Bản án số 430/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 430/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 430/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 430/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đặng Hữu L - Đặng Hữu T "Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sở hữu tài sản chung của hộ gia đình, tranh chấp quyền sử dụng đất". Không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Hữu L, ông Đặng Hữu Í, ông Đặng Hữu T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 430/2026/DS-PT Bản án số 430/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 430/2026/DS-PT Bản án số 430/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LÂM ĐỒNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 430/2026/DS-PT
Ngày: 29/7/2026
V/v: “Tranh chấp về hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất,
tranh chấp về quyền sở hữu
tài sản chung của hộ gia đình,
tranh chấp về quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thái Bình
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Xô, bà Phạm Phong Lan
- Thư phiên tòa: Lương Mai Hân - Thư Tòa án nhân dân tnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm t nhân dân tnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân tnh Lâm Đồng xét
xử phúc thẩm công khai v án dân thụ số 184/2026/TLPT-DS ngày 01
tháng 4 năm 2026 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất, tranh chấp về quyền sở hữu tài sản chung của hộ gia đình, tranh chấp v
quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 13
tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 358/2026/QĐ-PT ngày 18
tháng 5 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 300/2026/QĐ-PT ngày 08
tháng 6 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 350/2026/QĐ-PT ngày 24
tháng 6 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 395/2026/QĐ-PT ngày 15
tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đặng Hữu L, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Thôn M, xã
C, tnh Gia Lai (nay là Thôn N - G, xã C, tnh Gia Lai).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Hữu L: Nguyễn Ngọc P,
sinh năm 2001; Nơi trú: A P, phường P, thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy
ủy quyền được Văn phòng C chứng thực ngày 19/11/2024, số chứng thực 330,
quyển số 01 SCT/CK, ĐC).
2. Bị đơn: Ông Đặng Hữu T, sinh năm 1968; i trú: Xóm C, thôn Đ,
xã B, tnh Lâm Đồng (nay là Thôn E, xã B, tnh Lâm Đồng).
2
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập: Ông
Đặng Hữu Í, sinh năm 1972; Nơi trú: Số H đường T xã N, Xóm C, Thôn A,
xã N, tnh Lâm Đồng.
4. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 - Lâm Đồng; Địa ch: số H đường
B, thôn L, xã T, tnh Lâm Đồng (nay là Thôn L, xã T, tnh Lâm Đồng).
Do Thị N, Chấp hành viên, công tác tại: Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 16 thuộc Thi hành án dân sự tnh Lâm Đồng đại diện tham gia tố
tụng (theo giấy ủy quyền số 677/GUQ-THADS ngày 27/6/2025).
- Trần Thị Ngọc Đ, sinh năm 1970; Nơi trú: Xóm C, thôn Đ, B,
tnh Lâm Đồng (nay là Thôn E, xã B, tnh Lâm Đồng).
Người đại diện theo ủy quyền của Đ: Ông Đặng Hữu T, sinh năm
1968; Nơi trú: Xóm C, thôn Đ, B, tnh Lâm Đồng (nay Thôn E, B,
tnh Lâm Đồng) (theo hợp đồng ủy quyền được UBND B, tỉnh Lâm Đồng
chứng thực ngày 12/11/2025, số chứng thực 233, quyển số 01/2025 - SCT/CK,
ĐC).
- Ông Trần M, sinh năm 1957; Nơi cư trú: số B, đường số E, Xóm E, thôn
Đ, xã B, tnh Lâm Đồng (nay là Thôn E, xã B, tnh Lâm Đồng).
- Ông Đặng Hữu T1, sinh năm 1965; Nơi trú: số C đường Đ, thôn K,
xã S, tnh Lâm Đồng;
- Ông Hồ Văn H, sinh năm 1965 và bà Trần Thị T2, sinh năm 1964; Cùng
nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, tnh Lâm Đồng (nay là Thôn D, xã B, tnh Lâm Đồng).
Tất cả các đương sự vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Nguyên đơn ông Đặng Hữu L người được ông L ủy quyền bà
Nguyễn Ngọc P trình bày:
Năm 1977 ông Đặng Hữu K và Nguyễn Thị Đ1 (là cha mẹ của ông
Đặng Hữu L) đến sinh sống tại Xóm C, Thôn A, Đ, huyện T (nay là Thôn Đ,
B, tnh Lâm Đồng). Ông K Đ1 bốn người con gồm Đặng Hữu T1,
Đặng Hữu T, Đặng Hữu L Đặng Hữu Í. Ngày 20/02/1992 gia đình Đ1
được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A. 423406, gồm
diện tích đất 7320m
2
thuộc các thửa số 187: 300m
2
đất tại nông thôn, 187A:
1160m
2
đất màu, 187B: 5860m
2
đất đào. Toàn bộ ba thửa đất đều thuộc chung
một khu đất có nhà ở, vườn do gia đình cùng tạo lập. Năm 2004 hoàn cảnh cuộc
sống của ông Đặng Hữu T gặp khó khăn, các thành viên trong gia đình đều
thống nhất cho riêng ông T diện tích 1000m
2
trong tổng diện tích 7320m
2
để làm
nhà riêng và vay vốn phát triển sản xuất, chăn nuôi. Ngày 11/3/2004 ông T được
Ban địa chính Đ UBND Đ xác nhận phần diện tích 1.000m
2
này.
3
Đến năm 2015 ông Đặng Hữu K chết. m 2018 do hoàn cảnh ông T quá khó
khăn nên bà Nguyễn Thị Đ1 cùng tất cả các thành viên trong gia đình thống nhất
lập hợp đồng giả cách tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất tại các thửa số 187,
187A, 187B để ông T đứng tên, sau đó ông T thể dễ dàng vay mượn tiền bạc,
tạo vốn làm ăn. Ông T hứa sau này sẽ lập thủ tục chuyển trả lại diện tích
6.320m
2
đất cho mẹ và tất cả anh em ruột. Ngày 24/02/2024 Nguyễn Thị Đ1
chết. Đến nay các anh em yêu cầu ông T lập thủ tục chuyển trả lại diện tích
6.320m
2
đất tài sản chung cả gia đình thì được biết ngày 26/4/2023 Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh ban hành Quyết định thi hành án theo
yêu cầu số 523/QĐ-CCTHADS. Theo đó vợ chồng ông Đặng Hữu T, bà Trần
Thị Ngọc Đ phải liên đới trả cho vchồng ông Hồ Văn H, Trần Thị T2 số
tiền 1.938.000.000 đồng; Ngày 22/5/2024 Chấp hành viên Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Tánh Linh ban hành Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án
số 550/TB-THADS. Ngày 04/6/2024 Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Tánh Linh cũ tổ chức cưỡng chế, lập biên bản về việc kê biên, xử lý tài
sản đối với đất tài sản trên đất của ông T tại các thửa số 187, 187A, 187B tờ
bản đồ số 28 tại thôn F, M, huyện T, tnh Bình Thuận cũ. Ngày 10/7/2024
Chi cục Trưởng Chi cục Thi hành án dân sự Tánh Linh ban hành Quyết định
số 40/QĐ-CCTHADS về việc hoãn thi hành án. Ngày 01/11/2024 Chi cục
Trưởng Chi cụ Thi hành án dân sự Tánh Linh ban hành Quyết định số
18/QĐ-CCTHADS về việc tiếp tục thi hành án. Việc ông Đặng hữu L tham gia
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Đặng Hữu T vào ngày
24/8/2018 tại UBND xã Đ cũ bản chất ch là một giao dịch dân sự giả tạo để che
dấu việc ông T mượn đất vay vốn làm ăn. Căn cứ các quy định định tại khoản 1
Điều 124 Bộ Luật dân sự năm 2015 đề nghị Tán xem xét, giải quyết cho ông
L những yêu cầu sau đây: Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại
Trụ sUBND xã Đ ngày 24/8/2018 giữa Nguyễn Thị Đ1, ông Đặng Hữu
T1, ông Đặng Hữu L, ông Đặng Hữu Í với ông Đặng Hữu T hợp đồng
hiệu. Công nhận cho ông Đặng Hữu T chhưởng phần diện tích 1.000m
2
trong
tổng diện tích 7.320m
2
thuộc các thửa số 187, 187A, 187B tờ bản đồ số 28, giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số A423406 do UBND huyện T cấp ngày
20/02/1992. Công nhận phần đất diện tích 6.320m
2
đất còn lại thuộc các thửa số
187, 187A, 187B tờ bản đồ số 28, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
A423406 do UBND huyện T cấp ngày 20/02/1992 là tài sản thuộc sở hữu
chung chia đều cho 04 người ông Đặng Hữu T1, ông Đặng Hữu L, ông
Đặng Hữu T và ông Đặng Hữu Í.
[2]. Bị đơn ông Đặng Hữu T trình bày:
Vào năm 2018 do cần tài sản để thế chấp, cầm cố vay vốn làm ăn nên ông
T bàn bạc với gia đình gồm Nguyễn Thị Đ1 ng các anh em ruột gồm
ông Đặng Hữu T1, ông Đặng Hữu L ông Đặng Hữu Í thống nhất chuyển
4
quyền sử dụng đối với các thửa đất số 187, 187A, 187B, 120 tờ bản đồ số 28, 14
diện tích 9832m
2
tại Đ (cũ) tài sản chung của hộ gia đình sang cho ông T
đứng tên. Sau đó, ngày 24/8/2024 gia đình ông T lập hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất và được UBND Đ (cũ) chứng thực. Ông T nộp hồ đăng
biến động đất đai đã được Chi nhánh văn phòng Đ2 xác nhận ngày
30/8/2018. Sau khi được xác nhận biến động ông T đã liên hệ cầm cố cho người
khác để vay số tiền 3.150.000.000 đồng với mục đích để kinh doanh. Hiện nay
đối với yêu cầu khởi kiện của ông L thì ông T c định từ trước đến nay ông T
ch quản sử dụng một phần diện tích 1.000m
2
trong toàn bộ các thửa số 187,
187A, 187B (7322m
2
) toạ lạc tại Đ cũ, phần còn lại thuộc quyền quản sử
dụng của các thành viên hộ gia đình. Khi thực hiện thủ tục tặng cho năm 2018
ch thực hiện thủ tục tặng cho chứ không có bàn giao đất trên thực địa. Việc ông
L yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng tặng cho là căn cứ nên ông T chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông L.
[3]. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập - ông
Đặng Hữu Í trình bày:
Năm 2018 do ông Đặng Hữu T khó khăn về kinh tế, cần vốn để làm ăn
nên gia đình thoả thuận uỷ quyền, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của hộ gia đình cho ông T đứng tên nhằm để thực hiện quyền thế chấp tài
sản để vay vốn làm ăn chứ không phải tặng cho hẵn. Trên thực tế ông T ch quản
phần 20m ngang đã chia cho ông T, phần còn lại căn nhà làm nơi thờ tự
ông bà và ông Í canh tác trồng cây tràm. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông L thì
ông Í hoàn toàn thống nhất, đồng thời ông Í yêu cầu độc lập về việc công nhận
cho ông Đặng Hữu Í được quyền sử dụng đối với diện tích đất thực tế hiện
nay ông T, Đ đang sử dụng đã được đo đạc xác định 1843,6m
2
thuộc thửa
445 tại phiếu đo đạc chnh thửa đất do Chi nhánh văn phòng đất đai khu vực
T lập ngày 27/8/2025, thuộc một phần trong các thửa số 187, 187A, 187B tờ bản
đồ số 28 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A423406 do UBND huyện T
cấp ngày 20/02/1992 tại thôn Đ, B, tnh Lâm Đồng. Căn cứ yêu cầu: Nguồn
gốc đất do Đ1 chuyển nhượng phần đất này cho vợ chồng ông Huỳnh Ngọc
H1, Trần Thị N1, chưa làm thủ tục tách thửa sang tên từ năm 1995. Đến năm
2000 thì ông Í mua lại từ vợ chồng ông H1, N1 bằng hình thức giấy tay, khi
mua lại thì ông H1, bà N1 có giao cho ông Í giấy tay mua bán từ bà Đ1 trước đó.
Từ năm 2000 ông Í giao lại cho vợ chồng ông T, Đ về địa phương làm nhà
tạm để ở.
[4]. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
[4.1]. Ông Đặng Hữu T1 trình bày:
Năm 1977 ông Đặng Hữu K và Nguyễn Thị Đ1 (là cha mẹ của ông
Đặng Hữu T1) đến sinh sống tại Xóm C, Thôn A, Đ, huyện T (nay Thôn
Đ, B, tnh Lâm Đồng), được nhà nước cấp đất canh tác, sử dụng đến
5
ngày 20/02/1992 được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
A.423406 đứng tên Nguyễn Thị Đ1, đối với các thửa đất 187, 187A, 187B,
120, tờ bản đồ số 28, 14 diện tích 9832m
2
tại Đ (nay là Thôn Đ, B, tnh
Lâm Đồng). Khoảng năm 2000, gia đình đã chuyển nhượng thửa đất số 120, tờ
bản đồ số 14 cho ông Trần M nhưng đến nay chưa sang tên. Khoảng năm 2004,
gia đình thỏa thuận chia cho ông T một phần trong thửa đất ở+cây lâu năm
(thửa số 187, 187A, 187B) chiều ngang 20m, chiều dài hết thửa đất cho ông
T sử dụng, làm nhà ở; Ông T làm đơn xin xác nhận diện tích đất được tặng
cho và có địa phương xác nhận theo đơn ghi ngày 10/3/2004. Vào năm 2018, do
ông Đặng Hữu T khó khăn vkinh tế, cần vốn để làm ăn nên gia đình thỏa
thuận ủy quyền, sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình
cho ông T đứng tên, để thực hiện quyền thế chấp tài sản để vay vốn, cầm cố. Sau
khi bàn bạc với gia đình gồm Nguyễn Thị Đ1, ông Đặng Hữu T1, Đặng
Hữu L, Đặng Hữu Í cùng thống nhất lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đối
với thửa đất số 187, 187A, 187B, 120, tờ bản đồ số 28, 14 diện tích 9832m
2
cho
ông T, được UBND Đ chứng thực ngày 24/8/2018; sau đó ông T đã nộp hồ
đăng biến động đất đai đã được Chi nhánh văn phòng Đ2 xác nhận
ngày 30/8/2018. Tại thời điểm xác lập hợp đồng tặng cho, tất cả các bên tham
gia giao kết hợp đồng đều tự nguyện, thống nhất ý chí với nhau. Nhưng mục
đích không phải tặng cho tài sản ông T để cho ông T đứng tên trên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp, cầm cố vay vốn. Các bên cũng thỏa
thuận bàn bạc bằng lời nói là sau 5 năm kể từ ngày lập thủ tục tặng cho, ông T
phải chuyển quyền sử dụng sang tên lại một phần trong diện tích đất ở, cây lâu
năm cho ông Đặng Hữu Í, sau khi trừ đi phần 20m của ông T. Việc họp gia đình
thỏa thuận ch thỏa thuận bằng lời nói, không lập thành văn bản. Hiện nay ông
T1 không tranh chấp đối với tài sản ông L yêu cầu giải quyết, không
yêu cầu độc lập trong vụ án, trường hợp giải quyết vụ án có liên quan đến quyền
lợi của ông T1 thì đề nghị Tòa án xem xét theo quy định. Đối với hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất được lập đầy đủ thành viên hộ gia đình Nguyễn Thị
Đ1 tham gia xác lập kết, được chính quyền địa phương chứng thực theo
quy định nhưng mục đích không phải tặng cho tài sản ông T mà để cho ông T
đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp, cầm cố vay vốn.
Nên ông T1 thống nhất với yêu cầu của ông L vviệc hủy hợp đồng tặng cho.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Í thì ông T1 không ý kiến phản đối , đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
[4.2]. Ông Trần M trình bày:
Vào m 2006, ông M hộ gia đình Nguyễn Thị Đ1 đã thỏa thuận
chuyển nhượng thửa đất số 120, tờ bản đồ số 28, diện tích 2510m
2
đất lúa với
giá 8.500.000 đồng, lập văn bản chuyển nhượng được ghi trong tờ giấy
tiêu đề đơn xin sang đất ruộng” ghi ngày 31/7/2006, Ban Thôn 1 xã Đ
6
xác nhận, nhưng chưa lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công
chứng, chứng thực theo quy định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang
thế chấp ngân hàng. Ông M đã thanh toán đ số tiền chuyển nhượng
8.500.000 đồng nhận đất sử dụng liên tục ổn định cho đến nay. Nhưng vẫn
chưa làm thủ tục sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng giữa các bên
đều không tranh chấp. Việc hộ gia đình Đ1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất cho ông Đặng Hữu T trong đó thửa đất s120 ông M đang sử
dụng, thì ông M không biết, nhưng ông M cũng không tranh chấp gì về việc tặng
cho này. Thời điểm tháng 5/2024 ông M nhận được thông báo của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh về giải quyết tranh chấp liên quan đến tài
sản thi hành án, lúc đó mới biết là thửa đất số 120, tờ bản đồ số 14 đang được
Chi cục Thi hành án dân shuyện Tánh Linh xác minh tài sản để thi hành án.
Nhưng sau đó ch xác minh biên đối với các thửa đất 187, 187A, 187B
không liên quan đến thửa đất số 120 của ông M nên tôi cũng không tranh
chấp, không khởi kiện. Hiện nay liên quan trong vụ án tranh chấp hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất ông Đặng Hữu L kiện ông Đặng Hữu T, thì ông M
không tranh chấp, sau khi Tòa án giải quyết xong vụ án thì ông M sẽ liên hệ với
người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của
Tòa án hoặc liên hệ với ông T để lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất theo quy định đối với thửa đất số 120. Trong vụ án này ông M không có yêu
cầu độc lập và cũng không có ý kiến gì khác.
[4.3]. Trần Thị Ngọc Đ trình bày: bà ông Đặng Hữu T là vợ chồng,
thống nhất như trình bày của ông Đặng Hữu T.
[4.4]. Ông Hồ Văn H và bà Trần Thị T2 trình bày:
Hiện nay ông Đặng Hữu T nghĩa v phải thi hành án trả số tiền
1.938.000.000 đồng theo Quyết định thi hành án số 523 ngày 26/4/2023 số
tiền 262.854.000 đồng theo quyết định thi hành án s524 ngày 11/2/2025 lãi
chậm thi hành án. quan Thi hành án dân sđã tiến hành biên thửa đất số
187, 187A, 187B tờ bản đồ số 28 thửa số 120 của ông T tại Thôn Đ, B,
tnh Lâm Đồng. Nhưng do ông Đặng Hữu L khởi kiện tranh chấp đối với ông T
về việc tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nên quan thi hành
án đã ra quyết định tạm ngừng thi hành án. Hiện nay ngoài các thửa đất nêu trên,
ông T không còn tài sản nào khác để thi hành án. Việc ông T, ông L, ông Í, ông
T1 cùng yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất năm 2018 là
hiệu nhằm mục đích tẩu tán tài sản để tránh thi hành án, nên ông H T2 đề
nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L. Đồng thời, không có
yêu cầu độc lập trong vụ án, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy
định của pháp luật.
[4.5]. Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 - Lâm Đồng, do Vũ Thị N
- là Chấp hành viên trình bày:
7
Tất cả các thủ tục về việc kê biên, cưỡng chế tài sản của ông Đặng Hữu T
được thực hiện đúng quy định pháp luật để đảm bảo các Bản án, Quyết định của
Toà án được thi hành án trên thực tế. Quan điểm, ý kiến của Thi hành án dân sự
tnh Lâm Đồng đối với việc giải quyết vụ án là đề nghị Toà án giải quyết theo
quy định để các Quyết định Thi hành án đã hoãn thi hành án tiếp tục thi hành án,
bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án và Ngân sách Nhà nước
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Lâm Đồng đã quyết định:
Căn cứ vào:
- Điều 5; Khoản 2, 3, 9 Điều 26; Điều 35; điểm a điểm c khoản 1 Điều
39; các Điều 96, 106; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165;
khoản 1, 2 Điều 228, khoản 2 Điều 229; Điều 232, 271; khoản 1 Điều 273 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025 theo Luật s
85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội);
- Các Điều 117, 158, 160, 161, 459, 501, 502 của Bộ luật dân sự năm
2015;
- Các khoản 1, 3 Điều 167, khoản 1 Điều 168 khoản 1 Điều 169 Luật
đất đai năm 2013;
- Khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1]. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Đặng Hữu L về việc:
- Yêu cầu tuyên bố hiệu đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
mà bà Nguyễn Thị Đ1, ông Đặng Hữu T1, ông Đặng Hữu L, ông Đặng Hữu Í và
ông Đặng Hữu T đã xác lập theo văn bản hợp đồng ghi tựa đ“HỢP ĐỒNG
TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT” được Ủy ban nhân dân Đ chứng
thực ngày 24/8/2018, đối với thửa đất số 187; 187A; 187B; 120 tờ bản đồ số 28;
14 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A.423406 cấp ngày 20/02/1992, tọa
lạc tại xã Đ, huyện T, tnh Bình Thuận (nay là xã B, tnh Lâm Đồng).
- Yêu cầu công nhận cho ông Đặng Hữu Í được quyền sử dụng đối với
diện tích đất 1843,6m
2
thuộc một phần trong thửa 187, 187A, 187B, tờ bản đồ
số 28 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A.423406 cấp ngày 20/02/1992 cho
hộ Nguyễn Thị Đ1, cập nhật biến động tặng cho ông Đặng Hữu T ngày
30/8/2018 (nay là thửa 445 Phiếu đo đạc chnh thửa đất do Chi nhánh văn
phòng Đ2 lập ngày 27/8/2025) u cầu công nhận diện ch đất còn lại
5476,9m
2
(thuộc một phần trong thửa 187, 187A, 187B, tờ bản đồ số 28 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số A.423406 cấp ngày 20/02/1992 cho hộ
Nguyễn Thị Đ1, cập nhật biến động tặng cho ông Đặng Hữu T ngày 30/8/2018
8
(nay là thửa 446 Phiếu đo đạc chnh lý thửa đất do Chi nhánh văn phòng Đ2 lập
ngày 27/8/2025) tài sản thuộc sở hữu chung của ông Đặng Hữu T, ông Đặng
Hữu T1, ông Đặng Hữu Í, ông Đặng Hữu L và phân chia đối với tài sản này.
[2]. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan ông Đặng Hữu Í về việc công nhận cho ông Đặng Hữu Í được quyền
sử dụng đối với diện tích đất 1843,6m
2
thuộc một phần trong thửa 187, 187A,
187B, tờ bản đồ số 28 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A423406 cấp ngày
20/02/1992 cho hộ Nguyễn Thị Đ1, cập nhật biến động tặng cho ông Đặng
Hữu T ngày 30/8/2018 (nay thửa 445 Phiếu đo đạc chnh thửa đất do Chi
nhánh văn phòng Đ2 lập ngày 27/8/2025).
(Có Phiếu đo đạc chỉnh thửa đất lập ngày 27/8/2025 của Chi nhánh
văn phòng Đ2 kèm theo).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên v chi phí tố tụng, án phí, quyền
kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 26/01/2026, ông Đặng Hữu T, ông Đặng Hữu Í, ông Đặng Hữu L
kháng cáo yêu cầu sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận khởi kiện của ông
Đặng Hữu L và yêu cầu độc lập của ông Đặng Hữu Í.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các đương sự kháng cáo đơn xin vắng mặt đề nghị xét theo đơn
kháng cáo.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thư ký,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật. Về nội dung: Tòa án cấp
thẩm xử đã đúng quy định của pháp luật, kháng cáo của các đương sự không
căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của các đương sự giữ nguyên
bản án sơ thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 16 – Lâm Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng
cứ, ý kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Kháng o của các đương sự làm trong hạn luật định nên
được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Phiên tòa phúc thẩm đã mở lần thứ 4, các
đương sự kháng cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, những người khác đã xin vắng
mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét
xử như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
9
[2.1] Các đương sự gồm nguyên đơn Đặng Hữu L, bị đơn ông Đặng Hữu
T người liên quan ông Đặng Hữu T1, ông Đặng Hữu Í cùng thống nhất yêu
cầu khởi kiện của ông L về việc: yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền s
dụng đất do bà Nguyễn Thị Đ1, ông Đặng Hữu T1, ông Đặng Hữu L, ông Đặng
Hữu Í và ông Đặng Hữu T đã xác lập theo văn bản hợp đồng ghi tựa đề "HỢP
ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT" được UBND Đ chứng thực
ngày 24/8/2018, đối với các thửa 187, 187A, 187B thửa 120 được UBND
Đ (cũ) chứng thực ngày 24/8/2018 hiệu do giả tạo và giải quyết hậu quả
của hợp đồng dân sự hiệu theo hướng: công nhận cho ông Đặng Hữu Í được
quyền sử dụng diện tích đất 1.843,6m
2
(thuộc một phần trong các thửa 187,
187A, 187B); công nhận diện tích đất còn lại 5.476,9m
2
(thuộc một phần trong
thửa 187, 187A, 187B) tài sản thuộc sở hữu chung của ông T, ông T1, ông Í,
ông L và chia đều cho 4 người. Xét thấy:
- Về hình thức: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được lập thành
văn bản được UBND Đ (cũ) chứng thực ngày 24/8/2018 đã tuân thủ
đúng hình thức hợp đồng theo quy định tại Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm
2015 và khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.
- Về ý chí chủ thể tham gia giao dịch: quá trình giải quyết vụ án các anh
em ông T đều thừa nhận, các bên tự nguyện xác lập, thực hiện hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 181, 187A, 187B, 120 thuộc GCN số
A.423406 do UBND huyện T cấp ngày 20/02/1992 cho Nguyễn Thị Đ1 cho
ông T; không bị đe dọa, ép buộc.
- Về nội dung: nội dung hợp đồng đầy đủ, không trái với quy định của
pháp luật, không trái đạo đức hội, đầy đủ về chủ thể quyền đối với tài sản
tham gia giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 501 của Bộ luật n sự
khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai 2013.
- Tại thời điểm các bên xác lập hợp đồng thì quyền sử dụng thửa đất số
187, 187A, 187B, 120 không bị biên, phát mãi, không bị áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời, cũng không bị hạn chế quyền sử dụng. Do đó, hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất hộ gia đình Nguyễn Thị Đ1 ông Đặng Hữu T
đã xác lập đủ điều kiện hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 117
Bộ luật dân sự.
[2.2]. Quá trình giải quyết vụ án: ông Đặng Hữu L (nguyên đơn), ông
Đặng Hữu T (bị đơn), ông Đặng Hữu T1 (người liên quan), ông Đặng Hữu Í
(người liên quan) cùng cho rằng: việc lập hợp đồng tặng cho nêu trên ch là giả
tạo, nhằm cho ông T đứng tên trên giấy chứng nhận để ông T quyền về tài
sản thực hiện giao dịch cầm cố, thế chấp vay vốn làm ăn trong vòng 05 năm sau
đó phải trả lại cho gia đình.
10
Tuy nhiên, các ông là anh em ruột - có mối quan hệ thân thích với nhau và
ngoài lời khai các ông không đưa ra được chứng cứ chứng minh giao dịch tặng
cho quyền sử dụng đất đã kết giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự
khác; nội dung hợp đồng tặng cho cũng không thể hiện nội dung là gia đình ch
cho ông T để ông T cầm cố, thế chấp vay vốn làm ăn trong 05 năm. Do đó, lời
khai của các ông là không căn cứ chấp nhận.
Mặc khác hợp đồng tặng cho nêu trên đã được ký kết từ năm 2018, xuyên
suốt một thời gian dài sau đó thì các anh em của ông T đều không ai tranh chấp
nhưng sau khi Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh (nay Phòng Thi
hành án dân sự khu vực A - Lâm Đồng) xác minh, tiến hành tổ chức cưỡng chế,
biên, xử tài sản để thi hành án đối với khoản nợ vợ chồng ông T phải trả
cho vợ chồng ông Hồ Văn H, bà Trần Thị T2 thì ông L mới khởi kiện. Ông H có
ý kiến cho rằng việc khởi kiện là để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
[2.3]. Tòa án thẩm đã công nhận hiệu lực của hợp đồng tặng cho nêu
trên đúng quy định. hợp đồng không hiệu nên các yêu cầu của nguyên
đơn về yêu cầu công nhận cho ông Í được quyền sử dụng 1.843,6m
2
; yêu cầu
xác định diện tích còn lại 5.476,9m
2
tài sản thuộc sở hữu chung của ông T,
ông T1, ông Í, ông L và chia đều cho 4 người, là không có căn cứ để chấp nhận.
[2.4]. Ông Đặng Hữu Í khởi kiện yêu cầu độc lập: yêu cầu Tòa án công
nhận cho ông Í được quyền sử dụng đối với 1.843,6m
2
(nay là thửa 445 tại phiếu
đo đạc chnh thửa đất do Chi nhánh VPĐK đất đai khu vực T lập ngày
27/8/2025) thuộc một phần trong các thửa đất số 187, 187A, 187B theo giấy
chứng nhận số A 423406. Ông Í cho rằng phần đất này do bà Đ1 chuyển nhượng
cho vợ chồng ông Huỳnh Ngọc H1, Trần Thị N1 từ năm 1995 nhưng chưa
làm thủ tục tách thửa sang tên. Đến năm 2000, thì ông Í mua lại từ vợ chồng ông
H1, N1 bằng hình thức giấy tay nên khi mua lại ông H1, N1 đã giao cho
ông Í giấy tay mua bán với Đ1 trước đó. Từ năm 2000, ông Í giao lại cho vợ
chồng ông T, bà Đ về địa phương làm nhà tạm để ở.
Tuy nhiên, ông Í không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc gia đình
ông đã chuyển nhượng đất cho ông H1, bà N1 vào năm 1995 và không cung cấp
được chứng cứ chứng minh ông H1, bà N1 Đã chuyển nhượng lại đất cho ông
vào năm 2000. Đối với Văn bản xác nhận ngày 02/11/2025 nội dung ông
Huỳnh Ngọc H1, Trần Thị N1 xác nhận sự việc đã từng mua diện tích đất
20m ngang của gia đình Đ1 vào năm 1995 năm 2000 thì ông bán lại cho
ông Í nhưng văn bản này được lập trong quá trình giải quyết vụ án và giữa bà
N1 với ông Í, ông T mối quan hệ thân thích với nhau (cậu cháu) nên việc
xác nhận này là không đảm bảo khách quan; hiện nay ông Í cũng không canh tác
sử dụng trên đất.
11
Đối với việc xác nhận nguồn gốc đất của Nguyễn Thị Mỹ H2, ông
Nguyễn Như T3, ông T4, ông Trương Kế M1 cũng không căn cứ để
chứng minh việc ông H1, N1 mua bán đất với gia đình bà Đ1 bán lại đất
cho ông Í.
Ông Í không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh bản
thân ông có quyền sử dụng đối với diện tích đất 1.843,6m
2
đang tranh chấp. Hơn
nữa, năm 2018 ông Í cùng với thành viên hộ gia đình cũng đã tự nguyện kết,
xác lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với ông T gồm cả diện tích đất
1.843,6m
2
ông đang tranh chấp. Do đó, hiện nay ông Í yêu cầu công nhận
cho ông được quyền sử dụng đối với diện tích đất 1.843,6m
2
là không có căn cứ
chấp nhận.
[2.5]. Đối với thửa 120/2.510m
2
đất 1 lúa: quá trình giải quyết vụ án các
đương sự đều thừa nhận vào năm 2006, hộ gia đình Đ1 đã chuyển nhượng
cho ông Trần M; các bên đã thanh toán tiền bàn giao đất cho ông M sử dụng
liên tục từ năm 2006 đến nay nhưng chưa thực hiện đúng quy định về thủ tục
chuyển nhượng (chưa hợp đồng, tách thửa). Do đó, việc hộ gia đình Đ1
lập hợp đồng tặng cho ông T bao gồm thửa 120 ông M đang sử dụng
không đúng quy định. Tuy nhiên, trong vụ án này ông M và các đương sự không
tranh chấp, quan thi hành án cũng không biên thửa đất này nên a án
thẩm không xem xét, giải quyết là đúng nguyên tắc định đoạt của đương sự theo
Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nếu tranh chấp thì các đương squyền
khởi kiện vụ án khác.
[3] Như vậy với các tài liệu trong hồ vụ án, Tòa án thẩm đã giải
quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Ông Đặng Hữu T, Đặng Hữu Í và ông
Đặng Hữu L kháng cáo yêu cầu sửa án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông L, yêu cầu độc lập của ông T nhưng không tài liệu chứng cứ mới
nên không có cơ sở chấp nhận.
[4] Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nên ông Đặng Hữu L
ông Đặng Hữu Í phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật,
ông Đặng Hữu T được miễn án phí theo quy định của pháp luật (là người
công do tham gia bộ đội tại Campuchia, được tặng huân chương).
Các phần khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận
kháng cáo của ông Đặng Hữu L, ông Đặng Hữu Í ông Đặng Hữu T; gi
nguyên Bản án dân sự thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Lâm Đồng.
12
Căn cứ vào:
- Điều 5; Khoản 2, 3, 9 Điều 26; Điều 35; điểm a điểm c khoản 1 Điều
39; các Điều 96, 106; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165;
khoản 1, 2 Điều 228, khoản 2 Điều 229; Điều 232, 271; khoản 1 Điều 273 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025 theo Luật s
85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội);
- Các Điều 117, 158, 160, 161, 459, 501, 502 của Bộ luật dân sự năm
2015;
- Các khoản 1, 3 Điều 167, khoản 1 Điều 168 khoản 1 Điều 169 Luật
đất đai năm 2013;
- Khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1]. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Đặng Hữu L về việc:
- Yêu cầu tuyên bố hiệu đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
mà bà Nguyễn Thị Đ1, ông Đặng Hữu T1, ông Đặng Hữu L, ông Đặng Hữu Í
ông Đặng Hữu T đã xác lập theo văn bản hợp đồng ghi tựa đ“HỢP ĐỒNG
TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT” được Ủy ban nhân dân Đ chứng
thực ngày 24/8/2018, đối với thửa đất số 187; 187A; 187B; 120 tờ bản đồ số 28;
14 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A.423406 cấp ngày 20/02/1992, tọa
lạc tại xã Đ, huyện T, tnh Bình Thuận (nay là xã B, tnh Lâm Đồng).
- Yêu cầu công nhận cho ông Đặng Hữu Í được quyền sử dụng đối với
diện tích đất 1843,6m
2
thuộc một phần trong thửa 187, 187A, 187B, tờ bản đ
số 28 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A.423406 cấp ngày 20/02/1992 cho
hộ Nguyễn Thị Đ1, cập nhật biến động tặng cho ông Đặng Hữu T ngày
30/8/2018 (nay là thửa 445 Phiếu đo đạc chnh thửa đất do Chi nhánh văn
phòng Đ2 lập ngày 27/8/2025) Yêu cầu công nhận diện ch đất còn lại
5476,9m
2
(thuộc một phần trong thửa 187, 187A, 187B, tờ bản đồ số 28 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số A.423406 cấp ngày 20/02/1992 cho hộ
Nguyễn Thị Đ1, cập nhật biến động tặng cho ông Đặng Hữu T ngày 30/8/2018
(nay là thửa 446 Phiếu đo đạc chnh lý thửa đất do Chi nhánh văn phòng Đ2 lập
ngày 27/8/2025) tài sản thuộc sở hữu chung của ông Đặng Hữu T, ông Đặng
Hữu T1, ông Đặng Hữu Í, ông Đặng Hữu L và phân chia đối với tài sản này.
[2]. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan ông Đặng Hữu Í về việc công nhận cho ông Đặng Hữu Í được quyền
sử dụng đối với diện tích đất 1843,6m
2
thuộc một phần trong thửa 187, 187A,
187B, tờ bản đồ số 28 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A423406 cấp ngày
20/02/1992 cho hộ Nguyễn Thị Đ1, cập nhật biến động tặng cho ông Đặng
13
Hữu T ngày 30/8/2018 (nay thửa 445 Phiếu đo đạc chnh thửa đất do Chi
nhánh văn phòng Đ2 lập ngày 27/8/2025).
(Có Phiếu đo đạc chỉnh thửa đất lập ngày 27/8/2025 của Chi nhánh
văn phòng Đ2 kèm theo).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
Về án phí dân sphúc thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án
phí và lệ phí Tòa án;
Ông Đặng Hữu L ông Đặng Hữu Í mỗi người phải nộp 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền
tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002228 và 0002229, ngày 02/02/2026
của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 Lâm Đồng, ông L ông Í đã nộp
đủ. Ông Đặng Hữu T được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án Dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi nh án theo quy định tại các điều 6,
7, 8 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại điều 34 Luật thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 29/7/2026.
Nơi nhận:
- VKSND tnh LĐ;
- TAND KV 16 - LĐ;
- Phòng THADS KV 16 - LĐ;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thái Bình
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 430/2026/DS-PT Bản án số 430/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 430/2026/DS-PT Bản án số 430/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất