất nhỏ, tôi cũng không biết gì về đất tranh chấp giữa C UBND phường X. Đất
tôi chưa kê khai, việc nhà nước quản lý đất đai và quy chủ trong bản đồ, sổ mục kế
như thế nào thì tôi không biết, tôi không tranh chấp đất với ai nên đề nghị Toà án
không triệu tập tôi làm việc và đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Ông Thái Văn N trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 24/10/2023: Diện tích
đất Bùi Thị C tranh chấp và yêu cầu UBND phường X bồi thường cho C toạ
lạc tại: Khu phố A, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Diện tích đất tôi sử dụng gần
4
kế bên đất Bùi Thị C nên tôi biết cụ thể: Vào khoảng năm 1995, tôi thấy bà Bùi
Thị C canh tác, sử dụng trồng sắn, khoai chính C sử dụng đất từ đó cho đến
nay, hiện tại cây bạch đàn trên đất là do con trai bà C là ông Phan L trồng.
Ông Huỳnh Văn H, ông Bùi Văn C1, ông Văn L1 ng thống nhất trình
bày: Năm 2010 ông Phan L con trai Bùi Thị C thuê ông H, ông C1, ông L1
trồng cây bạch đàn trên đất C toạ lạc tại: Khu phố A, phường X, thị S, tỉnh
Phú Yên. Thời điểm trồng cây thì không thấy trạm phát sóng nào, chđất trống
mấy gốc cây mít bị mục, chúng tôi phát dọn trồng cây bạch đàn, không
nước uống chúng tôi đến nhà chúc ba Mẫn xin nước uống. Chúng tôi trồng khoảng
2.000 cây bạch đàn trên đất. Sau đó năm 2011, 2012 ông Phan L tiếp tục thuê chúng
tôi phát dọn cây chồi hằng năm.
Bản án hành chính sơ thẩm số 01 ngày 20/6/2025 của TAND thị ng
Cầu, tỉnh Phú Yên (nay là TAND Khu vực 14 – Đắk Lắk) đã quyết định:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan L. Hủy Công văn số
894/UBND ngày 31-7-2023 của UBND phường X về việc xác minh, trả lời đơn của
ông Phan L.
[2]. Ông Phan L quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu xác lập
hồ xét, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất
đai.
[3]. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc ông Phan L yêu cầu UBND
phường X bồi thường số tiền 207.000.000 đồng.
[4] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện vviệc yêu cầu Toà án công nhận
quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền
kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án cho các đương sự theo
quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, UBND phường X kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên toà phúc thẩm, người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện v
việc đề nghị Tòa án tuyên hủy Công văn số 894/UBND ngày 31/7/2023 của UBND
phường X; Người bị kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người khởi kiện cho rằng công
văn số 894/UBND ngày 31/7/2023 quyết định hành chính, nội dung xác định
“không đủ sở quy chủ thửa đất” cho gia đình ông Phan L ảnh hưởng đến quyền
lợi gia đình ông Phan L nên thuộc đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính. Các
tài liệu có trong hồ sơ thể hiện thửa đất có nguồn gốc do ông ngoại của ông Phan L
khai hoang sử dụng từ trước năm 1975, sau này để lại cho bà Bùi Thị C mẹ ông L
sử dụng. Khi Bùi Thị C già yếu thì gia đình ông Phan L sử dụng. Việc sử dụng
5
đất liên tục nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người
bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Đại diện Viện kim sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
* Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như các đương sự đã thực hiện đúng quy
định của luật tố tụng hành chính.
*Về nội dung:
- Tuy đơn của ông Phan L tiêu đđơn xin khiếu nại nhưng nội dung đơn
chỉ đề nghị quan thẩm quyền cung cấp thông tin cũng như xem xét về đối
tượng sử dụng đất. Việc giải quyết đơn của U theo thủ tục thông thường, không thực
hiện theo quy trình giải quyết khiếu nại. Mặt khác, Công văn số 894/UBND không
có nội dung quyết định vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính liên quan
đến quyền lợi của gia đình ông L. Do vậy, việc Bản án sơ thẩm xác định “Công n
số 894/UBND ngày 31/7/2023 đối tượng khởi kiện theo quy định tại Điều 30 Luật
tố tụng hành chính” là không đúng.
- Ông Phan L chỉ khởi kiện yêu cầu hủy Công văn số 894/UBND nhưng Bản
án thẩm lại nhận định “Việc sử dụng đất của gia đình ông Phan L phù hợp với
Điều 101 Luật Đất đai 2013 khoản 5 Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 thì người khởi kiện đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, từ đó quyết định
“Ông Phan L có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu xác lập hồ sơ xét,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai” là giải
quyết chưa toàn diện, khách quan, gây khó khăn trong công tác thi hành án.
- Tất cả các giấy xác nhận nhân chứng hay biên bản lấy lời khai của người
làm chứng chỉ là tài liệu được Tòa án cấp sơ thẩm thu thập từ vụ án dân sự sơ thẩm
số 112/2023/TLST-DS ngày 28/8/2023 giữa nguyên đơn Bùi Thị C (mẹ ông L)
bị đơn UBND phường X. Tòa án không triệu tập ông Văn L1, Bùi Văn C1,
Thái Văn N, Nguyễn Hữu M1, Nguyễn Văn T1, Huỳnh Văn H tham gia tố tụng trong
vụ án này với cách người làm chứng. Do vậy, việc Bản án thẩm xác định những
người trên là người làm chứng là không phù hợp.
Đề nghị Hội đồng xét xchấp nhận kháng cáo của UBND phường X, hủy
Bản án hành chính thẩm s01/2025/HC-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân
thị Sông Cầu, tỉnh Phú Yên (Nay TAND Khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk) đình
chỉ việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ,
ý kiến của Kiểm sát viên, của các đương sự. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
6
Sau khi xét xử sơ thẩm, Ủy ban nhân dân phường X kháng cáo toàn bộ bản án
hành chính sơ thẩm số 01/2025/HC-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân thị xã
Sông Cầu, tỉnh Phú Yên (Nay Tòa án nhân dân Khu vực 14 tỉnh Đắk Lắk) và đã
được Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk chấp nhận kháng cáo quá hạn theo Quyết định
số 01/2026/QĐ-PT ngày 20/01/2026. Do đó, cần xem xét kháng cáo của UBND
phường X theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của UBND phường X, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về đối tượng khởi kiện:
Ngày 22/6/2023, ông Phan L gửi “Đơn xin khiếu nại” đến UBND phường X
với nội dung: Gia đình tôi biết được thông tin thửa đất của gia đình tôi nằm trong
khu dự án khu D, quy chủ UBND xã. Đề nghị UBND phường, UBND thị xã SSở
TNMT tỉnh P kiểm tra lại đất nằm trong diện thu hồi của công ty X không? Đất
có phải quy chủ cho UBND phường không? Nếu nằm trong diện tích thu hồi thì cần
điều chỉnh lại quy chủ cho phù hợp để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho gia
đình tôi.
Ngày 31/7/2023, UBND phường X ban hành Công văn số 894/UBND về việc
xác minh, trả lời đơn của ông Phan L với nội dung:
- Qua quá trình kiểm tra, xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất...chưa
đủ cơ sở để ông đề nghị quy chủ thửa đất trên cho gia đình mình.
- Ngày 26/11/2020, UBND tỉnh P ban hành quyết định số 2005 quyết định chủ
trương đầu dự án: Tổ hợp thương mại dịch vụ du lịch nghdưỡng X1. Hiện
nhà đầu tư đang thực hiện các trình tự thủ tục để được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất theo quy định.
Như vậy, tuy đơn của ông Phan L có tiêu đề “Xin khiếu nại” nhưng nội dung
đơn là đề nghị cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin cũng như xem xét lại đối
tượng sử dụng đất. Công văn số 894/UBND có nội dung cung cấp thông tin sau khi
xác minh theo đơn yêu cầu của ông Phan L. Việc giải quyết đơn của UBND phường
X được thực thiện theo thủ tục thông thường, không thực hiện theo quy trình giải
quyết khiếu nại và không được ban hành với hình thức quyết định giải quyết khiếu
nại. Do đó, án thẩm nhận định “UBND phường X ban hành Công n số
894/UBND ngày 31/7/2023 về việc xác minh, trả lời đơn của ông Phan L đúng
trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại theo Luật khiếu nại năm 2011” là không đúng
quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011.
Ông Phan L không thực hiện thủ tục đăng kê khai cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Công văn số 894/UBND không phải văn bản được ban hành
trong quá trình giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính về đất đai. Mặt khác, theo quy
định của Luật Đất đai năm 2013 đang có hiệu lực tại thời điểm ban hành Công văn
số 894/UBND thì Ủy ban nhân dân cấp không phải cơ quan có thẩm quyền cấp
7
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân. vậy, nội dung
công văn có nêu "chưa đủ cơ sở để quy chủ" thì đây cũng không phải là văn bản từ
chối cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của quan thẩm quyền. Các nội
dung nêu trong Công văn số 894/UBND không quyết định vấn đề cụ thể trong quản
nhà nước về đất đai liên quan đến quyền lợi của ông Phan L nên không làm
phát sinh, thay đổi, hạn chế hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ của ông Phan L.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì Quyết định
hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền
ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà
nước và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.
Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính quy định: Quyết định hành chính bị
kiện quyết định được quy định tại khoản 1 Điều này quyết định đó làm phát
sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân hoặc nội dung m phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền
lợi ích hợp pháp đó.
Đối chiếu các quy định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Công văn số
894/UBND ngày 31/7/2023 của UBND phường X không phải quyết định hành
chính, không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính quy định tại khoản 1 Điều
30 của Luật tố tụng hành chính. Tòa án cấp thẩm xác định Công văn số 894
quyết định hành chính để thụ lý và xem xét giải quyết là không đúng quy định, cần
phải đình chỉ giải quyết.
[2.2] Quá trình giải quyết ván, cấp thẩm còn xác định không đúng về thời
hiệu khởi kiện và giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự.
Thứ nhất, về thời hiệu khởi kiện:
Giả sCông văn số 894/UBND ngày 31/7/2023 được xem là quyết định hành
chính thì cấp sơ thẩm cũng xác định không đúng về thời hiệu khởi kiện. Bởi lẽ:
Ngày 31/7/2023, Ủy ban nhân dân phường X ban hành Công văn số
894/UBND về việc xác minh, trả lời đơn đối với ông Phan L.
Ngày 14/8/2023 Bùi Thị C (mẹ ông Phan L) có đơn khởi kiện vụ án dân sự
yêu cầu UBND phường X bồi thường thiệt hại về tài sản và yêu cầu huỷ văn bản số
894/UBND, ông Phan L tham gia với tư cách là người đại diện ủy quyền của bà C.
Như vậy, ông Phan L đã biết Công văn số 894/UBND từ tháng 8 năm 2023.
Ngày 22/01/2025, ông Phan L rút đơn khởi kiện vụ án dân sự. Ngày
10/02/2025 ông Phan L nộp đơn khởi kiện vụ án hình chính yêu cầu hủy Công văn
số 894/UBND ngày 31/7/2023. Công văn số 894/UBND ngày 31/7/2023 trả lời đơn
của ông Phan L nên ông L là chủ thể bị tác động trực tiếp nhưng ông Phan L không
khởi kiện trong thời hạn 01 năm kể từ ngày nhận hoặc biết được công văn này. Do
8
đó, khi ông L nộp đơn khởi kiện là đã quá thời hiệu quy định tại Khoản 2 Điều 116
Luật Tố tụng hành chính.
Việc Bùi Thị C lựa chọn khởi kiện vụ án dân sự rồi sau đó rút đơn để
chuyển sang khởi kiện vụ án hành chính là lựa chọn phương thức bảo vệ quyền của
đương sự, không phải là sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan quy định
tại khoản 10 Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng việc rút
đơn khởi kiện vụ án dân sự đchuyển sang khởi kiện vụ án hành chính trở ngại
khách quan và xác định thời hiệu khởi kiện vẫn còn là không đúng.
Thứ hai, về phạm vi xét xử:
Ông Phan L chỉ khởi kiện yêu cầu huỷ công văn 894/UBND ngày 31/7/2023,
không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với nh vi từ chối cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của quan thẩm quyền. Đồng thời UBND phường X đã cung cấp
thông tin: Ngày 26/11/2020, UBND tỉnh P ban hành quyết định số 2005 quyết định
chủ trương đầu dự án: Thợp thương mại dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng X1. Hiện
nhà đầu tư đang thực hiện các trình tự thủ tục để được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất theo quy định” nhưng cấp thẩm không xem xét nội dung này mà vẫn nhận
định “Việc sử dụng đất của gia đình ông Phan L phù hợp với Điều 101 Luật Đất đai
2013 và khoản 5 Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 thì người khởi
kiện đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ” tuyên “Ông Phan L quyền liên hệ
quan Nhà nước thẩm quyền để yêu cầu xác lập hồ xét, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai” vượt quá yêu cầu khởi kiện
của ông Phan L, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng gây khó khăn trong công
tác thi hành án.
[3] Tnhững phân tích nêu trên, Hội đồng xét xxét thấy sở chấp nhận
kháng cáo của Ủy ban nhân dân phường X, tỉnh Đắk Lắk. Cần hủy bản án thẩm
và đình chỉ giải quyết vụ án.
[4] Về án phí:
- Do kháng cáo được chấp nhận nên Ủy ban nhân dân phường X không phải
chịu án phí hành chính phúc thẩm.
- Do Công văn số 894/UBND không phải quyết định hành chính, việc thụ
giải quyết của cấp thẩm không đúng nên ông Phan L không phải chịu
300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 1 Điều 143; khoản 4 Điều
241 của Luật Tố tụng hành chính;
Chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân phường X, tỉnh Đắk Lắk. Hủy Bản
án hành chính sơ thẩm số 01/2025/HC-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân thị
9
xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đắk Lắk) và đình
chỉ giải quyết vụ án hành chính phúc thẩm thụ số: 03/2026/TLPT-HC ngày
17/4/2026.
[2]. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
[2.1]. Hoàn trả cho ông Phan L số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng
đã nộp theo biên lai thu số 0000518, ngày 17/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân
sự thị xã Sông Cầu (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 14 - Đắk Lắk).
[2.2]. Ủy ban nhân dân phường X, tỉnh Đắk Lắk không phải chịu án phí hành
chính phúc thẩm, hoàn trả cho Ủy ban nhân dân phường X, tỉnh Đắk Lắk số tiền
300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001746,
ngày 11/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[3]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Vụ IV-TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 14 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 14;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã )
Lưu Thị Thu Hường
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 13/2026/HC-PT Bản án số 13/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 13/2026/HC-PT Bản án số 13/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất