Bản án số 111/2026/DS-PT ngày 20/08/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 111/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 111/2026/DS-PT ngày 20/08/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 111/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà S kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm công nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà S theo đúng nguồn gốc đất được giao theo “Biên bản giao đất cho nhân dân đi vùng kinh tế mới tại nông trường R” ngày 19/8/1994, diện tích 714m2 kích thước Đông – Tây là 42 m, Bắc – Nam là 17m.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 111/2026/DS-PT Bản án số 111/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 111/2026/DS-PT Bản án số 111/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 111/2026/DS-PT
Ngày 20 tháng 8 năm 2026
V/v tranh chấp về ranh giới quyền
sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Huy Lưỡng.
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Mai Hương.
Ông Trần Văn San.
- Tphiên tòa: Phạm Thị Minh Hằng - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình: Thị Thanh Vân -
Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2026/TLPT-DS ngày 23 tháng 6 năm 2026
về việc tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất.
Do Bản án sơ thẩm số 159/2026/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2026/QĐ-PT ngày 04 tháng 8 năm
2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Trần Thị S, sinh năm 1968, số định danh nhân ************; địa
chỉ: Thôn H (địa chỉ cũ Thôn A), xã R, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
1.2. Ông Đỗ Quốc P, sinh năm 1965; số định danh cá nhân ************; địa
chỉ: Thôn A, xã R, tỉnh Ninh Bình;
Người đại diện hợp pháp của ông P: Trần Thị S, sinh năm 1968, số định
danh cá nhân ************; địa chỉ: Thôn H (địa chỉ cũ Thôn A), xã R, tỉnh Ninh
2
Bình người đại diện theo y quyền (văn bản ủy quyền ngày 10/11/2025) (có mặt)
2. Bị đơn: Trần ThN, sinh năm 1968; sđịnh danh nhân ************;
địa chỉ: Thôn H ịa chỉ cũ Thôn A), xã R, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn:
3.1. Trần Thị D, sinh năm 1943; số định danh nhân ************ địa
chỉ: Thôn D - N, xã R, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của D: Trần Thị N, sinh năm 1968; số định
danh cá nhân ************; địa chỉ: Thôn H (địa chỉ cũ Thôn A), xã R, tỉnh Ninh
Bình là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 15/12/2025) (có mặt)
3.2. Chị Trần Thị N1, sinh năm 1988; sđịnh danh nhân ************; địa
chỉ: Thôn H (địa chỉ cũ Thôn A), xã R, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của chị N1: Trần Thị N, sinh năm 1968; số định
danh cá nhân ************; địa chỉ: Thôn H (địa chỉ cũ Thôn A), xã R, tỉnh Ninh
Bình là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 15/12/2025) (có mặt)
3.3. Chị Trần Thị H, sinh năm 1990; số định danh cá nhân ************; địa
chỉ: Thôn H (địa chỉ cũ Thôn A), xã R, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của chị H: Trần Thị N, sinh năm 1968; số định
danh cá nhân ************; địa chỉ: Thôn H (địa chỉ cũ Thôn A), xã R, tỉnh Ninh
Bình là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 15/12/2025) (có mặt)
3.4. Anh Trần Đình T, sinh năm 2002; số định danh nhân ************;
địa chỉ: Thôn H (địa chỉ Thôn A), xã R, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt đơn xin xét
xử vắng mặt).
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân xã R, tỉnh Ninh Bình; địa chỉ: xã R, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân xã R, tỉnh Ninh Bình: ông Trần
Văn Q - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã R người đại diện theo ủy quyền (văn
bản ủy quyền ngày 22/12/2025). (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
5. Người kháng cáo: nguyên đơn, bà Trn Th S.
NI DUNG V ÁN:
Trong đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn
Trần Thị S trình bày:
Năm 1994, vợ chồng bà Trần Thị S ông Đỗ Quốc P đi vùng kinh tế mới,
đã được nông trường Rạng Đông cấp đất ở, làm nhà để sản xuất nông nghiệp. Vợ
3
chồng bà S đã được giao đất theo biên bản giao đất lập ngày 19/8/1994, vị trí thuộc
khu I thị trấn R, phía Đông giáp ruộng lúa, phía Nam giáp ông B1, phía Tây giáp
sông Đ, phía Bắc giáp nhà ông C; kích thước Đ - Tây 42 mét, B - Nam 17 mét, diện
tích 714m
2
. Sau khi được giao đất, gia đình S đã làm nhà. Tuy nhiên, Giấy chứng
nhận quyền đất cấp cho gia đình ngày 18/9/2017, theo đồ cạnh phía Tây dài
16,61m (thiếu 0,39 m); cạnh phía Đông dài 16,74 m (thiếu 0,26 m), việc đất nhà bà
S bị thiếu là do vợ chồng ông Trần Văn C và bà Trần Thị N lấn chiếm.
Gia đình bà S đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết
tắt GCNQSDĐ) diện tích 200m
2
đất ở, còn lại 514m
2
đất hiện nay S đang s
dụng khi nào Nhà nước lấy ra thì bà S sẽ đồng ý trả.
Toàn bộ diện tích đất tranh chấp tài sản của ông Đỗ Quốc P, không
liên quan đến các con và liên quan đến ai khác.
Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân khu vực 11 - Ninh Bình xác định
lại mốc ranh giới đất của gia đình bà S với đất của bà N: Phía tây thiếu 0,39 m, phía
đông thiếu 0,26 m.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Trn Th N những người quyn
li liên quan v phía b đơn trình bày:
Gia đình bà N được Nông trường R giao đất khi đi vùng kinh tế mới. Năm 2015,
Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt UBND) thị trấn R đã cử cán bộ đi đo thực tế
từng thửa đất để cấp GCNQSDĐ cho những hộ dân đi kinh tế mới. Trong thời gian
đi đo đã được đoàn đo đạc của tỉnh, cùng n bộ địa chính của UBND thị trấn R
thông báo rộng rãi tới các hộ dân phải có mặt nhà để chỉ mô mốc, giáp ranh giữa
các nhà khi đoàn đo đạc tới. Gia đình bà N và gia đình bà S, ông P đã cùng nhận
mốc và đã thống nhất giáp ranh để đoàn đo đạc làm việc không tranh chấp
giữa hai gia đình. Trên cơ sở đo đạc đó gia đình bà N đã được UBND huyện N cấp
GCNQSDĐ với diện tích đất 200m
2
ngày 06/10/2027, kích thước các cạnh theo
như sơ đồ trong GCNQSDĐ (số vào sổ GCN: CH00290/3399/QĐ-UBND) theo như
bản phô tô bà N đã nộp cho Toà án). Gia đình bà N được Nhà nước giao đất như thế
nào thì gia đình N sử dụng như vậy. Gia đình N không lấn chiếm đất của
nhà bà S. Bà N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban
nhân dân xã R, tỉnh Ninh Bình trình bày:
Đối với thửa đất của gia đình ông Đỗ Quốc P - bà Trần Thị S:
Nguồn gốc thửa đất: ông ĐQuốc P - Trần Thị S sử dụng thửa đất số 100
tờ bản đồ số 13 được Nông trường R giao đất cho ông Đỗ Quốc P ngày 19/8/1994
4
theo “Biên bản giao đất cho nhân dân đi vùng kinh tế mới tại Nông trường R”, diện
tích thửa đất là 714m
2
, trong đó đất ở chờ hợp pháp hoá là 200m
2
.
Tại bản đồ Thị trấn Rạng Đông cũ năm 2005, tờ bản đồ số 13, thửa đất số 100,
diện tích thửa đất 790,6m
2
trong đó đất ONT 200m
2
, đất lâu năm khác
282,1m
2
, đất thủy sản ngọt là 308,5m
2
.
Tại danh sách bàn giao theo Quyết định số 98/2008 của UBND tỉnh N, diện
tích bàn giao từ Nông trường R sang Thị trấn R quản tại thửa đất số 100, tờ bản
đồ số 13, diện tích bàn giao đối với đất lâu năm khác là 282,1m
2
, thủy sản ngọt
308,5m
2
.
Năm 2017, thửa đất của ông Đỗ Quốc P và bà Trần Thị S được UBND huyện
N cấp GCNQSDĐ ngày 18/7/2017. Thửa đất số 100, tờ bản đồ số 13, diện tích được
GCNQSDĐ 200m
2
. Ngoài ra thửa đất 460,4m
2
(UB-CLN) không được cấp
GCNQSDĐ
- Hồ sơ cấp GCNQSDĐ của các hộ theo phương án 541:
Căn cứ hướng dẫn 42/STNMT-TTr ngày 09/01/2013 của Sở Tài Nguyên môi
trường tỉnh N về việc lập, thẩm định, phê duyệt thực hiện phương án xử đối
với những trường hợp sử dụng đất không hợp pháp trên địa bàn tỉnh Nam Định, căn
cứ quy định pháp luật về đất đai, căn cứ quy trình xét hồ sơ, thẩm định hồ sơ và lập
phương án cấp GCNQSDĐ.
Tại Quyết định số 2959/QĐ-UBND của UBND huyện N ngày 25/6/2014:
“Quyết định về việc pduyệt phương án xử đối với 541 hộ sử dụng đất không
hợp pháp tại Thị trấn R’’; thửa đất ông P - bà S sử dụng (mang tên chồng là ông Đỗ
Quốc P) thửa đất số 100 tờ bản đồ số 13 diện tích hiện trạng sử dụng 660,4m
2
(trong đó: diện tích hợp pháp hóa về đất là 200m
2
, còn lại 460,2m
2
không được cấp
GCNQSDĐ và được ghi là đất UB-CLN).
Ông Đỗ Quốc P - Trần Thị S đang sử dụng thửa đất số 100 tờ bản đồ số
13 (nay tờ bản đồ số 37) thuộc Thôn A, R. Diện tích thửa đất sử dụng
660,4m
2
; diện tích được cấp GCNQSDĐ là 200m
2
(trong đó đất ở 200m
2
). Thửa
đất đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ Sery số CH 116138, số vào sổ cấp
GCNQSDĐ CH 00093/2180/QĐ-UBND cấp ngày 15/7/2017.
Đối với thửa đất của gia đình ông Trần Văn CTrần Thị N
Về nguồn gốc sử dụng đất: ông Trần Văn CTrần Thị N sử dụng thửa đất số
68, tbản đồ số 13. Nguồn gốc được Nông trường Rạng Đ giao đất cho dân đi vùng
kinh tế mới ngày 19/8/1994, diện tích thửa đất 714m
2
, trong đó đất chờ hợp pháp
hóa quyền sử dng là 200m
2
.
5
Tại tờ bản đồ số 13, thửa đất số 68, bản đồ Thị trấn Rạng Đông năm 2005,
diện tích thửa đất 772,1m
2
trong đó đất ONT 200m
2
, đất lâu năm khác
259,2m
2
, đất thủy sản ngọt là 312,9m
2
.
Tại danh sách bàn giao theo Quyết định số 98/2008 của UBND tỉnh N, diện
tích bàn giao từ Nông trường R sang Thị trấn R quản tại thửa đất số 68, tờ bản đ
số 13, diện tích bàn giao đối với đất lâu năm khác 259,2m
2
, thủy sản ngọt
312,9m
2
.
Năm 2017, thửa đất của ông Trần Văn C và bà Trần Thị N được UBND huyện
N cấp GCNQSDĐ ngày 06/10/2017. Thửa đất s68, tbản đồ số 13, diện tích được
cấp GCNQSDĐ là 200m
2
. Ngoài ra thửa đất 491,6m
2
(UB-CLL) không được cấp
GCNQSDĐ.
- Hồ sơ cấp GCNQSDĐ của các hộ theo phương án 541:
Căn cứ hướng dẫn 42/STNMT-TTr ngày 09/01/2013 của Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh N về việc lập, thẩm định, phê duyệt thực hiện phương án xử đối
với những trường hợp sử dụng đất không hợp pháp trên địa bàn tỉnh Nam Định, căn
cứ quy định pháp luật về đất đai, căn cứ quy trình xét hồ sơ, thẩm định hồ sơ và lập
phương án cấp GCNQSDĐ.
Tại Quyết định số 2959/QĐ-UBND của UBND huyện N ngày 25/6/2014
“Quyết định về việc pduyệt phương án xử đối với 541 hộ sử dụng đất không
hợp pháp tại thị trấn R’’, thửa đất ông C, N sử dụng thửa đất số 68 tờ bản đồ
số 13 diện tích hiện trạng sử dụng là 691,6m
2
(trong đó: diện tích hợp pháp hóa
về đất 200m
2
, còn lại 491,6m
2
không được cấp GCNQSDĐ được ghi đất
UB-CLN).
Ông Trần Văn C và bà Trần Thị N đang sử dụng là thửa đất số 68 tờ bản đồ số
13 (nay tờ bản đồ số 37) thuộc Thôn A, R. Diện ch thửa đất sử dụng
691,6m
2
; diện tích được cấp GCNQSDĐ là 200m
2
(trong đó đất ở 200m
2
). Thửa
đất đã được UBND huyện N cấp GCN QSD đất Sery số CH 116985, số vào sổ cấp
GCN QSD đất CH 00290/3399/QĐ-UBND cấp ngày 06/10/2017.
* Quan điểm của UBND xã R:
- Trước khi được cấp GCNQSDĐ hộ gia đình cần các hồ thủ tục liên quan
đến thửa đất kèm theo, trong đó đơn đăng cấp GCNQSDĐ (có thể hiện tên
chủ sử dụng, tờ bản đồ, thửa đất sử dụng, diện tích sử dụng các loại đất, nguồn gốc
sử dụng đất….), các tờ khai thuế (có thể hiện nghĩa tài chính đối với Nhà nước của
thửa đất) và kết quả trích đo thửa đất (có thể hiện sơ đồ thửa đất, diện tích hiện trạng
sử dụng, cạnh thước thửa đất đang sử dụng trong sơ đồ..). Kết quả trích đo thửa đất
6
là cơ sở rõ ràng về diện tích, cạnh thước để cấp GCNQSDĐ hiện đang sử dụng của
hộ gia đình.
- Phương án xử lý đối với 541 hộ sử dụng đất đã được UBND thị trấn R thông
báo trên hệ thống truyền thanh và công khai tại các nhà văn hóa T1. Trong thời gian
công khai các h gia đình trên không có ý kiến thắc mắc gì về diện tích, cạnh thước
đối với thửa đất hộ gia đình đang sử dụng ý kiến với thửa đất của các hgia
đình khác đang sử dụng.
- Diện tích cấp GCNQSDĐ của hộ ông Đỗ Quốc P và bà Trần Thị S là 200m
2
đất ở, diện tích còn lại UB-CLN do UBND quản lý. Hiện việc sử dụng đất
200m
2
đất ở ông P - bà S không có ý kiến tranh chấp đối với phần đất này. Đối với
phần đất UB-CLN do UB xã quản lý không có tranh chấp gì với các hộ sử dụng liền
kề. Đề nghị ông P - S tiếp tục sdụng đất như GCNQSDĐ đã được UBND huyện
cấp cho ông bà đối với thửa đất 100 tờ bản đồ số 13 (này là tờ bản đồ số 37).
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định:
Thửa đất số 100, tờ bản đồ số 13 (nay là tờ bản đs37) ở Thôn A, xã R: phía
Đông giáp mương, phía Tây giáp đường đê Tả đáy, phía Nam giáp thửa đất số 101
(nhà ông Đinh Văn B1), phía Bắc giáp nhà Trần Thị N. Tài sản trên phần đất
tranh chấp gồm:
+ Tường bao thổ, xây năm 2016, diện tích 14,5m x 1,4m
+ Tường nhà (dại lợp tôn) xây năm 2016, chiều dài 2,3m x 3,5m
+ Bể nước dung tích đến 10m
3
, xây gạch tường 110, không có nắp bê tông cốt
thép, KT 2,9m x 2m x 0,8m
+ Nhà tắm xây dựng năm 2017, chiều dài 2,9m x 2,5m x 2m.
- Thửa đất số 68, tờ bản đồ số 13 (nay là tờ bản đồ số 37) Thôn A, xã R: phía
Đông giápơng nước, phía Tây giáp đường đê Tả đáy, phía Nam giáp thửa đất số
100 (nhà ông Phòng bà S), phía Bắc giáp thửa đất số 67 (nhà ông H1).
Tài sản trên phần đất tranh chấp gồm:
+ Tường bao quanh thổ xây năm 2023, gồm 02 đoạn chiều dài (1,8m x
1m)+(23,2m x 0,55m)
- Đất phía Bắc nhà bà Trần Thị N và đất phía Nam nhà ông Đỗ Quốc P không
có tranh chấp với các hộ liền kề, đã được xây tường bao xung quanh các thửa đất.
- Theo Sơ đồ đo đạc thửa đất: diện tích thửa đất số 68 là 678m
2
, diện tích thửa
đất số 100 là 659m
2
.
Tại Bản án sơ thẩm số 159/2026/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình đã quyết định:
Căn cứ Điều 175, Điều 176 của Bộ luật Dân sự; các Điều 147, Điều 157, Điều
158, Điều 165, Điều 166, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều
7
166, Điều 170, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị S ông Đỗ Quốc
P về việc yêu cầu ông Trần Văn C Trần Thị N trả lại phần đất đã lấn chiếm
(cạnh phía tây dài 0,39 m, cạnh phía đông 0,26 m).
2. Về án phí, chi phí tố tụng:
Về án phí: Ông Đỗ Quốc P và Trần Thị S phải nộp 300.000 đồng án phí dân
sự thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng S ông P đã nộp theo biên lai
thu tạm ứng án phí số 0002479 ngày 03/11/2025. Ông P, bà S đã nộp đủ án phí.
Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá tài sản nguyên đơn phải chịu
toàn bộ. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản tổng cộng hết
6.670.000 đồng. Bà S và ông P đã nộp đầy đủ số tiền là 6.670.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo cho các bên đương sự, quyền,
nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 15 tháng 5 năm 2026, nguyên đơn bà Trần Thị S có đơn kháng cáo toàn
bộ bản án dân sự thẩm s159/2026/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm công nhận
quyền sdụng đất của gia đình bà S theo đúng nguồn gốc đất được giao theo “Biên
bản giao đất cho nhân dân đi vùng kinh tế mới tại nông trường R” ngày 19/8/1994.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn, Trần Thị S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên nội
dung kháng cáo. Bà S đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết công nhận quyền sử
dụng đất của gia đình bà S theo đúng nguồn gốc đất được giao theo “Biên bản giao
đất cho nhân dân đi vùng kinh tế mới tại nông trường R” ngày 19/8/1994.
Bị đơn, bà Trần Thị N không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án thẩm số 159/2026/DS-ST ny
13 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu
ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án
ở cấp phúc thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của
pháp luật.
8
Về nội dung kháng cáo: Kiểm sát viên tham gia phiên toà đã phân tích các
tình tiết vụ án đnghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 308 Bluật Tố tụng
dân sự xử: giữ nguyên bản án sơ thẩm Bản án sơ thẩm số 159/2026/DS-ST ngày 13
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình. Án phí dân sự phúc
thẩm người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo củaTrần Thị S được làm trong thời hạn pháp luật quy
định đúng hình thức, nội dung theo quy định tại các Điều 272, 273, 276 của Bộ
luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2]. Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Trần Thị S kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử
phúc thẩm xem xét lại bản án thẩm theo nội dung đơn kháng cáo của người kháng
cáo.
[2]. Về nội dung kháng cáo:
[2.1] Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã xác định:
Đối với thửa đất số 100 tờ bản đồ số 13 (nay là tờ bản đồ số 37) thuộc THÔN
A, xã R.
Nguồn gốc sử dụng theo “Biên bản giao đất cho nhân dân đi vùng kinh tế mới
tại Nông trường R” ngày 19/8/1994, ông Đỗ Quốc P được nhận diện tích đất để làm
nhà ở và sản xuất là 714m
2
. Trong đó đất ở chờ hợp pháp hoá là 200m
2
.
Tại bản đồ thị trấn R năm 2005, tờ bản đồ số 13, thửa đất số 100, diện tích
thửa đất 790,6m
2
trong đó đất ONT 200m
2
, đất lâu năm khác 282,1m
2
, đất
thủy sản ngọt là 308,5m
2
.
Tại danh sách bàn giao theo Quyết định số 98/2008 của UBND tỉnh N, diện
tích bàn giao từ Nông trường R sang thị trấn R quản lý tại thửa đất số 100, tờ bản đồ
số 13, diện tích bàn giao đối với đất lâu năm khác 282,1m
2
, thủy sản ngọt
308,5m
2
.
Tại Quyết định số 2959/QĐ-UBND của UBND huyện N ngày 25/6/2014 về
việc phê duyệt phương án xử lý đối với 541 hộ sử dụng đất không hợp pháp tại thị
trấn R thì thửa đất ông P - bà S sử dụng (mang tên chồng là ông Đỗ Quốc P) là thửa
đất số 100 tờ bản đồ số 13 diện tích hiện trạng sử dụng 660,4m
2
(trong đó: diện
tích hợp pháp hóa về đất là 200m
2
, còn lại 460,2m
2
không được cấp GCNQSDĐ và
được ghi là đất UB-CLN).
9
Năm 2017, thửa đất của ông Đỗ Quốc P và bà Trần Thị S được UBND huyện
N cấp GCNQSDĐ ngày 18/7/2017. Thửa đất số 100, tờ bản đồ số 13, diện tích được
GCNQSDĐ là 200m
2
.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thì gia đình ông Đỗ Quốc P - bà Trần
Thị S đang sdụng diện tích 659m
2
; thửa đất số 100 tờ bản đsố 13 (nay tờ
bản đồ số 37) thuộc Thôn A, xã R đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ Sery
số CH 116138, số vào sổ cấp GCNQSDĐ CH 00093/2180/QĐ-UBND cấp ngày
15/7/2017, diện tích được cấp GCNQSDĐ là 200m
2
đất ở nông thôn (ONT).
Đối với thửa đất số 68 tờ bản đồ số 13 (nay tờ bản đồ số 37) thuộc THÔN
A, xã R
Nguồn gốc sử dụng theo “Biên bản giao đất cho nhân dân đi vùng kinh tế mới
tại Nông trường R” ngày 19/8/1994, ông Trần Văn C được nhận diện ch đất đlàm
nhà ở và sản xuất là 714m
2
. Trong đó đất ở chờ hợp pháp hoá là 200m
2
.
Tại tờ bản đồ số 13, thửa đất số 68, bản đồ thị trấn R năm 2005, diện tích
thửa đất 772,1m
2
trong đó đất ONT 200m
2
, đất lâu năm khác 259,2m
2
, đất
thủy sản ngọt là 312,9m
2
.
Tại danh sách bàn giao theo Quyết định số 98/2008 của UBND tỉnh N, diện
tích bàn giao từ nông trường R sang thị trấn R quản lý tại thửa đất số 68, tờ bản đồ
số 13, diện tích bàn giao đối với đất lâu năm khác 259,2m
2
, thủy sản ngọt
312,9m
2
.
Tại Quyết định số 2959/QĐ-UBND của UBND huyện N ngày 25/6/2014:
“Quyết định về việc pduyệt phương án xử đối với 541 hộ sử dụng đất không
hợp pháp tại thị trấn R’’; thửa đất ông C, N sử dụng thửa đất số 68 tờ bản đồ
số 13 diện tích hiện trạng sử dụng là 691,6m
2
(trong đó: diện tích hợp pháp hóa
về đất 200m
2
, còn lại 491,6m
2
không được cấp GCNQSDĐ được ghi đất
UB-CLN).
Năm 2017, thửa đất của ông Trần Văn C và bà Trần Thị N được UBND huyện
N cấp GCNQSDĐ ngày 06/10/2017 diện tích là 200m
2
.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thì gia đình ông Trần Văn C
Trần Thị N đang sử dụng diện tích 678m
2
. Thửa đất số 68 tờ bản đồ số 13 (nay là tờ
bản đồ số 37) thuộc Thôn A, xã R đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ Sery số
CH 116985, số vào sổ cấp GCNQSDĐ CH 00290/3399/QĐ-UBND cấp ngày
06/10/2017 là 200m
2
đất ở.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24 tháng 12 năm 2025 (BL75) xác
định:
10
Diện tích đất tranh chấp là phần giáp danh giữa hai thửa đất số 100 và thửa đất
số 68 tờ bản đồ số 13 (nay là tờ bản đồ số 37) thuộc Thôn A, xã R hai gia đình trên
phần đất ghi đất UB-CLN, được Nông trường R bàn giao sang thị trấn R theo
Quyết định số 98/2008 của UBND tỉnh N, không trong phạm vi diện ch đất đã được
cấp GCNQSDĐ cho cả hai thửa đất số 100 và thửa đất số 68 tờ bản đồ số 13. Trên
phần đất này các bên đã xây dựng hàng rào ngăn cách.
[2.2] Bà S kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm công nhận quyền sử dụng
đất của gia đình S theo đúng nguồn gốc đất được giao theo “Biên bản giao đất
cho nhân dân đi vùng kinh tế mới tại nông trường R” ngày 19/8/1994, diện tích
714m
2
kích thước Đông Tây là 42 m, Bắc Nam là 17m.
Xét thấy, theo văn bản Kết quả trích đo thửa đất năm 2014 do Chi nhánh Văn
phòng Đ1 cung cấp trong hồ vụ án (Bút lục 62) ông Đỗ Quốc P người sử
dụng thửa đất số 100 đã ký xác nhận: diện tích 660,4m
2
, chiều phía Bắc dài 39,15m
(giới hạn bởi điểm 1-6 dài 34,15m; 6-5 dài 5,00m); chiều phía Nam dài 40,08m (giới
hạn bởi điểm 2-3 dài 35,08m; 3-4 dài 5,00m);chiều phía Đông dài 16,74m (giới hạn
bởi điểm 1-2) chiều phía Tây dài 16,61m (giới hạn bởi điểm 4-5). Đất hgia đình
ông P, bà S có diện tích 200m
2
(giới hạn bởi các A, B,C,D). Ranh giới diện tích đất
hộ gia đình ông P, bà S được cấp GCNQSDĐ được giới hạn bởi các A, B,C,D nằm
bên trong ranh giới thửa đất số 100 trên đồ trích đo thửa đất số 100 ông Đỗ
Quốc P đã xác nhận. Như vậy, gia đình ông P, S đã sử dụng đất ổn định từ
khi được giao đất đến năm 2014. Diện tích kích thước của thửa đất ông P, bà S
đã sdụng không đúng như “Biên bản giao đất cho nhân dân đi vùng kinh tế mới tại
Nông trường R” ngày 19/8/1994. Do đó, S kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc
thẩm công nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà S theo đúng nguồn gốc đất được
giao theo “Biên bản giao đất cho nhân dân đi vùng kinh tế mới tại nông trường R
ngày 19/8/1994, diện tích 714m
2
kích thước Đông Tây là 42 m, Bắc Nam 17m
là không có cơ sở.
[2.3] Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thì gia đình ông Đỗ Quốc P -
Trần Thị S đang sử dụng diện tích 659m
2
. Ranh giới tranh chấp với nhà ông C,
N được xác định thuộc diện tích do UBND N quản lý, được ghi đất UB-
CLN theo danh sách bàn giao kèm theo Quyết định số 98/2008 của UBND tỉnh N từ
Nông trường R sang thị trấn R quản lý của hai thửa đất số 100 và thửa đất số 68 tờ
bản đồ số 13 (nay là tờ bản đồ số 37) thuộc Thôn A, xã R. Diện tích đất tranh chấp
không thuộc diện tích được cấp GCNQSDĐ của hai thửa đất số 100 và thửa đất số
68. Mặt khác, các đương sự đều thừa nhận gia đình ông P, S gia đình ông C,
bà N sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp với các hộ liền kề. Vì vậy, bản án sơ
thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn giữ nguyên ranh giới
giữa hai thửa đất số 100 thửa đất s68 tờ bản đồ số 13 (nay tờ bản đồ số 37)
11
thuộc Thôn A, R theo hiện trạng sử dụng của hai thửa đất phù hợp ranh giới
được các bên thừa nhận trước khi xảy ra tranh chấp, đảm bảo đúng quy định tại Điều
175 Bộ luật Dân sự năm 2015 Điều 135 Luật Đất đai năm 2024 nên cần giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[2.4] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
Trần Thị S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản
1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị S. Giữ nguyên Bản
án sơ thẩm số 159/2026/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 11 - Ninh Bình.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Trần Thị S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001544 ngày 18 tháng 5 năm 2026 của Thi
hành án Dân sự tỉnh Ninh Bình.
3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- TAND khu vực 11 – Ninh Bình.
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- Phòng KTNV-THA;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, Toà Dân sự, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Huy Lưỡng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 111/2026/DS-PT Bản án số 111/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 111/2026/DS-PT Bản án số 111/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất