Bản án số 529/2026/DS-PT ngày 24/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 529/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 529/2026/DS-PT ngày 24/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 529/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông L tranh chấp quyền sử dụng đất với bà S
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 529/2026/DS-PT Bản án số 529/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 529/2026/DS-PT Bản án số 529/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 529/2026/DS-PT
Ngày: 24 -7-2026
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tháo
dỡ công trình trên đất; tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất công nhận quyền sử dụng
đất”
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đinh Thị Kiều Lương
Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương
Ông Nguyễn Đình Trung
- Thư phiên tòa: Phan Thị Ngân Thư Tòa án nhân dân thành
phố Đồng Nai.
- Đại diện Viện sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà:
Nguyễn Ngọc L - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng
Nai xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 346/2026/TLST-DS ngày 10
tháng 6 năm 2026 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, tháo dỡ công trình
trên đất; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất công nhận quyền sử dụng đất” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 480/2026/QĐ-PT ngày 24 tháng 6 năm 2026;
Quyết định hoãn phiên tòa số: 582/2026/QĐ-PT ngày 17 tháng 7 năm 2026 giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1947, địa chỉ: Số A, khóm
B, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, thành
phố Đ).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh
năm 1982, địa chỉ: B tổ I, Khu phố A, phường H, thành phố Đ (nay phường L,
thành phố Đ);
2
- Bị đơn: Nguyễn Thị S, sinh năm 1949, địa chỉ trú: Số H, Khu phố
N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, thành phố Đ).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm
1947, địa chỉ: Số H, Khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, thành phố Đ);
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Sở Nông nghiệp Môi trường thành phố Đ; địa chỉ: số E, đường Đ,
phường T, thành phố Đ.
2. Văn phòng C; địa chỉ: A, đường B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng
Nai (nay là phường B, thành phố Đ).
3. Nguyễn Thị H1, sinh năm 1942; địa chỉ: Số H, Khu phố N, phường
H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, thành phố Đ).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của H1: Luật Văn Đ
thuộc Đoàn luật Thành phố H.
4. Thị B, sinh năm 1951; địa chỉ: s A, khóm B, khu phố N,
phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, thành phố Đ)
5. y ban nhân dân phường T, thành phố Đ.
Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh
Đồng Nai.
(Nguyên đơn, bị đơn, Luật Đ mặt, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đơn xin vắng mặt ).
NỘI DUNG V ÁN:
Nguyên đơn ông L1 có người đại diện theo ủy quyền ông Trần Văn H
trình bày:
Thửa đất số 30, 31 tờ bản đồ số 05 phường H, thành phố B nguồn gốc
của ông Nguyễn Văn V (cha H1) được công ty Đ1 cấp trích lục địa bộ. Tuy
nhiên, từ sau năm 1975 đến nay, gia đình H1 không sử dụng các thửa đất trên,
các thửa đất đã được đưa vào tập đoàn sản xuất từ năm 1978, 1979 theo chế độ
quốc hữu hóa ruộng đất. Sau năm 1981 tập đoàn chia lại hai thửa đất trên cho
ông Nguyễn Văn L1 sử dụng. Năm 1998, khi thực hiện đo vẽ thành lập bản đồ
địa chính H cơ quan chức năng lập biên bản xác định ranh giới, mốc ranh
các thửa đất trên với tên người sử dụng ông Nguyễn Văn L1. Năm 2000
Nguyễn Thị H1 lập hồ đăng xin cấp giấy CNQSDĐ đã tự ý xóa phần giáp
ranh tên các hộ dân đang sử dụng và sửa lại tên Nguyễn Thị H1. Việc cấp các
thửa đất trên cho H1 trái pháp luật nên ủy ban nhân dân thành phố B đã thu
hồi các giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho Nguyễn Thị H1.
3
Như vậy, việc Nguyễn Thị S người nhận chuyển nhượng lại các thửa
đất trên từ Nguyễn Thị H1 theo Hợp đồng ngày 13 tháng 09 năm 2018 đã
được cấp các giấy chứng nhận QSDĐ số CP212076 và số CP21077 đối với thửa
đất số 30, 31 tờ bản đồ số 05, phường H, thành phố B (nay phường T), tỉnh
Đồng Nai không giá trị pháp lý.
Nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa (nay là TAND khu
vực 1 –Đồng Nai):
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13 tháng 09
năm 2018 giữa Nguyễn Thị H1 Nguyễn Thị S hiệu. Hủy giấy
chứng nhận số CP212076 số CP21077 đã cấp cho Nguyễn Thị S.
Công nhận hai thửa đất số 30, 31 tờ bản đồ số 05, phường H, thành phố B
(nay phường T), tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sử dụng của ông L1.
Bị đơn S do đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn P trình bày:
Trước đây cha mẹ H1 (chị ruột S) để lại c thửa đất s 30, diện tích:
1.627,9m
2
thửa đất số 31, diện tích: 1.745,8m
2
, đều thuộc tờ bản đồ số 5, tại
phường H, thành phố B (nay phường T), tỉnh Đồng Nai. Do không nhu cầu
sử dụng, nên H1 chuyển nhượng lại toàn bộ phần diện tích đất trên cho
Nguyễn Thị S.
Việc chuyển nhượng đã hoàn thành, S đã được Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, lợi dụng việc đất để trống gia
đình ông L1 đã hành vi chiếm dụng cho đến nay. vậy, để bảo vệ quyền lợi
hợp pháp của mình.
Yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau đây:
Buộc ông Nguyễn Văn L1 những người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan di dời toàn bộ hoa màu, cây trồng trên đất hoàn trả toàn bộ thửa đất số
30, diện tích: 1.627,9 m2 thửa đất số 31, diện tích: 1.745,8 m2; đều thuộc tờ
bản đ số 5, tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho bà Nguyễn Thị S.
Căn cứ chứng minh cho yêu cầu của S là: Ngày 22/3/2019 ông Nguyễn
Văn L1 ngụ tại 1 khóm B, khu phố N, phường H, TP B, tỉnh Đồng Nai, tự ý cho
người xây dựng rào làm cổng sắt bất hợp pháp, xâm phạm tài sản về quyền sử
dụng đất của người khác thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ s 5 và thửa đất số 31,
tờ bản đồ số 5 toạ lạc tại phường H, TP B, tỉnh Đồng Nai do tôi (Nguyễn Thị S)
chủ sở hữu sử dụng 02 (hai) thửa đất nêu trên đã được Sở T cấp giấy
CNQSDĐ;
Nguồn gốc đất: Đây đất của ông Nguyễn Văn V mua trước năm 1975
trích lục địa bộ ngày 25/05/1973 đây một trong những loại giấy tờ chứng
minh quyền sử dụng đất hợp pháp được quy định tại điểm e, khoản 1, Điều 50
4
Luật đất đai 2003. Sau khi ông V qua đời vào năm 1968, toàn bộ diện tích đất
nêu trên do Nguyễn Thị H1 quản canh tác. Như vậy, đất nguồn gốc
ràng, hợp pháp. Đến năm 1982 H1 tham gia HTX N. Năm 1992 HTX không
còn hoạt động cho đăng ruộng đất từ năm 1998-2000. Năm 2009
Nguyễn Thị H1 được nhà nước cấp giấy CNQSDĐ theo quy định, thủ tục của
pháp luật. Do lớn tuổi và không đủ sức khoẻ đễ trồng lúa, o khoảng năm 2004,
H1 đễ một số người chung quanh trồng cỏ, nuôi một số loại cây như
chuối, tràm (tất cả đều không quá 03 năm), trong đó ông Nguyễn Văn L1
từng cất chòi nuôi trên hai thửa đất s 30 số 31 tờ bản đồ s 5 làm tờ
cam kết với H1 với nội dung: ông L2 cam kết giải toả toàn bộ các chòi
không phát triển mở rộng trên hai thửa đất nầy không khiếu nại, không xin bồi
thường. Tuy nhiên U không tìm hiểu nguồn gốc đất, chỉ nhìn vào hiện trạng
đất đã vội kết luận giấy CNQSDĐ đã cấp cho bà H1 sai đối tượng gởi
Thông báo thu hồi các giấy nầy. H1 đã khởi kiện vụ án hành chính qua các
cấp Toà thẩm, phúc thẩm đến TAND Cấp cao tại TP H Chí Minh. Kết
quả Quyết định của bản án số: 182/2018/HC-PT ngày 07/06/2018 của TAND
Cấp cao tại TP HCM, chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị H1 - Chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H1; Huỷ các quyết định thu hồi đất của U,
tỉnh Đông Nai.
Sau đó H1 đã chuyển nhượng các thửa đất này cho S S đã
được Sở Tài Nguyên Môi Trường tỉnh Đ cấp giấy CNQSDĐ ngày 25/9/2018:
thửa 30 tờ bản đồ số 5, số xổ CP 212077; thửa 31 tờ bản đồ số 5 s sổ CP
212076, tại phường H, TP ..
Ngày 22/03/2019 ông Nguyễn văn L1 đã tự ý chiếm đất, xây rào kẽm, làm
cửa sắt trên hai thửa đất nêu trên. Ngày 23/03/2019 S đã nhờ ông Nguyễn
Văn P làm đơn t cáo sự việc với UBND, Công an H (nay Công an
phường T, thành phố Đ).
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Th H1 do ông P đại diện theo ủy quyền trình bày:
Trước đây cha mẹ H1 để lại các thửa đất số 30, diện tích: 1.627,9
m
2
thửa đất số 31, diện tích: 1.745,8m
2
; đều thuộc tờ bản đồ số 5, tại phường
H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do không nhu cầu sử dụng, nên H1
chuyển nhượng lại toàn bộ phần diện tích đất trên cho Nguyễn Thị S.
Việc chuyển nhượng đã hoàn thành, S đã được Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, lợi dụng việc đất để trống gia
đình ông L1 đã hành vi chiếm dụng cho đến nay. vậy, để bảo vệ quyền lợi
hợp pháp của H1 S thì H1 yêu cầu độc lập: Yêu cầu Toà án giải
5
quyết những vấn đề sau đây: Buộc ông Nguyễn Văn L1 những người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan di dời toàn bộ hoa màu, cây trồng trên đất
hoàn trả toàn bộ thửa đất số 30, diện tích: 1.627,9m
2
thửa đất s 31, diện tích:
1.745,8m
2
; đều thuộc tờ bản đồ số 5, tại phường H, thành phố B (nay phường
T), tỉnh Đồng Nai cho để giao lại cho Nguyễn Thị S.
2. Tại văn bản ngày 06/8/2025 Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh Đ
trình bày:
Thửa đất số 30, 31 do Nguyễn Thị H1 sử dụng, được UBND thành phố
B cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AQ 069691, AQ 069693 ngày
31/7/2009, mục đích sử dụng: đất trồng lúa,
Năm 2016 UBND thành phố B ban hành 09 Quyết định thu hồi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị H1, trong đó thửa đất s
30, 31 tờ bản đồ số 05 H, cụ thể: ngày 29/02/2016 UBND thành phố ban
hành Quyết định s 734/QĐ-UBND, số 731/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy
chứng nhận quyền s dụng đất của Nguyễn Thị H1 thuộc thửa đất số 30, 31
tờ bản đồ số 05 H.
Năm 2017 Nguyễn Thị H1 khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai hủy 09 quyết định hành chính của UBND thành phố B. Tại Bản án số
11/2017/HC-ST ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh tuyên: Bác yêu cầu
khởi kiện của Nguyễn Thị H1 về việc yêu cầu Tòa án hủy các Quyết định sau
đây của UBND thành phố B: Quyết định 731, Quyết định 732, Quyết định 733,
Quyết định 734, Quyết định 735, Quyết định 736, Quyết định 737, Quyết định
6116 Quyết định 6117 (các Quyết định từ số 731 đến 737 được sửa ngày
tháng năm ban hành t ngày 29/02/2015 thành 29/02/2016).
Ngày 13/11/2017 H1 đơn kháng cáo Bản án hành chính thẩm số
11/2017/HC-ST ngày 31/10/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Tại Bản
án số 182/2018/HC-PT ngày 07/6/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh, tuyên:
1. Chấp nhận khảng cáo của Nguyễn Thị H1; sửa bản án thẩm số
11/2017/HC-ST ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H1; hủy các quyết định
sau đây của UBND thành phố B, tỉnh Đồng Nai:
Quyết định số 731/QĐ-UBND ngày 29/02/2015 (ngày đúng ngày
29/02/2016) của UBND thành phố B, tỉnh Đồng Nai về việc thu hồi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AQ 069693 ngày 31/7/2009 do UBND thành phố B
cấp cho Nguyễn Thị H1....
6
Quyết định số 6117/QĐ-UBND ngày 07/10/2016 của UBND thành phố B,
tỉnh Đồng Nai về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 069694
ngày 31/7/2009 do UBND thành phố B cấp cho Nguyễn Thị H1.
2. Bản án phúc thẩm hiệu lực thi hành kể t ngày tuyên án.
Tháng 09/2018 Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng thửa đất số 30, 31 tờ
bản đồ s 05 cho Nguyễn Thị S theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được Văn phòng C chứng nhận ngày 13/9/2018.
Căn cứ Bản án số 182/2018/HC-PT ngày 07/6/2018 của Tòa án nhân dân
cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm
2013 quy định Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các
quyền của người sử dụng đất, khoản 4 Điều 95, Điều 188 khoản 3 Điều 191
Luật Đất đai năm 2013, căn cứ Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ, ngày 25/9/2018 Sở T cấp giấy chứng nhận quyền
sửdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi
giấy chứng nhận) số CP212076, số CP212077 cho Nguyễn Thị S phù hợp
quy định của Pháp luật.
Ngày 18/3/2021 Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định số
08/2021/KN-HC kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc
thẩm số 182/2018/HC-PT ngày 07/6/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên:
Kháng nghị Bản án hành chính phúc thẩm số 182/2018/HC-PT ngày
07/6/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc
thẩm theo ớng: Hủy Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên; hủy Bản án hành
chính thẩm số 11/2017/HC-ST ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai. Giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đ xét xử
thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tạm đình chỉ thi hành Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên cho đến khi
Quyết định giảm đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Như vậy, tại thời điểm Văn phòng Đ2 chi nhánh B1 tiếp nhận Quyết định
số 08/2021/KN-HC kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc
thẩm số 182/2018/HC-PT ngày 07/6/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh, thửa đất số 30, 31 tờ bản đồ số 05 phường H đã biến
động và do Nguyễn Thị S chủ sử dụng.
Đối với u cầu hủy giấy chứng nhận của ông Nguyễn Văn L1:
Như đã trình bày nêu trên, ngày 25/9/2018 Sở T (nay Sở N) cấp giấy
chứng nhận số CP212076, số CP212077 cho Nguyễn Thị S thuộc thửa đất số
7
30, 31 tờ bản đồ số 05 phường H phù hợp quy định pháp luật. Việc thu hồi,
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp này chỉ được thực
hiện theo khoản 5 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 “Việc thu hồi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà quyền sử dụng
đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu
công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền s dụng đất, quyền sở hữu n
tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2
Điều y chỉ được thực hiện khi bản án hoặc quyết định của Tòa ản đã được
thi hành hoặc văn bản kiến nghị của quan thi hành án về việc thi hành bản án,
quyết định theo quy định của pháp luật, trong đó nội dung yêu cầu thu hồi
giấy chứng nhận đã cấp.”
3. Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tổ chức kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng Ủy ban nhân n phường T, thành phố Đ:
Hộ ông Nguyễn Văn L1 hiện ông L1 vợ Thị B, sinh năm
1951 cùng ngụ tại địa chỉ 1, khu phố N, phường H (theo cung cấp của ông
Nguyễn Văn L1, đề nghị Tòa án thành phố B xác minh thêm tại Công an
phường H). Hiện nay thửa đất s 30,31 t bản đồ 05 do ông Nguyễn Văn L1 sử
dụng.
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng khai đăng ký: Thửa 30, 31 tờ bản đồ
số 5 nguồn gốc trước năm 1975 của ông Nguyễn Văn V (cha của H1,
trích lục địa bộ), sau năm 1975 các thửa đất trên được đưa vào tập đoàn sản xuất
nông nghiệp từ năm 1978-1979 theo C1 (đưa ruộng đất vào làm ăn tập thể), gia
đình H1 không tham gia canh tác. Đến năm 1981 Tập đoàn chia các thửa
đất trên cho ông Nguyễn Văn L1 canh tác sử dụng, đến năm 2000 khi nhà nước
cho đăng ký đất đai để cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất thì Nguyễn
Thị H1 lập hồ xin cấp cấp giấy CNQDĐ. Đến năm 2015, các hộ dân trong đó
ông Nguyễn Văn L1 đơn đề nghị xem xét lại việc cấp giấy CNQSDĐ đối
với các thửa đất nêu trên cho Nguyễn Thị H1 sảy ra tranh chấp cho đến
nay.
Về các Quyết định về việc giữ nguyên hiện trạng diện ch đất: UBND
phường H chưa nhận được
Quá trình H1 đưa ruộng đất vào tập đoàn sản xuất theo chế đ quốc
hữu hóa ruộng đất, đưa ruộng đất vào làm ăn tập thể, hiện không tìm thấy hồ
lưu trữ về việc này. Về HTX N hoạt động đến khoảng năm 1997 t tự tan
(không Quyết định giải thể). Hiện trạng trên đất hiện không người ở.
4. Thị B không lời khai gửi Tòa án.
8
5. Văn phòng C trình bày: Văn phòng nhận được Thông báo giao nộp
chứng c số 626/TB-TA, 655/TB-TA của Tòa án nhân dân thành phố Biên a
ngày 17/4/2025 trong vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất" để làm việc về v
án nêu trên. Qua kiểm tra hồ công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất số công chứng 3942, quyến số 03/2018TP/CC-SCC/HĐGD do Văn
phòng C chứng nhân ngày 13/09/2018 được giao kết giữa bên chuyển nhượng
Nguyễn Thị H1 bên nhân chuyển nhượng Nguyễn Thị S, Văn phòng
C trình bày ý kiến như sau:
Văn phòng C đã kiểm tra xác nhận đúng tài sản giao dịch tài sản hợp
pháp của Nguyễn Thị H1.
Tại thời điểm tiếp nhận thụ giải quyết hồ yêu cầu công chứng
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, Văn phòng C đã thực
hiện đúng theo trình t thủ tục được quy định tại Luật công chứng 2014
Tại bản án dân sự thẩm số 103/2025/DS-ST ngày 13/8/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 1 Đồng Nai đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn
L1 v việc:
- Yêu cầu Toà án tuyên b Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
số công chứng 3942, quyển số 03/2018TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13 tháng 09
năm 2018 tại Văn phòng C giữa Nguyễn Thị H1 Nguyễn Thị S
hiệu.
- Công nhận thửa đất số 30, 31 tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, thành
phố B (nay phường T), tỉnh Đồng Nai thuộc quyền quản sử dụng của ông
Nguyễn Văn L1.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 31, tờ bản đồ số 5
toạ lạc tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 25/9/2018 số CP 212077 cho Nguyễn Thị S hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 30, tờ bản đồ số 5 toạ lạc tại
phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ
cấp ngày 25/9/2018 số CP 212076 cho Nguyễn Thị S.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Thị S:
Nguyễn Thị S được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 1627.9m
2
thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, tỉnh Đồng Nai) được giới hạn bởi các mốc (1,7,8,9,10,11,12,1) theo
bản đồ hiện trạng thửa đất số 4256/2022 ngày 30/6/2022 của Văn phòng đăng
đất đai tỉnh Đ2 chi nhánh B1.
9
Nguyễn Thị S được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 1745.8 m
2
thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, tỉnh Đồng Nai) được giới hạn bởi các mốc (1,2,3,4,5,6,7,1) theo bản
đồ hiện trạng thửa đất số 4256/2022 ngày 30/6/2022 của Văn phòng đăng đất
đai tỉnh Đ2 chi nhánh B1
Ông Nguyễn Văn L1 phải thực hiện việc di dời tháo dỡ công trình xây
dựng, cây trồng trên đất, bao gồm:
- Công trình xây dựng trên thửa đất số 30, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại
phường H, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, tỉnh Đồng Nai): cổng, kết cấu cột
sắt tròn 90mm, cánh cổng khung sắt bọc tôn, cao 2,5m, hàng rào 1: cột sắt tròn
60mm,hàng rào khung sắt hộp, lưới B40 cao 1,8m, hàng rào 2: cột sắt tròn
60mm,hàng rào khung sắt hộp, lưới B40 cao 1,8m.
- Công trình xây dựng trên thửa đất số 31, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại
phường H, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai): hàng rào kết cấu
cột sắt tròn 60mm, lưới B40 cao 1,8m.
- 10 cây mít loại 1 đường kính khoảng 10-15cm, 06 cây mít loại 2
đường kình 15-20cm, 01 cây khế đường kính 20cm.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn Nguyễn Thị S hỗ trợ di dời, tháo dỡ
công trình trên đất là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) cho nguyên đơn
ông Nguyễn Văn L1.
3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Nguyễn Thị H1 về việc buộc
ông Nguyễn Văn L1 di dời toàn bộ hoa màu, cây trồng trên đất hoàn trả toàn
bộ thửa đất số 30, diện tích: 1.627,9m
2
thửa đất số 31, diện tích: 1.745,8m
2
;
đều thuộc tờ bản đồ số 5, tại phường H, thành phố B (nay phường T), tỉnh
Đồng Nai Nguyễn Thị H1.
Ngoài ra bản án còn tuyên về phấn chi phí tố tụng, án phí quyền kháng
cáo của các đương sự.
Ngày 19/8/2025 nguyên đơn ông Nguyễn Văn L1 kháng cáo, đề nghị: Sửa
bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Quan điểm của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H1.
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng khai đăng ký: Thửa 30, 31 tờ bản đồ
số 5 nguồn gốc trước m 1975 của ông Nguyễn Văn V (cha của H1
trích lục địa bộ), sau năm 1975 các thửa đất trên được đưa vào tập đoàn sản xuất
nông nghiệp từ năm 1978-1979 theo C1 (đưa ruộng đất vào làm ăn tập thể), gia
đình H1 không tham gia canh tác. Đến năm 1981 Tập đoàn chia các thửa
đất trên cho ông Nguyễn Văn L1 canh tác sử dụng, đến năm 2000 khi Nhà nước
10
cho đăng ký đất đai để cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất thì Nguyễn
Thị H1 lập hồ xin cấp cấp Giấy CNQQSDĐ năm 2009 H1 được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định.
Ông L1 kháng cáo đề nghị sửa án chấp nhận yêu cấu khởi kiện của ông
không căn cứ. Đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của ông L1, giữ nguyên bản
án sân s thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham
gia phiên tòa:
I. Về VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
- Về tố tụng: Từ khi thụ vụ án tới thời điểm này thấy rằng Thẩm phán,
Hội đồng xét xử thư đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tụng
dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. quy định tại khoản 1 Điều 286 Bộ luật
Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đảm bảo sự tư, khách quan giải quyết vụ án,
không trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng theo Điều 52 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, thủ tục phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến
thời điểm này được Hội đồng xét xử phúc thẩm thực hiện đầy đủ, đúng quy định
trình tự về phiên tòa phúc thẩm.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ
cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định
tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 236 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
II. VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN:
Tính căn cứ, hợp pháp của kháng cáo,
Về thủ tục kháng cáo: Ngày 19/8/2025 bị đơn ông Nguyễn Văn L1 làm
đơn kháng cáo bản án thẩm. Ông L1 đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự t kháng cáo trong
hạn luật định, hợp pháp nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo: Trên s các tài liệu, chứng cứ trong hồ
vụ ánvề nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất, về nội dung hình thức hợp
đồng chuyển nhượng; trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đúng và p hợp với các quy định của pháp .
Việc ông Nguyễn Văn L1 kháng cáo cho rằng 02 thửa đất tranh chấp
nguồn gốc do gia đình ông quản lý, sử dụng ổn định từ nhiều năm trước, việc
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H1 việc chuyển nhượng cho
S trái pháp luật nên yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không căn cứ.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Đề nghị, Hội đồng xét
xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L1.
11
Giữ nguyên các quyết định của bản án thẩm s 103/2025/DS-ST ngày
13/8/2025 ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa kết quả anh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét x nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn L1 làm trong
hạn luật định, ông L1 người cao tuổi được miễn tạm ứng án phí nên kháng cáo
hợp pháp; căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự được xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn L1 giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Về nguồn gốc diện ch đất tranh chấp: Trong quá trình giải quyết vụ án
các đương sự đều thống nhất nguồn gốc hai thửa đất số 30 31 tờ bản đ số 05
trước năm 1975 thuộc quyền sử dụng của cụ Nguyễn Văn V (cha của Nguyễn
Thị H1 Nguyễn Thị S), được chế độ cấp Trích lục địa bộ ngày
25/5/1973.
Về quá trình quản lý sử dụng: Năm 1978 thực hiện chính sách đất đai của
Nhà nước, H1 đã đưa toàn b diện tích của 02 thửa đất trên vào Hợp tác N.
Ông L1 cho rằng sau năm 1978, 1979 hai thửa đất được đưa vào tập đoàn sản
xuất; năm 1981 Tập đoàn chia các thửa đất trên cho ông Nguyễn Văn L1 canh
tác sử dụng; đến năm 2000 khi Nhà nước cho đăng đất đai để cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì Nguyễn Thị H1 lập hồ xin cấp cấp giấy
CNQSDĐ. Tại “Giấy xác nhận không đăng ruộng đất” ngày 13/4/2000 do
Nguyễn Thị H1 lập gửi Chủ tịch UBND H thể hiện 09 người trước đây
nhận khoán, nay đồng ý trả lại không đăng quyền sử dụng đất trong đó
ông Nguyễn Văn L1, nội dung thể hiện: “... Tôi tên dưới đây Nguyễn Thị
H1, hiện ngụ tại 85/1, H thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trước đây gia đình tôi
làm phần ruộng hương hỏa do cha tôi ông Nguyễn Văn V để lại, tọa lạc tại
tổ I, đội 4, Bình Tự T. Sau đó hợp tác nông nghiệp đem phần ruộng này
khoán cho các viên tên dưới đây làm.
Nay, tất cả các viên nầy đều đồng ý không đăng quyền sử dụng đất
giao trả lại, để tôi đăng ruộng của tôi.
Dưới đây danh sách các viên: …..
4 - ô. Nguyễn Văn L1, ngụ tại 116/1……. (bút lục 57)
12
Ngày 20/5/2004 ông Nguyễn Văn L1 “Tờ cam kết” thể hiện mang tên
ông Nguyễn Văn L1, ông xác nhận ch dựng chòi tạm trên đất của H1 để nuôi
đồng thời cam kết khi H1 nhu cầu sử dụng sẽ tháo dỡ, trả lại đất, không
khiếu nại, không yêu cầu bồi thường không cản trở việc sử dụng đất của
H1. Cụ thể ông L1 cam kết như Giải tỏa toàn bộ các chòi nói trên khi chủ đất
cần rào dạo lại hay sử dụng mảnh đất nói trên. Không phát triển mở rộng
thêm trên phần đất nầy với bất kỳ do gì. Không khiếu nại xin bồi thường hay
làm khó dễ khi chủ đất cần sử dụng rào dạo mảnh đất nầy. Hoàn toàn chịu trách
nhiệm với người nuôi của tôi…. Hoàn toàn trả lại đất nầy, không làm khó dễ
chủ đất khi tôi không còn nuôi trên đất nầy. Hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước luật pháp hiện hành của nhà nước nếu tôi không thực hiện hay làm điều
sai quấy đối với những điều cam kết trên đây”… Tuy nhiên, tại phiên tòa đại
diện theo ủy quyền cho ông L1 không thừa nhận chữ ký trong hai tài liệu nêu
trên của ông L1; nhưng không yêu cầu giám định cũng không cung cấp
được chứng cứ khác chứng minh các tài liệu này bị giả mạo hoặc được lập trái ý
chí của ông L1. Do đó, đủ sở xác định diện tích thửa đất số 30, 31 t bản
đồ số 5 phường H nguồn gốc của ông V cha H1, sau khi thực hiện chế
độ quốc hữu hóa ruộng đất (đưa vào tập đoàn sản xuất) phần diện tích đất trên
đã được giao khoán cho các viên hợp tác và sau khi tập đoàn sản xuất giải
thể (1997) thì những viên đã trả lại phần ruộng đất y cho chủ H1
(con ông V) các xã viên trong đó ông Nguyễn Văn L1. vậy, việc ông L1
khởi kiện yêu cầu công nhận thửa đất số 30, 31 trên không sở.
Đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị
H1 năm 2009, mặc trước đây Ủy ban nhân dân thành phố B đã ban hành
quyết định thu hồi các Giấy chứng nhận này, nhưng các quyết định thu hồi đã bị
hủy bởi Bản án hành chính phúc thẩm số 182/2018/HC-PT ngày 07/6/2018. Tại
thời điểm ngày 13/9/2018, khi H1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho S, bản án hành chính phúc thẩm đang hiệu lực pháp luật;
H1 người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc
trường hợp bị hạn chế quyền chuyển nhượng theo quy định của Luật Đất đai
năm 2013. Hợp đồng chuyển nhượng giữa S và H1 được lập bằng văn bản,
được công chứng theo đúng quy định đã hoàn tất thủ tục đăng sang tên
cho S. Căn cứ khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định Việc công
chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng
đất, khoản 4 Điều 95, Điều 188 khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013,
căn cứ Điều 79 Ngh định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ,
ngày 25/9/2018 Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
13
tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi giấy chứng nhận) số CP212076,
số CP212077 cho Nguyễn Thị S phù hợp quy định của Pháp luật.
Việc Chánh án a án nhân dân tối cao kháng nghị Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án hành chính sơ thẩm phúc thẩm để
giải quyết lại vụ án hành chính không làm thay đổi tính hợp pháp của giao dịch
dân s đã được xác lập trong thời điểm bản án hành chính phúc thẩm còn hiệu
lực. Hơn nữa, Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng. “Trong trường hợp này, đúng ra
việc tranh chấp giữa các đương s phải được xem xét, giải quyết bằng vụ án
dân s khác chứ không phải giải quyết bằng cách thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp cho H1… sau khi hồ được giao giải quyết lại,
người khởi kiện đã rút đơn Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính. vậy, nguyên đơn cho rằng H1
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho S là trái pháp luật hoặc nhằm tẩu tán
tài sản không sở.
Từ những căn cứ nêu trên, Tòa án cấp thẩm không chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L1 về việc: Công nhận quyền sử dụng
đất đối với 02 thửa đất 30, 31 tờ bản đồ số 5 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng
Nai (cũ); Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất đất
giữa Nguyễn Thị H1 Nguyễn Thị S ngày 13/9/2018 hiệu, cũng như
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dung đất số CP212076 s CP212077
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho Nguyễn Thị S căn cứ.
Do đó, kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L1 không sở
chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Ông Nguyễn Văn L1, Nguyễn
Thị H1 thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của Pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị hiệu lực thi hành.
[5] Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia
phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L1; Giữ
nguyên án dân s sơ thẩm số 103/2025/DSST ngày 13/8/2025 của Tòa nhân
dân khu vực 1 - Đồng Nai.
14
Căn cứ Điều 26, 34, 35, 39, 68, 74, 147, 200, 201, 227, 228, 266 Bộ luật
Tố tụng Dân sự; Điều 116, 117, 122, 385, 401, 500, 502, 163, 166 Bộ luật dân
sự 2015, khoản 4 Điều 95, khoản 3 Điều 167, Điều 188, khoản 3 Điều 191 Luật
Đất đai năm 2013. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường v Quốc hội vế án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn
L1 v việc:
- Yêu cầu Toà án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất s
công chứng 3942, quyển s 03/2018TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13 tháng 9 năm
2018 tại Văn phòng C giữa Nguyễn Thị H1 Nguyễn Thị S là hiệu.
- Công nhận thửa đất số 30, 31 tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, thành
phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, thành phố Đ) thuộc quyền quản sử
dụng của ông Nguyễn Văn L1.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 31, tờ bản đồ số 5
toạ lạc tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 25/9/2018 số CP 212077 cho Nguyễn Thị S hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 30, tờ bản đồ số 5 toạ lạc tại
phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ
cấp ngày 25/9/2018 số CP 212076 cho Nguyễn Thị S.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị S đối với ông
Nguyễn Văn L1 về việc “Tranh chấp quyền s dụng đất”:
Nguyễn Thị S được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 1.627.9m
2
thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, thành phố Đ) được giới hạn bởi các mốc (1, 7, 8, 9, 10, 11,12,1) theo
bản đồ hiện trạng thửa đất số 4256/2022 ngày 30/6/2022 của Văn phòng đăng
đất đai tỉnh Đ2 chi nhánh B1.
Nguyễn Thị S được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 1745.8m
2
thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, thành phố Đ) được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1) theo
bản đồ hiện trạng thửa đất số 4256/2022 ngày 30/6/2022 của Văn phòng đăng
đất đai tỉnh Đ2 chi nhánh B1
Ông Nguyễn Văn L1 phải thực hiện việc di dời tháo dỡ ng trình xây
dựng, cây trồng trên đất, bao gồm:
- Công trình xây dựng trên thửa đất số 30, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường
H, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, thành phố Đ): cổng, kết cấu cột sắt tròn
90mm, cánh cổng khung sắt bọc tôn, cao 2,5m, hàng rào 1: cột sắt tròn
15
60mm,hàng rào khung sắt hộp, lưới B40 cao 1,8m, hàng rào 2: cột sắt tròn
60mm,hàng rào khung sắt hộp, lưới B40 cao 1,8m.
- Công trình xây dựng trên thửa đất số 31, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường
H, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, thành phố Đ): hàng rào có kết cấu cột sắt
tròn 60mm, lưới B40 cao 1,8m.
- 10 cây t loại 1 đường kính khoảng 10-15cm, 06 y mít loại 2
đường kình 15-20cm, 01 cây khế đường kính 20cm.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn Nguyễn Thị S hỗ trợ di dời, tháo dỡ
công trình trên đất là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) cho nguyên đơn
ông Nguyễn Văn L1.
3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Nguyễn Thị H1 v việc yêu cầu
“Công nhận quyền sử dụng đất” yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn L1 di dời
toàn bộ hoa màu, cây trồng trên đất hoàn trả toàn b thửa đất số 30, diện tích:
1.627,9m
2
thửa đất số 31, diện tích: 1.745,8m
2
; đều thuộc tờ bản đồ s 5, tại
phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, thành phố Đ), cho
Nguyễn Thị H1.
Kể từ ngày đơn thi hành án của người được thi hành án (đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi nh án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật dân sự.
Quyết định này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
4. Về án p dân sự sơ thẩm phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn L1,
Nguyễn Thị H1 thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của Pháp luật.
5. V chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự
nguyên đơn phải chịu chi p tố tụng 110.041.630 đồng (Một trăm ời triệu
không trăm bốn mươi mốt ngàn sáu trăm ba ngàn đồng).
6. Hiệu lực của án: Bản án Dân sự phúc thẩm hiệu lực pháp luật k từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Đồng Nai;
- TAND KV1-Đồng Nai;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
16
- Phòng THADS KV1- Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu (HS, TP, VP).
Đinh Thị Kiều Lương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 529/2026/DS-PT Bản án số 529/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 529/2026/DS-PT Bản án số 529/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất