Bản án số 530/2026/DS-PT ngày 24/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 530/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 530/2026/DS-PT ngày 24/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 530/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông T tranh chấp quyền sử dụng đất với bà H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 530/2026/DS-PT Bản án số 530/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 530/2026/DS-PT Bản án số 530/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 530/2026/DS-PT
Ngày 24/7/2026
VV Tranh chấp quyền sử dụng đất,
tháo dỡ công trình trên đất; tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất công nhận
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đinh Thị Kiều Lương
Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương
Ông Nguyễn Đình Trung
- Thư phiên tòa: Phan Thị Ngân– Thư Tòa án nhân dân Thành
phố Đồng Nai.
- Đại diện Viện sát nhân dân Thành phố Đ tham gia phiên toà:
Thị Hồng U- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2026, tại trụ s Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 370/2026/TLPT-DS ngày 16
tháng 6 năm 2026 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, tháo dỡ công trình
trên đất; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất công nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản
án dân sự thẩm số 104/2025/DSST ngày 13/8/2025 Tòa án nhân dân khu vực
1 - Đồng Nai bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
482/2026/QĐ-PT ngày 24 tháng 6 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số
581/2026/QĐ-PT ngày 17 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1964.
Địa chỉ: 1, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh
năm 1982.
Địa chỉ: B tổ I, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
2
phường L, Thành phố Đ).
- Bị đơn: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1942.
Địa chỉ: 8, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ).
Người đại diện theo ủy quyền cho b đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm
1947.
Địa chỉ: 8, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của b đơn: Luật Văn Đ
thuộc Đoàn Luật Thành phố H.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Sở Nông nghiệp Môi trường thành phố Đ;
Địa chỉ: E, đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ).
2. Văn phòng C1;
Địa chỉ: A, đường B, pờng H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường B, Thành phố Đ).
3. Nguyễn Thị S, sinh năm 1949;
Địa chỉ: 8, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ).
4. Ủy ban nhân n phường T, thành phố Đ kế thừa quyền nghĩa vụ
tố tụng của Ủy ban nhân dân thành phố B.
(Đại cho nguyên đơn, đại diện cho bị đơn, luật bào chữa cho bị đơn
mặt, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đơn xin vắng mặt),
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông T người đại diện theo ủy quyền ông Trần Văn H
trình bày:
Thửa đất s 20; 21 tờ bản đồ số 5 diện tích 887,6m
2
2.035,8m
2
, thuộc
phường H, thành phố B (nay là phường T, Thành phố Đ) nguồn gốc của ông
Nguyễn Văn V (cha Nguyễn Thị H1) được chế độ (Việt Nam Cộng
Hòacấp trích lục địa bộ ngày 25/05/1973. Năm 1968 ông V chết. Toàn bộ diện
tích trên H1 trực tiếp canh tác. Năm 1978-1979, thực hiện chủ trương, chính
sách đất đai của Nhà nước, H1 thừa nhận đã đưa toàn bộ diện tích đất nêu
trên vào Tập đoàn sản xuất (Hợp Tác X) H để sản xuất nông nghiệp tập thể.
Sau năm 1981, Tập đoàn sản xuất nông nghiệp giải thể thì toàn bộ các thửa đất
trên được giao cho hộ ông Nguyễn Văn C (đã chết), con ông Nguyễn Thanh T
tiếp tục quản sử dụng cho đến nay. Như vậy, toàn bộ các thửa đất trên
H1 đã đưa vào tập đoàn sản xuất nông nghiệp để sử dụng theo chính sách đất đai
3
của Nhà nước. Sau đó, Nhà nước đã giao cho các hộ viên để các hộ này tiếp
tục sử dụng với mục đích sản xuất nông nghiệp. Theo quy định tại khoản 2, Điều
10 Luật đất đai năm 2003 (nay khoản 05 Điều 6 năm 2013) thì “Nhà nước
không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho
người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền N Việt
Nam Nhà nước Cộng a xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Do đó H1 không
còn quyền sử dụng đối với các thửa đất trên. Ngày 09/05/2000, H1 khai,
đăng ký đề nghị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa
đất nêu trên. Ngày 31/7/2009, Ủy ban nhân dân thành phố B cấp 02 giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho Nguyễn Thị H1. Quá trình khai, đăng
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng hai thửa đất nêu trên cho bà H1 thể
hiện: Khi xét duyệt hồ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không
đúng quy định Ủy ban nhân dân H không tiến hành kiểm tra thực tế, chỉ
căn cứ theo hồ khai của H1 cung cấp nên không phát hiện những người
đang quản lý, sử dụng đất canh tác thực tế từ năm 1981 đến nay, không hỏi ý
kiến những người đang sử dụng đất này: Văn phòng đăng quyền sử dụng đất
tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh B1 không tiến hành kiểm tra thực địa, không lập biên
bản xác định ranh giới, mốc giới theo quy định chỉ Trích lục bản vẽ thừa đất,
sử dụng Biên bản ranh giới, mốc giới được lập từ năm 1998 (đã bị tẩy xóa, chỉnh
sửa tên người s dụng đất) để đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho H1 không đúng quy định của pháp luật.
Do vậy, ngày 29/02/2016, Ủy ban nhân n thành phố B đã ban hành các quyết
định thu hồi hai giấy chứng nhận đã cấp cho H1 đối với các thửa đất số 20,
21 t bản đồ số 5 H với do việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với các thửa đất nêu trên cho Nguyễn Thị H1 không đúng đối tượng sử
dụng đất. Giữa chúng tôi với Nguyễn Thị H1 đang tranh chấp quyền sử
dụng đất, hòa giải chưa thành, bằng chứng đến nay vẫn nộp hồ khởi
kiện tranh chấp ra Tòa, nhưng đến ngày 13 tháng 09 năm 2018 Nguyễn Thị
H1 lại ngang nhiên sang nhượng thửa đất này cho em gái mình Nguyễn Thị
S trái quy định pháp luật. Nay ông T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên
Hòa (sau này Tòa án nhân dân Khu vực 1 Đồng Nai):
+ Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13 tháng 09
năm 2018 giữa Nguyễn Thị H1 Nguyễn Thị S hiệu. Hủy các giấy
chứng nhận số CP212034 CP212697 đã cấp cho Nguyễn Thị S:
+ Công nhận thửa đất số 20; 21 tờ bản đ số 5 diện tích 887,6m
2
2.035,8m
2
thuộc phường H, thành phố B (nay phường T), tỉnh Đồng Nai,
thuộc quyền quản lý sử dụng định đoạt của ông.
- Bị đơn Nguyễn Thị H1 trình bày:
4
Thứ nhất: Về nguồn gốc quá trình sử dụng đất: Thửa đất số 20, thửa
đất số 21, tờ bản đồ địa chính s 05 diện tích lần lượt 887.6m
2
, 2035.8m
2
tọa lạc tại khóm B, khu phố N (ấp N), phường H (xã H), TP . (nay phường T,
Thành phố Đ) thuộc trong diện tích 3ha172 số bản đồ: 428, 430, 431 của cha
H1 ông Nguyễn Văn V sử dụng từ năm 1939, giấy tờ chứng nhận theo
quy định của pháp luật. Ngày 23/5/1973, gia đình H1 được T1 điền địa B
(nhà nước Việt Nam C) cấp Trích lục địa b đối với các thửa đất này, đây là một
trong những loại giấy chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp được quy định
tại điểm e, khoản 1, Điều 50 Luật đất đai 2003. Đến năm 1968 khi cha H1
mất để lại cho gia đình H1 trực tiếp quản lý, tiếp tục sử dụng canh tác: cụ thể
Năm 1970, em gái H1 Nguyễn Thị H2 mướn ông Văn B làm thuê
canh tác trên đất này; xác nhận vào ngày 23/02/1970 với nội dung Hiệp
mướn ông B với cách nhân công cày mướn ruộng. Ngày 27/03/1973 H2
không còn thuê ông B cày mướn thửa ruộng trên nữa. Năm 1976, em trai H1
Nguyễn Văn P Đơn xin trở về quê quán tại địa chỉ: 8 khóm H, ấp N, xã H
để canh tác phần ruộng này. UBND H đã xác nhận nội dung như sau: “Ý
thuận cho anh Nguyễn Văn P chuyển hộ Khẩu” một người" về sống chung với
gia đình cha mẹ, tại H đ góp phần canh tác số vườn sẵn có". Ngày 10/6/1977,
em P làm đơn xin thay đổi chổ về địa chỉ 2 khóm B, H nơi em H2 là chủ
hộ để tiện việc chăm nom hoa màu canh tác trên đất này. Vào mùa vụ năm
1976-1977, do H1 giáo viên của trường THPT N1 nên vào niên khóa học
1976-1977, xuất phát từ tinh thần gây quĩ cho nhà trường, các em học sinh lớp
11 của trường N1 đã đến lao động trong mùa thu hoạch do gia đình H1 canh
tác trên phần ruộng đất này. Sự việc này mọi người trong trường N1 đều biết:
một trong số giáo viên trong niên khóa đó Trần Kim N (sinh năm 1949, địa
chỉ tại phường Q) đã làm giấy xác nhận sự việc này trước UBND phường Q.
Ngoài ra gia đình H1 cho hai cháu Văn T2, Nguyễn Thị Nguyệt
Q mượn một phần đất này để cùng gia đình H1 vào HTX canh tác. Tuy nhiên
do tình trạng sức khỏe, hai cháu T2 cháu Q không tiếp canh tác nên đã giao
trả lại phần đất này cho gia đình năm 1980. Ngày 20/5/1982, mẹ H1 Lâm
Thị T3 đơn xin khiếu nại về hoa lợi ruộng đưa vào Hợp tác N2. Đến năm
1986, do Hợp tác N2 hoạt động không còn hiệu quả nên dần dần tan : thực tế
những xã viên được giao đất để canh tác cũng không còn s dụng phần diện tích
đất được giao khoán. Năm 1998, thực hiện chính sách đất đai theo Thông số:
346/1998/TT-TCD, H1 làm thủ tục xin cấp GCN QSDĐ đối với 02 thửa đất
nêu trên. Khi làm thủ tục xin cấp GCN QSDĐ H1 đã cung cấp đầy đủ các tài
liệu theo quy định của pháp luật về đất đai. Đặc biệt ngày 14/4/2000, những
viên được giao khoán đất để canh tác trên phần đất này, đã Giấy xác nhận
không đăng ruộng đất này. Trong giấy xác nhận chữ đồng ý của ông
5
Nguyễn Văn C cha của ông Nguyễn Thanh T. Hợp tác giải thể, những phần
đất nêu trên không tranh chấp, Nhà nước đã xác lập quyền sử dụng đất cho
H1 hợp pháp, phù hợp thực tế sử dụng đất đã cấp 02 GCN QSDĐ cho
H1 năm 2009 đối với 2 thửa đất nêu trên. Như vậy, thửa đất số 20, thửa số 21
thuộc tờ bản đồ địa chính số 5 của gia đình bà H1 là nguồn gốc ràng, hợp
pháp, được cấp GCN QSDĐ theo qui định luật đất đai hiện hành. Về quá trình
sử dụng đất, gia đình H1 thực hành từ trước sau năm 1975 cho đến nay.
Thứ hai: Quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tháng 9/2018
H1 làm thủ tục chuyển nhượng hai (02) thửa đất nêu trên cho Nguyễn Thị S.
Ngày 25/9/2018 và ngày 27/9/2018, Sở TN&MT tỉnh Đ đã cấp hai (02)
GCNQSDĐ cho Nguyễn Thị S (căn cứ vào khoản 4 Điều 95, Điều 188,
khoản 3 Điều 191 Luật đai 2013). Hai (02) thửa đất: thửa đất số 20, 21, tờ bản
đồ số 5, tại phường H đã biến động do Nguyễn Thị S chủ sử dụng.
Khoản 4, Điều 152, Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Cơ quan thẩm quyền
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
quy định tại Điều 136 của Luật này không thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong
các trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này nếu người được cấp giấy
chứng nhận đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn
liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Việc xử thiệt hại do việc
cấp giấy chứng nhận tại khoản này thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án.
Người hành vi vi phạm bị xử theo quy định tại Điều 239 Điều 240 của
Luật này quy định khác của pháp luật liên quan”.
Thứ ba: Về tranh chấp quyền sử dụng đất: Năm 2015 ông Nguyễn Văn C
đơn khiếu nại việc cấp giấy chứng nhận quyền dụng đất cho H1 là không
đúng đối tượng với lý do diện tích hai thửa đất nêu trên, ngày trước Hợp tác
N2 giao cho ông Nguyễn Văn C sản xuất theo công điểm. Năm 2018 ông C chết
thì ông Nguyễn Thanh T lại tranh chấp hai thửa đất nêu trên. Ông T (nguyên
đơn) kiện H1 trong vụ án dân sự sơ thẩm thụ số ngày 28/01/2021 về việc
QSDĐ của hai thửa đất y. Sau đó ông T tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi
kiện, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án nêu trên bằng Quyết định số: 195/2021/QĐST-DS ngày 01/06/2021.
do nêu ra của ông Nguyễn C ông Nguyễn Thanh T hoàn toàn
không sở vì:
Về phần ông Nguyễn Văn C: Theo ông C, Thửa đất số 20, Thửa đất số 21
tờ bản đồ địa chính số 5 đã được đưa vào Tập đoàn sản xuất từ năm 1978, 1979
theo chế độ quốc hữu hóa ruộng đất. Từ đó ông C không đồng ý việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho H1. Điều không đúng, bởi vì: Vào thời
điểm 1978, 1979 đưa Liệu Sản Xuất (TLSX = ruộng, máy cày, trâu bò...) vào
làm ăn tập thể nghĩa người sức lao động, trực tiếp lao động, thì được
6
hưởng phần công sức theo công điểm; người TLSX thì được hưởng huê lợi
theo lệ TLSX đưa vào tập đoàn, HTX theo định của tập đoàn, HTX. Khi tập
đoàn, HTX tan thì TLSX được trả lại chủ . Khi HTX nông nghiệp giải tán
tranh chấp sẽ áp dụng Điểm b, Mục 2.4, Phần II của Nghị quyết số: 02/2004
NQ/NQ-HĐTP năm 2004.
chế của Tập đoàn, hay HTX không là chế độ quốc hữu hóa ruộng đất:
Hợp tác N2 giao cho ông C sản xuất theo công điểm, nhưng HTX không
thẩm quyền cấp quyền s dụng đất. Muốn được công nhận quyền s dụng đất
phải đăng theo chính sách đất đai Thông số 346/1998/TT-TCD ngày
16/3/1998 hướng dẫn. Hợp tác N3, không còn giao khoán đất cho viên nữa.
Ngày 07/4/2000 ông C đã Giấy xác nhận không đăng xin QSDĐ hai thửa
ruộng đất này.
Năm 2000 H1 thực hiện Thông số 346/1998/TT-TCD đã tiến hành
đăng thửa đất này. Đến năm 2003 UBND H xét duyệt hồ sơ, và Biên bản
2483/BB-XD ghi: “đất sử dụng không tranh chấp, đủ điều kiện cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”, 2004 Phòng Tài nguyên môi tờ trình phê
xét duyệt, đề nghị U cấp GCN QSDĐ cho Nguyễn Thị H1.
Năm 2006, H1 làm đơn xin cấp GCN QSDĐ gửi đến U đối với hai
thửa đất nêu trên được xác nhận đủ điều kiện để cấp giấy GCN QSDĐ.
Năm 2009 Nguyễn Thị H1 nhận GCN QSDĐ của hai thửa đất nêu trên do U
cấp.
Trong biên bản hòa giải, ngày 07/4/2015, ý kiến của ông Nguyễn Văn C:
“Tôi được HTX giao khoản trực tiếp sản xuất từ năm 1978 đến nay (thửa 20, 21
tờ số 5). Như vậy Ông C không bất kỳ chứng cứ, tài liệu nào chứng minh về
mối liên hệ giữa ông C đối với các thửa đất số 20, số 21 tờ bản đồ số 5. Hợp tác
nghiệp H2 chỉ giao cho ông Nguyễn n C sản xuất theo công điểm. Hợp
tác nghiệp Hiệp Hòa giải T4, không còn giao khoán đất cho viên nữa.
Hợp tác không thẩm quyền cấp quyền s dụng đất. Muốn được công nhận
quyền sử dụng đất phải đăng theo chính sách đất đai Thông số:
346/1998/TT-TCD ngày 16/3/1998 hướng dẫn.
Ngày 07/4/2000 ông C đã Giấy xác nhận không đăng ruộng đất này,
năm 2018 ông C chết, ông Thanh T không quyền sử dụng, cũng chưa bao
giờ sử dụng đất này.
Về phần ông Thanh T: Ông T không viên HTX N2. Ông T không
bất kỳ chứng , tài liệu nào chứng minh về mối liên hệ giữa ông T đối với hai
thửa đất số 20 21, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H. Ngoài ra ông T cũng
chưa bao giờ sử dụng canh tác hai thửa đất này. Sau năm 2015 năm ông C
khiếu nại đến lúc ông C mất, hai thửa đất này bỏ trống cho đến nay.
7
Do đó: Ông T không căn cứ, sở nào để tranh chấp “quyền sử dụng
đất" trên hai thửa đất 20, 21 t bản đồ số 5 với bà H1 với Nguyễn Thị S.
Ông T không sở nào để yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng cho Nguyễn Thị S hai
thửa đất 20, 21 tờ bản đồ số 5. Trên đây toàn bộ nội dung vụ việc, đề nghị
Toà án ng nhận cho H1 quyền sử dụng đất tại thửa số 20, thửa số 21, tờ bản
đồ địa chính số 5 diện tích lần lượt 887.6m
2
, 2035.8m
2
tọa lạc tại phường
H, TP . (nay phường T Thành phố Đ).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Nguyễn Thị S đơn yêu cầu độc lập trình bày: người
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý s
419/2023/TLST-DS ngày 17/3/2023 về việc. “Tranh chấp quyền sử dụng đất”,
hiện vụ án đang được Toà giải quyết. Các thửa đất số 20, diện tích: 887,6m
2
thửa đất số 21, diện tích: 2.035,8m
2
; đều thuộc tờ bản đồ số 5, tại phường H,
thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, Thành phố Đ) thuộc quyền sử
dụng của Nguyễn Thị H1. Do không nhu cầu sử dụng, nên H1
chuyển nhượng lại toàn bộ phần diện ch đất trên cho bà Nguyễn Thị S. Việc
chuyển nhượng đã hoàn thành, S đã thực hiện xong nghĩa vụ đối với H1
đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất.
Tuy nhiên, lợi dụng việc đất để trống ông T đã hành vi chiếm dụng cho đến
nay. vậy, để bảo v quyền lợi hợp pháp, S yêu cầu Toà xem xét giải quyết:
Buộc ông Nguyễn Thanh T di dời toàn bộ công trình xây dựng, cây trồng trên
đất hoàn trả toàn bộ thửa đất số 20, diện tích: 887,6m
2
thửa đất s 21, diện
tích: 2.035,8m
2
; thuộc tờ bản đồ số 5, tại phường H, thành phố B (nay phường
T) tỉnh Đồng Nai cho Nguyễn Thị S.
- Văn phòng C1 trình bày: Văn phòng C1 nhận được Thông báo giao
nộp chứng c s 626/TB-TA, 655/TB-TA của Tòa án nhân dân thành phố Biên
Hòa ngày 17/04/2025 trong v án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đ làm việc
về vụ án nêu trên. Qua kiểm tra hồ sơ công chứng Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số công chứng 3942, quyền số 03/2018TP/CC-SCC/HĐGD
do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 13/09/2018 được giao kết giữa bên chuyển
nhượng Nguyễn Thị H1 bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Thị S,
Văn phòng C1 trình bày ý kiến như sau: Văn phòng C1 đã kiểm tra xác nhận
đúng tài sản giao dịch tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị H1.
Tại thời điểm tiếp nhận thụ giải quyết hồ yêu cầu công chứng
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, Văn phòng C1 đã thực
hiện đúng theo trình tự thủ tục được quy định tại Luật chứng 2014.
- Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh Đ trình bày:
8
Thửa đất số 20, 21 do Nguyễn Thị H1 sử dụng, được UBND thành phố
B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 069690, AQ 045721 ngày
31/7/2009, mục đích sử dụng: đất trồng lúa.
Năm 2016 UBND thành phố B ban hành 09 Quyết định thu hồi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị H1, trong đó thửa đất số
20, 21 tờ bản đồ số 05 H, cụ thể: ngày 29/02/2016 UBND thành phố ban
hành Quyết định số 737/QĐ-UBND, số 736/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị H1 thuộc thửa đất số 20,21 tờ
bản đồ số 05 H.
Năm 2017 Nguyễn Thị H1 khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai (nay Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Nai) hủy 09 quyết định
hành chính của UBND thành phố B. Tại Bản án số 11/2017/HC-ST ngày
31/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh tuyên: Bác yêu cầu khởi kiện của
Nguyễn Thị H1 về việc yêu cầu Tòa án hủy các Quyết định sau đây của UBND
thành phố B: Quyết định 731, Quyết định 732, Quyết định 733, Quyết định 734,
Quyết định 735, Quyết định 736, Quyết định 737, Quyết định 6116 và Quyết
định 6117 (các Quyết định từ số 731 đến 737 được sửa ngày tháng năm ban
hành từ ngày 29/02/2015 thành 29/02/2016).
Ngày 13/11/2017 H1 đơn kháng cáo Bản án hành chính thẩm số
11/2017/HC-ST ngày 31/10/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai (nay
Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Nai). Tại Bản án số 182/2018/HC-PT ngày
07/6/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa
án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh), tuyên:
1. Chấp nhận cáo của Nguyễn Thị H1; sửa bản án thẩm s
11/2017/HCST ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H1; hủy các quyết định
sau đây của UBND thành phố B, tỉnh Đồng Nai:
Quyết định số 731/QĐ-UBND ngày 29/02/2015 (ngày đúng ngày
29/02/2016) của UBND thành phố B, tỉnh Đồng Nai về việc thu hồi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AQ 069693 ngày 31/7/2009 do UBND thành phố B
cấp cho Nguyễn Thị H1....
Quyết định số 6117/QĐ-UBND ngày 07/10/2016 của UBND thành phố B,
tỉnh Đồng Nai v việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 069694
ngày 31/7/2009 do UBND thành phố B cấp cho Nguyễn Thị H1.
2. Bản án phúc thẩm hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Tháng 09/2018 Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng thửa đất số 20,21 tờ
bản đồ số 05 cho Nguyễn Thị S theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được Văn phòng chứng Bửu Hoà chứng nhận ngày 13/9/2018.
9
Căn cứ Bản án số 182/2018/HC-PT ngày 07/6/2018 của Tòa án nhân dân
cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm
2013 quy định Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các
quyền của người sử dụng đất, khoản 4 Điều 95, Điều 188 khoản 3 Điều 191
Luật Đất đai năm 2013, căn cứ Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ, ngày 25/9/2018 Sở T cấp giấy chứng nhận quyền đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi giấy chứng
nhận) số CP212076, số CP212077 cho Nguyễn Thị S phù hợp quy định
của Pháp luật.
Ngày 18/3/2021 Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định số
08/2021/KN-HC kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc
thẩm số 182/2018/HC-PT ngày 07/6/2018 của Tòa án nhân n cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên:
Kháng nghị Bản án hành chính phúc thẩm số 182/2018/HC-PT ngày
07/6/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc
thẩm theo hướng: Hủy Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên; hủy Bản án hành
chính thẩm số 11/2017/HC-ST ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai. Giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để xét xử
thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tạm đình chỉ thi hành Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên cho đến khi
Quyết định đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Như vậy, tại thời điểm Văn phòng B1 tiếp nhận Quyết định số
08/2021/KN-HC kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc
thẩm số 182/2018/HC-PT ngày 07/6/2018 của Tòa án nhân n cấp cao tại
Thành phố H Chí Minh, thửa đất số 20, 21 tờ bản đồ số 05 phường H đã biến
động do Nguyễn Thị S chủ sử dụng.
Đối với u cầu hủy giấy chứng nhận của ông Nguyễn Thanh T:
Như đã trình bày nêu trên, ngày 25/9/2018 Sở T (nay Sở N) cấp giấy
chứng nhận số AQ 069690, AQ 045721 ngày 31/7/2009 cho Nguyễn Thị S
thuộc thửa đất số 20,21 tờ bản đồ số 05 phường H phù hợp quy định pháp luật.
Việc thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp này chỉ
được thực hiện theo khoản 5 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 “Việc thu hồi
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu n ở, Giấy chứng nhận
quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền đất,
quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp không thuộc trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều này chỉ được thực hiện khi bản án hoặc quyết định của Tòa
10
đã được thi hành hoặc văn bản kiến nghị của quan thi hành án về việc thi
hành bản án, quyết định theo quy định của pháp luật, trong đó nội dung yêu
cầu thu hồi giấy chứng nhận đã cấp.”
Tại bản án dân sự thẩm số 104/2025/DS-ST ngày 13/8/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 Đồng đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh
T về việc:
- u cầu Toà án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất số
công chứng 3942, quyển số 03/2018TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13 tháng 09 năm
2018 tại Văn phòng C1 giữa Nguyễn Thị H1 Nguyễn Thị S hiệu.
- Công nhận thửa đất số 20, 21 tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, thành
phố B (nay pờng T, Thành phố Đ) là thuộc quyền quản sử dụng của ông
Nguyễn Thanh T.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 20, tờ bản đồ số 5
toạ lạc tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, Thành phố
Đ) do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 27/9/2018 số CP 212034
cho Nguyễn Thị S hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất s 21,
tờ bản đồ số 5 toạ lạc tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 27/9/2018 số CP 212697 cho Nguyễn
Thị S.
2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Thị H1 về việc buộc ông
Nguyễn Thanh T phải tháo dỡ các hàng o hoa màu trên thửa đất số 20, 21
tờ bản đồ số 5 toạ lạc tại phường H, thành phố B (nay phường T, Thành phố
Đ) trả lại đất cho Nguyễn Thị S.
3. Chấp nhận yêu cầu yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị S:
Nguyễn Thị S được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 887,6 m
2
thuộc
thửa đất số 20, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ) được giới hạn bởi các mốc (3,4,5,6,7,8,3) theo bản đ
hiện trạng thửa đất số 2091/2024 ngày 21/3/2024 của Văn phòng đất đai tỉnh
B1 (nay Thành phố Đ).
Nguyễn Thị S được quyền quản lý, sử dụng diện ch đất 2.035,8 m
2
thuộc thửa đất số 21, t bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T được giới hạn bởi các mốc (1,2,3,8,9,10,11,12,13,1) theo bản đồ hiện
trạng thửa đất số 2091/2024 ngày 21/3/2024 của n phòng đất đai tỉnh
Đồng Nai nhánh B1
Ông Nguyễn Thanh T phải thực hiện việc di dời tháo dỡ hàng rào được
xây dựng trên thửa đất số 20, 21 tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, thành phố
B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai
11
Ngày 19/8/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T làm đơn kháng cáo
bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi của nguyên đơn, không
chấp nhận yêu cầu tố của bị đơn
Quan điểm của người vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Về nguồn gốc, q trình sử dụng khai đăng ký: Thửa đất số 20, thửa
đất số 21, tờ bản đồ địa chính s 05 diện tích lần lượt 887.6m
2
, 2035.8m
2
tọa lạc tại khóm B, khu phố N (ấp N), phường H (xã H), TP . (nay phường T),
tỉnh Đồng Nai thuộc trong diện tích 3ha172 số bản đồ: 428, 430, 431 của cha
H1 ông Nguyễn Văn V sử dụng từ năm 1939, giấy tờ chứng nhận theo
quy định của pháp luật nguồn gốc trước năm 1975 của ông Nguyễn Văn V
(cha của H1, trích lục địa bộ), sau năm 1975 các thửa đất trên được đưa
vào tập đoàn sản xuất nông nghiệp từ năm 1978-1979 theo C2 (đưa ruộng đất
vào làm ăn tập thể), gia đình H1 không tham gia canh tác. Đến năm 1981
Tập đoàn chia các thửa đất trên cho ông Nguyễn Văn C canh tác sử dụng, đến
năm 2000 khi Nhà nước cho đăng đất đai để cấp giấy chứng nhận Quyền sử
dụng đất thì Nguyễn Thị H1 lập hồ xin giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất năm 2009 H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy
định.
Ông T kháng cáo đ nghị sửa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
không n cứ. Đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản
án dân sự thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tại
phiên tòa phúc thẩm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Về t tụng: Từ khi thụ vụ án tới thời điểm này thấy rằng Thẩm phán,
Hội đồng xét xử thư đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tụng
dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. quy định tại khoản 1 Điều 286 Bộ luật
Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đảm bảo sự tư, khách quan giải quyết vụ án,
không trường hợp phải thay đổi người tiến hành t tụng theo Điều 52 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, thủ tục phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến
thời điểm này được Hội đồng xét xử phúc thẩm thực hiện đầy đủ, đúng quy định
trình tự về phiên tòa phúc thẩm.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý
cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định
tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 236 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án:
Tính căn cứ, hợp pháp của kháng cáo:
Về thủ tục kháng cáo: Ngày 19/8/2025 bị đơn ông Nguyễn Thanh T làm
đơn kháng cáo bản án thẩm. Ông T đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí
12
phúc thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự t kháng cáo trong
hạn luật định, hợp pháp nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo: Trên sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ
vụ ánvề nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất, về nội dung hình thức hợp
đồng chuyển nhượng; trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đúng phù hợp với các quy định của pháp .
Việc ông Nguyễn Thanh T kháng cáo cho rằng 02 thửa đất tranh chấp
nguồn gốc do gia đình ông quản lý, sử dụng n định từ nhiều năm trước, việc
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H1 việc chuyển nhượng cho
S trái pháp luật nên yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không căn cứ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H1 theo đơn khởi kiện ngày
04/11/2022, bà H1 yêu cầu giải quyết công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 20,
21 tờ bản đồ số 5 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (cũ) thuộc quyền quản
lý, sử dụng định đoạt của bà. Ngày 24/01/2024 H1 đơn xin rút yêu cầu
khởi kiện. Tòa án xác định lại cách tố tụng của nguyên đơn, bị đơn nhưng
không ra Thông báo về việc xác định lại địa v tố tụng của các đương sự (ông T
nguyên đơn, H1 bị đơn) thiếu sót. Đồng thời không đình chỉ đối với
yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H1 về việc công nhận quyền s dụng đất
thửa 30, 31 tờ bản đồ số 5 thiếu sót.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật T tụng dân sự: Đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T.
án thẩm về cách tuyên đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị
H1 về việc công nhận dụng đất tại thửa 20, 21 tờ bản đồ số 5 phường H, thành
phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, Thành phố Đ).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa kết quả anh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thanh T làm trong
hạn luật định, ông T người cao tuổi được miễn tạm ng án phí nên kháng cáo
hợp pháp. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự được xem xét
theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết sửa án
thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về nguồn gốc đất tranh chấp: H1 ông T đều thống nhất thừa nhận
thửa đất số 20, 21 tờ bản đồ số 5 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai - nay là
13
phường T, thành phố Đ nguồn gốc của cha H1 ông Nguyễn Văn V được
nước Việt cộng hòa cấp Trích lục địa bộ ngày 25/5/1973.
- Quá trình quản lý, sử dụng: Năm 1978 thực hiện chính sách đất đai của
nước, bà H1 đã đưa toàn bộ diện tích của 02 thửa đất trên vào Hợp tác
nghiệp H. Ông T cho rằng sau khi 02 thửa đất trên đưa vào tập đoàn sản xuất
theo chế độ quốc hữu hóa ruộng đất sau khi tập đoàn sản xuất giải thể (năm
1981) thì toàn bộ các thửa đất trên được giao cho các hộ xã viên sử dụng gồm hộ
ông T tiếp tục sử dụng thửa đất số 20, 21 đến nay. Tuy nhiên, theo “Giấy xác
nhận không đăng ruộng đất” ngày 13/4/2020 do Nguyễn Thị H1 lập gửi
tịch UBND H thể hiện 09 người trước đây nhận khoán, nay đồng ý trả lại
không đăng quyền sử dụng đất đó ông Nguyễn Văn C cha của ông
Nguyễn Thanh T, nội dung thể hiện: “...Trước đây gia đình tôi có làm phần
ruộng hương hỏa do cha tôi là ông Nguyễn Văn V để lại tọa lạc tại tổ I, đội 4,
Bình Tự T. Sau đó HTX nông nghiệp đam phân ruộng này khoản cho các
viên tên dưới đây làm. Nay tất cả c viên đều đồng ý không đăng
quyền sử dụng đất giao trả lại để tôi đăng ruộng của tôi. Dưới đây danh
sách các viên: ... 3- ô. Nguyễn Văn C, ngụ tại 1, tổ I....”.
Như vậy, diện tích thửa đất số 20, 21 tờ bản đồ số 5 phường H, thành phố
B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, thành phố Đ) có nguồn gốc của cha H1,
sau khi thực hiện chế độ quốc hữu hóa ruộng đất ưa vào tập đoàn sản xuất)
phần diện tích đất trên đã được giao khoán cho c viên hợp tác xã, sau
khi tập đoàn sản xuất giải thể thì những viên đã trả lại phần ruộng đất này cho
chủ (bà H1 con ông V) các viên trong đó ông Nguyễn Văn C (cha của
ông T). Ông T khởi kiện yêu cầu công nhận thửa đất số 20, 21 trên không
sở.
Đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị
H1 năm 2009, mặc trước đây Ủy ban nhân dân thành phố B đã ban hành
quyết định thu hồi các Giấy chứng nhận này, nhưng các quyết định thu hồi đã bị
hủy bởi Bản án hành chính phúc thẩm số 182/2018/HC-PT ngày 07/6/2018. Tại
thời điểm ngày 13/9/2018, khi H1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho S, bản án hành chính phúc thẩm đang hiệu lực pháp luật;
H1 người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền s dụng đất không thuộc
trường hợp bị hạn chế quyền chuyển nhượng theo quy định của Luật Đất đai
năm 2013. Hợp đồng chuyển nhượng giữa S H1 được lập bằng văn bản,
được công chứng theo đúng quy định đã hoàn tất thủ tục đăng sang tên
cho S. Căn cứ khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định việc công
chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng
đất, khoản 4 Điều 95, Điều 188 khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013,
căn cứ Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ,
14
ngày 25/9/2018 Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi giấy chứng nhận) số CP212034,
số CP212697 cho Nguyễn Thị S phù hợp quy định của Pháp luật.
Việc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị và Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án hành chính thẩm phúc thẩm để
giải quyết lại vụ án hành chính không làm thay đổi tính hợp pháp của giao dịch
dân sự đã được xác lập trong thời điểm bản án hành chính phúc thẩm còn hiệu
lực. Hơn nữa, Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng. “Trong trường hợp này, đúng ra
việc tranh chấp giữa các đương sự phải được xem xét, giải quyết bằng vụ án
dân sự khác chứ không phải giải quyết bằng cách thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp cho H1… sau khi hồ sơ được giao giải quyết lại,
người khởi kiện đã rút đơn Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án
nhân dân Thành phố Đồng Nai) ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
hành chính. vậy, nguyên đơn cho rằng H1 chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho S trái pháp luật hoặc nhằm tẩu tán tài sản không căn cứ chấp
nhận.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H1 theo đơn khởi kiện ngày
04/11/2022, bà H1 yêu cầu giải quyết công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 20,
21 tờ bản đồ số 5 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (cũ) thuộc quyền quản
lý, sử dụng định đoạt của bà. Ngày 24/01/2024 H1 đơn xin rút yêu cầu
khởi kiện. Tòa án đã đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H1
đúng quy định việc Tòa án cấp thẩm không ra Thông báo v việc xác định
lại cách tố tụng của các đương sự (ông L nguyên đơn, H1 bị đơn)
đồng thời không đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H1 về
việc công nhận quyền sử dụng đất thửa 20, 21 tờ bản đ số 5 thiếu nhưng
không thay đổi bản chất vụ án, do đó, Hội đồng t xử bổ sung vào cho phù hợp.
các lẽ trên; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn
Thanh T; giữ nguyên bản án thẩm số 104/2025/ ngày 13/8/2025 của Tòa dân
khu vực 1 - Đồng Nai
[3Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: ông Nguyễn Thanh T người cao
tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của Pháp luật.
[4] Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự
Chi phí đo vẽ, xem xét hiện trạng thẩm định giá tài sản 183.716.920
đồng; do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải
chịu chi p tố tụng nêu trên (ông T đã nộp xong).
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không
bị kháng nghị hiệu lực thi hành.
15
[6] Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tham
gia phiên tòa phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được
chấp nhận.
các l trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật T tụng dân sự,
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T; giữ
nguyên án dân sự thẩm số 104/2025/ ngày 13/8/2025 của Tòa dân khu vực 1
- Đồng Nai.
Căn cứ Điều 26, 34, 35, 39, 68, 74, 147, 200, 201, 227, 228, 266 Bộ luật
Tố tụng Dân sự; Điều 116, 117, 122, 385, 401, 500, 502, 163, 166 Bộ luật sự
2015; khoản 4 Điều 95, khoản 3 Điều 167, Điều 188, khoản 3 Điều 191 Luật
Đất đai năm 2013. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Thanh T đối với các yêu cầu sau:
- Không chấp nhận yêu cầu Toà án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số công chứng 3942, quyển số 03/2018/TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 13 tháng 09 năm 2018 tại Văn phòng C1 giữa Nguyễn Thị H1
Nguyễn Thị S hiệu.
- Không chấp nhận yêu công nhận thửa đất s 20, 21 tờ bản đồ số 5 tọa
lạc tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, Thành phố Đ)
thuộc quyền quản s dụng của ông Nguyễn Thanh T.
- Không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
đất số 20, tờ bản đ số 5 toạ lạc tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 27/9/2018 số CP 212034 cho
Nguyễn Thị S hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 21, tờ bản
đồ số 5 toạ lạc tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 27/9/2018 số CP 212697 cho Nguyễn Thị S.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H1 về việc “Công nhận
quyền sử dụng đất” đình chỉ yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị H1 về việc
“Buộc ông Nguyễn Thanh T phải tháo dỡ các hàng rào hoa màu trên thửa đất
số 20, 21 tờ bản đồ số 5 toạ lạc tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ)”.
3. Chấp nhận yêu cầu yêu cầu độc lập của Nguyễn Thị S:
Nguyễn Thị S được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 887,6m
2
thuộc thửa đất số 20, t bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ) được giới hạn bởi các mốc (3,4,5,6,7,8,3) theo bản đ
16
hiện trạng thửa đất số 2091/2024 ngày 21/3/2024 của Văn phòng đất đai tỉnh
Đồng Nai nhánh B1.
Nguyễn Thị S được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 2.035,8m
2
thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, thành phố B, tỉnh
Đồng Nai (nay là phường T thành phố Đ) được giới hạn bởi các mốc
(1,2,3,8,9,10,11,12,13,1) theo bản đ hiện trạng thửa đất số 2091/2024 ngày
21/3/2024 của Văn phòng đất đai tỉnh Đồng Nai nhánh B1.
Ông Nguyễn Thanh T phải thực hiện việc di dời tháo dỡ hàng rào được
xây dựng trên thửa đất số 20, 21 tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại phường H, thành phố
B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, Thành phố Đ).
Kể từ ngày đơn thi hành án của người được thi hành án (đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi nh án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật sự.
Quyết định này được thi hành theo định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo định tại các 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về án phí dân sự thẩm dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh T,
Nguyễn Thị H1 thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của Pháp
luật nên ông T, H1 không phải chịu.
5. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự
nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T phải chịu chi phí tố tụng 183.716.920 đồng
(Một trăm tám ba triệu bảy trăm mười sáu ngàn chín trăm hai mươi đồng) ông
T đã nộp xong.
6. Hiệu lực của án: Bản án Dân sự phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Đồng Nai;
- TAND KV1-Đồng Nai;
- Phòng THADS KV1- Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu (HS, TP, VP).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN A
Đinh Thị Kiều Lương
17
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 530/2026/DS-PT Bản án số 530/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 530/2026/DS-PT Bản án số 530/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất