Bản án số 596/2026/DS-PT ngày 13/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 596/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 596/2026/DS-PT ngày 13/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 596/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Khoảng năm 1990, bà B cùng thầy G xuất gia, tu tập và canh tác đất tại khu vực phường X. Trong quá trình tu tập, bà B và thầy G cùng góp tiền mua hai phần đất gồm diện tích khoảng 3.500m² của bà V và 1.750m² của bà N1, nhưng do quan hệ thầy trò nên bà B đồng ý để thầy G đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Năm 2016, theo sự động viên của thầy G, bà B bán 1.500m² đất của mình tại Long An với giá 370.000.000 đồng và giao toàn bộ số tiền cho thầy G để đầu tư xây dựng nơi thờ tự, tu học.Sau khi thầy G chết ngày 24/02/2020, bà B tiếp tục sinh sống, tu tập và chăm sóc vườn cây trên hai phần đất. Khoảng 06 tháng sau, bà H1 là em gái của thầy G đến yêu cầu bà B rời khỏi tịnh thất. Sau đó, bà B phát hiện phần đất 3.500m² đã được chuyển quyền sử dụng đất cho bà H1, còn phần đất 1.750m² đã được chuyển quyền sử dụng đất cho ông Đ, mà bà không biết và không đồng ý.Do đó, bà B khởi kiện yêu cầu công nhận hai phần đất là tài sản chung giữa bà và thầy G, xác định bà được hưởng 50% giá trị tài sản; yêu cầu bà H1 và ông Đ thanh toán phần giá trị đất tương ứng, đồng thời yêu cầu thanh toán chi phí, công sức đầu tư, tôn tạo đất và số tiền 370.000.000 đồng đã giao cho thầy G.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 596/2026/DS-PT Bản án số 596/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 596/2026/DS-PT Bản án số 596/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 596/2026/DS-PT
Ngày: 13 8 -2026
V/v “Tranh chấp chia tài sản chung
quyền sử dụng đất và đòi công sức đóng
góp, đòi lại tài sản; Tranh chấp yêu cầu
tuyên bố văn bản phân chia di sản thừa kế
vô hiệu và tranh chấp thừa kế tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn An
Ông Trần Nam Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lâm Đông Đông - Thư ký viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10/8 ngày 13/8/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành
phố Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 292/2026/DS-PT
ngày 11/5/2026 vviệc:“Tranh chấp chia tài sản chung quyền sử dụng đất
đòi công sức đóng góp, đòi lại tài sản; Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản phân
chia di sản thừa kế vô hiệu và tranh chấp thừa kế tài sản”.
Do Bản án n sự thẩm số 33/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 567/2026/QĐ-PT ngày 13/7/2026 của
Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Phan Thị B, sinh năm 1961; Địa chỉ: Hẻm A, đường N, phường L,
Thành phố Đồng Nai – có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của Phan Thị B: Ông Đoàn P, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Số nhà B, tổ E, ấp P, xã T, Thành phố Đ có mặt.
2. Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Hẻm A, đường N,
phường L, Thành phố Đồng Nai – có mặt.
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp B, xã X, Thành phố Đồng
Nai có mặt.
2
2. Nguyễn Thị Diệu H1, sinh năm 1979. Địa chỉ: số I, khu phố N, phường
H, Thành phố Đồng Nai – có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của H1: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967. Địa
chỉ: Ấp B, xã X, Thành phố Đồng Nai có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị L, sinh năm 1939. Địa chỉ: Đường A, khu phố N, phường
H, Thành phố Đồng Nai – vắng mặt.
2. Nguyễn Thị N, sinh năm 1957. Địa chỉ: O.18, đường B, phường L,
Thành phố Đồng Nai – có mặt.
3. Nguyễn Thị Mỹ H2, sinh năm 1964. Địa chỉ: Hẻm A đường N, phường
L, Thành phố Đồng Nai - có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của L, H2: Ông Nguyễn Văn Đ. Địa chỉ: Ấp B,
xã X, Thành phố Đồng Nai – có mặt.
4. Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ F đường Đ, khu phố B,
phường L, Thành phố Đồng Nai – có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của L1: Thị Thảo T, sinh năm 1999.
Địa chỉ: tổ E, khu phố B, phường L, Thành phố Đồng Nai có mặt.
5. Văn phòng C4. Địa chỉ: Số D N, phường L, Thành phố Đồng Nai xin vắng
mặt.
- Người làm chứng:
1. Trương Mỹ N1, sinh năm 1959. Nơi trú: Khu phố B, phường L,
Thành phố Đồng Nai có mặt.
2. Trương Tuyết V, sinh năm 1961. Nơi trú: Khu phố B, phường L,
Thành phố Đồng Nai có mặt.
3. Ông Phạm Văn L2, sinh năm 1972. Nơi cư trú: A N, khu phố B, phường L,
Thành phố Đồng Nai vắng mặt.
4. Ông Nguyễn Quang D, sinh năm 1982. Nơi trú: Tổ H, khu phố B,
phường L, Thành phố Đồng Nai vắng mặt.
Do kháng cáo của Phan Thị B, Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn Đ,
Nguyễn Thị L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên
nguyên đơn bà Phan Thị B do ông Võ Đoàn P đại diện trình bày:
Vào năm 1990, bà Phan Thị B xuất gia cùng với bà Nguyễn Thị G (thường gọi
thầy G). Thầy G trụ trì Tịnh Thất Bạch Liên Đ1, với pháp danh là Thượng
Cường T1; Địa chỉ tịnh thất 09/11, Hẻm Đ, tC, khu phố N, phường L, tỉnh
Đồng Nai.
3
Thời gian đầu khi đến đây tu học, bà B thầy G canh tác khoảng 7000m² đất
thuộc một phần thửa số 237, tờ bản đồ số 12, tại phường X, thành phố L, tỉnh Đồng
Nai; nguồn gốc đất do bố mẹ thầy G cho, lúc này trên đất trồng cây chôm
chôm.
Đến năm 2000, Phan Thị B thầy Giàu đến gặp chị Trương Tuyết V,
(bà V diện tích đất giáp với thửa đất B thầy G đang canh tác) để hỏi
mua diện tích đất khoản 3.500m² loại đất trồng lúa, với giá 150.000.000 (một
trăm năm mươi triệu đồng), nay thuộc một phần thửa 237, tờ bản đồ số 12, tọa lạc
tại phường X, thành phố L (nay phường H, tỉnh Đồng Nai). V đã đồng ý bán
diện tích đất này cho bà B thầy G; do tại thời điểm này bà B và thầy G không đủ
tiền nên V đã cho thiếu trả dần; đến năm 2003 mới trả xong số tiền mua đất
trên cho V. Hiện tại, phần đất này bà B thầy G đã cải tạo thành đất trồng cây
lâu năm gồm bưởi, chôm chôm, măng cụt.
Đến năm 2003, bà Phan Thị B và thầy G lại tiếp tục mua thêm phần đất của
Trương Mỹ N1, với diện tích 1.750m² đất trồng lúa, (diện tích này giáp với đất của
B và thầy G đang canh tác) với giá là 75.000.000 (bảy mươi lăm triệu) đồng, nay
thuộc thửa 57, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X, thành phố L (nayphường H,
tỉnh Đồng Nai). Do tại thời điểm này B thầy G không đủ tiền nên N1 đã
cho thiếu và trả dần; đến năm 2005 mới trả xong số tiền mua đất trên cho bà Trương
Mỹ N1. Hiện tại, phần đất này B thầy G đã cải tạo thành đất trồng cây lâu
năm gồm bưởi, chôm chôm, măng cụt.
Mặc dù Phan Thị B thầy G cùng đứng ra mua và thanh toán tiền mua hai
phần đất trên nhưng tình thầy trò đồng tu và xem nhau như người thân trong
gia đình nên khi làm thủ tục đứng tên quyền sử dụng hai phần đất này, bà B đã đồng
ý để thầy G thay đứng tên (việc B đồng ý cho G đứng tên cũng không
văn bản ghi nhận). vậy, trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên
một mình thầy G.
Để có tiền đầu tư xây dựng nơi thờ tự và tu học. Theo sự động viên của thầy G,
Phan Thị B đã quyết định bán diện tích 1.500m² đất của nhân tại L,
huyện C, tỉnh Long An (đây là phần đất B được mẹ ruột cho năm 2000).
Tháng 10 năm 2016, bà B bán 1.500m² đất của bà tại L, huyện C, tỉnh Long
An cho Trần Thị Ngọc H3 với giá chuyển nhượng là 370.000.000 (Ba trăm bảy
mươi triệu) đồng. Khi giao dịch mua bán và nhận tiền đều sự chứng kiến của
thầy G thầy G đã vào Hợp đồng chuyển nhượng với vai trò người làm
chứng.
Sau khi nhận đủ tiền bán đất, B đã giao toàn bộ số tiền này cho thầy G (tuy
nhiên không lập văn bản giao nhận).
4
Ngày 24/02/2020, thầy G chết, Phan Thị B vẫn tiếp tục sinh sống tu tập tại
tịnh thất và chăm sóc vườn cây trồng tại hai thửa đất mà bà và thầy G cùng mua của
bà V và bà N1.
Sau khi thầy G chết khoảng 06 tháng, thì em gái của thầy G Nguyễn Thị
Diệu H1 đến đuổi bà B ra khỏi Tịnh thất mà không cho biết lý do. Bản thân bà B đã
xuất gia cùng thầy G tu tập lao động tại tịnh thất này đã hơn 30 năm; hàng ngày
làm lụng và đầu tư tôn tạo để các thửa đất này có được thành quả như ngày hôm
nay.
- Sau khi tìm hiểu thì bà Phan Thị B phát hiện:
+ Diện tích đất 3.500m², thửa đất số 237, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X
trước đây B đã hùn tiền 50% cùng thầy G mua của Trương Tuyết V đã
chuyển tên quyền sử dụng cho bà Nguyễn Thị Diệu H1.
+ Diện tích đất 1.750 m², thửa đất số 57, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X
trước đây B đã hùn tiền 50% cùng thầy G mua của Trương Mỹ N1 đã
chuyển tên quyền sử dụng cho ông Nguyễn Văn Đ.
Việc chuyển tên quyền sử dụng hai thửa đất nêu trên cho bà H1ông Đ B
hoàn toàn không biết, việc làm đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích
chính đáng của bà Phan Thị B.
Do vậy, Phan Thị B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đcụ thể
như sau:
1. Công nhận diện tích đất 3.500m² (nay là 3.108m
2
theo bản vẽ), thuộc một
phần thửa đất số 237, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X (nay phường H)
diện tích đất 1.750m², thửa đất số 57, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X (nay
phường H) tài sản chung của B thầy G trước đây; phần của nguyên đơn
50% giá trị diện tích hai thửa đất.
2. Buộc bà Nguyễn Thị Diệu H1 phải thanh toán cho bà B 50% giá trị diện tích
đất 3.108m
2
một phần thửa đất số 237, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X.
Theo Chứng thư thẩm định giá, phần diện tích đất và tài sản gắn liền trên đất đối với
phần này có giá trị 4.347.310.000 (Bốn tỷ ba trăm bốn ơi bảy triệu ba trăm mười
nghìn) đồng. Do đó, yêu cầu H1 thanh toán lại ½ g trị tương ứng số tiền
2.173.655.000 (hai tỷ một trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm m ơi lăm nghìn)
đồng.
3. Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán cho B 50% giá trị diện tích đất
1.750m², thửa đất số 57, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X. Theo Chứng thư
thẩm định giá, phần diện tích đất và tài sản gắn liền trên đất đối với phần này có giá
trị 2.287.304.000 (hai tỷ hai trăm tám mươi bảy triệu ba trăm lẻ bốn nghìn) đồng.
Do đó, buộc ông Đ thanh toán lại ½ giá trị tương ứng số tiền 1.143.652.000 (một tỷ,
một trăm bốn mươi ba triệu, sáu trăm năm mươi hai nghìn) đồng.
5
4. Buộc bà Nguyễn Thị Diệu H1 và ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán cho
B số tiền mà bà B đã đầu tư và công sức tôn tạo làm tăng giá trị đất tại một phần của
thửa đất số 237 thửa 57, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X 1.277.500.000
(một tỷ hai trăm bảy mươi bảy triệu năm trăm ngày) đồng.
5. Buộc bà Nguyễn Thị Diệu H1 và ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán cho bà
B số tiền mà đã đưa cho thầy G 370.000.000 (ba trăm bảy mươi triệu) đồng.
Đây là tiền do bà B bán đất ở Long An đưa thầy G đầuxây dựng nơi thờ tự và tu
học.
Đối với yêu cầu của đồng nguyên đơn, Ba C đồng ý cho chia thừa kế 50%
giá trị tài sản của G tại một phần của thửa 237 (diện tích 3.108m
2
) thửa 57 tờ
bản đồ số 12 phường X (nay là phường H). Các phần khác, bà B không có ý kiến gì,
đề nghị Toà án giải quyết theo quy định.
Theo đơn khởi kiện, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện lời khai trong quá
trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Thanh
H trình bày:
H cho biết, chị ruột của H Nguyễn Thị G, sinh năm 1962 (tên
thường gọi thầy G), chết ngày 24 tháng 02 năm 2020; bà G không có chồng con.
Nguyễn Thị G chết để lại khối tài sản sau:
1. Thửa đất số: 238, tờ bản đồ số 13, diện tích 8.444 m², tại ấp B, B,
thành phố L (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai.
2. Thửa đất số: 07, tờ bản đồ số 19, diện tích 8.565,1 m², tại ấp B, B,
thành phố L (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai.
3. Thửa đất số: 237, tờ bản đồ số: 12, diện tích 9.803,9 m², tại khu phố N,
phường X, thành phố L (nay phường H), tỉnh Đồng Nai. Trên đất 01 căn nhà
đúc bê tông có diện tích sàn là 323 m², gồm 01 trệt 01 lầu.
4. Thửa đất số 21, tờ bản đồ số 01 cũ (nay là thửa 57, tờ bản đồ số 12), có diện
tích 1.748m², tại khu phố N, phường X, thành phố L (nay phường H), tỉnh Đồng
Nai.
Bà G chết không để lại di chúc, do bà G không có chồng, con nên hàng thừa kế
thứ nhất của Nguyễn Thị G gồm 02 người ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm
1938 (cha ruột bà G) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1939 (mẹ ruột của bà G).
Như vậy, ông Nguyễn Văn Đ2 được nhận 50% di sản thừa kế của Nguyễn
Thị G và bà Nguyễn Thị L được nhận 50% di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị G.
Ngày 23 tháng 04 năm 2020, ông Nguyễn Văn Đ2 chết (ông Đ2 chết không để
lại di chúc), hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Đ2 gồm vợ và 06 người
con (do ông Nguyễn Văn T2 chết trước ông Đ2 và không vợ con nên không
người thừa kế thế vị), những người thừa kế của ông Đ2 gồm:
6
1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1939. Nơi cư trú: Đường A, khu phố N, phường
H, tỉnh Đồng Nai.
2. Nguyễn Thị N, sinh năm 1957. i cư trú: O.18 đường B, khu phố C,
phường X, thành phố L (nay là O.18 đường B, phường L), tỉnh Đồng Nai.
3. Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970. Nơi trú: Tổ F đường Đ, khu phố B,
phường L, tỉnh Đồng Nai.
4. Nguyễn Thị Mỹ H2, sinh năm 1964. Nơi trú: hẻm A đường N, khu
phố D, phường X, thành phố L (nay là hẻm A đường N, phường L), tỉnh Đồng Nai.
5. Nguyễn Thị Diệu H1, sinh năm 1979. Nơi trú: S I, khu phố N,
phường H, tỉnh Đồng Nai.
6. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967. Nơi đăng ký thường trú: Số F, khu phố
B, phường L), tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp B, xã X, tỉnh Đồng Nai.
7. Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1972. Nơi đăng ký thường trú: 635, khu
phố B, phường L, tỉnh Đồng Nai. Nơi đăng thường trú mới: Ấp B, X, tỉnh
Đồng Nai. Nơi cư trú: Hẻm A, đường N, phường L, tỉnh Đồng Nai.
Tuy nhiên, ngày 01 tháng 07 năm 2020, Nguyễn Thị Diệu H1 cùng với
Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị L1 Nguyễn Thị L đã đến
Văn phòng C4 lập Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của Nguyễn Thị G
phần thừa kế của ông Đ2.
Theo đó, bà L, bà N, bà L1 và ông Đ đã đồng ý để lại cho bà Nguyễn Thị Diệu
H1 toàn bộ diện tích đất gồm:
1. Thửa đất số: 238, tờ bản đồ số 13, diện tích 8.444 m², tại ấp B, B,
thành phố L (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai.
2. Thửa đất số: 07, tờ bản đồ số 19, diện tích 8.565,1 m², tại ấp B, B,
thành phố L (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai.
3. Thửa đất số: 21, tờ bản đồ số: 01, diện tích 1.577 m², tại khu phố N,
phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
4. Thửa đất số: 237, tờ bản đồ số: 12, diện tích 9.803,9 m², tại khu phố N,
phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và 01 căn nhà đúc bê tông có diện tích sàn là
323 m², gồm 01 trệt 01 lầu trên đất.
Văn bản phân chia di sản thừa kế nêu trên chỉ có bà Nguyễn Thị L và 04 người
con của ông Đ2 Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị L1,
Nguyễn Thị Diệu H1 là không đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ, ngoài những
người trên, con của ông Đ2 còn có bà H và bà Nguyễn Thị Mỹ H2.
Theo bà H, do thửa số 21, tờ bản đồ số 01 bản đồ địa chính phường X, diện
tích 1.577m
2
đã được cấp đổi thành thửa số 57, tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính
phường X (nay phường H), diện tích 1.748m² vào năm 2015 nên khi đi làm
7
thủ tục sang tên cho bà H1, không cấp được giấy chứng nhận đất cho H1 đối với
thửa này.
Do đó, ngày 08 tháng 02 năm 2021, những người trên tiếp tục đến Văn phòng
C4, tỉnh Đồng Nai lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của Nguyễn
Thị G.
Theo đó, L, N, L1 H1 đã đồng ý để lại cho ông Nguyễn Văn Đ
thửa đất số: 57, tờ bản đồ số: 12, diện tích 1.748m², tại khu phố N, phường X,
thành phố L (nay là phường H), tỉnh Đồng Nai.
Văn bản phân chia di sản thừa kế nêu trên vẫn chỉ Nguyễn Thị L 04
người con của ông Đ2 là bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị L1,
Nguyễn Thị Diệu H1 không đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ, ngoài
những người trên, con của ông Đ2 còn có bà H và bà Nguyễn Thị Mỹ H2.
Như vậy, 02 văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 01/07/2020
ngày 08/02/2021 đã cố tình loại bỏ 02 người con của ông Nguyễn Văn Đ2
Nguyễn Thị Thanh H Nguyễn Thị Mỹ H2 ảnh hưởng đến quyền, lợi ích
hợp pháp của H Nguyễn Thị Mỹ H2. Dấu hiệu bỏ sót này là cố ý được thể
hiện trong sổ hộ khẩu gia đình mà ông Đ bà H1 cung cấp cho Văn phòng C4,
theo đó, sổ hộ khẩu thiếu trang 4-5 (trang này tên H2), H1 ông Đ cũng
không trung thực khi kê khai về nhân thân không tên H H2, việc này
buộc ông Đ và bà H1 phải biết vì khi ký ông Đ và bà H1 ghi “đã đọc và đồng ý”.
Do đó, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mình, bà Nguyễn Thị Thanh H
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày
01/7/2020 giữa Nguyễn Thị Diệu H1 Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị N,
ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị L1 đối với các diện tích đất tại thửa đất số 238,
tờ bản đồ số 13 thửa số 07, tờ bản đồ số 19 bản đđịa chính B, thành phố L
(nay là phường L), tỉnh Đồng Nai; thửa đất số 21, tờ bản đồ số 01, thửa đất số 237,
tờ bản đồ số 12 cùng bản đồ địa chính phường X, thành phố L (nay phường H),
tỉnh Đồng Nai được Văn phòng C4 công chứng ngày 01/7/2020 là vô hiệu.
2. Yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày
08/02/2021 giữa ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Diệu H1, bà Nguyễn Thị L,
Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị L1 đối với thửa đất số 57, tờ bản đồ số 12, bản
đồ địa chính phường X, thành phố L (nay phường H), tỉnh Đồng Nai được Văn
phòng C4 công chứng ngày 08/02/2021 là vô hiệu.
3. Yêu cầu chia tài sản thừa kế đối với 50% giá trị khối tài sản chung (phần tài
sản của ông Đ2) như sau:
- Diện tích 8.444m² tại thửa đất số 238, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã B,
thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Theo chứng thư thẩm định giá, diện tích đất này
8
giá trị 2.799.020.000 (Hai tỷ bảy trăm chín ơi chín triệu không trăm hai mươi
nghìn) đồng. Phần tài sản thừa kế ông Đ2 được nhận ½ giá trị tương đương số
tiền 1.399.510.000 (Một t ba trăm chín mươi chín triệu năm trăm mười nghìn)
đồng.
- Diện tích 8.565,1m² tại thửa đất số 07, tờ bản đồ s19 bản đồ địa chính
B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Theo chứng thư thẩm định giá, diện tích đất này có
giá trị 6.147.800.000 (Sáu tỷ một trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm nghìn) đồng.
Phần tài sản thừa kế ông Đ2 được nhận ½ giá trị tương đương số tiền
3.073.900.000 (Ba tỷ không trăm bảy mươi ba triệu chín trăm nghìn) đồng.
- Diện tích đất 9.803,9m
2
tại thửa đất số 237, tờ bản đồ số 12 bản đồ địa chính
phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nhà trên đất diện tích 323m
2
, gồm 1
trệt, 1 lầu. Theo chứng thư thẩm định giá, diện tích đất tài sản gắn liền với đất
này giá trị 15.501.574.400 (Mười lăm tỷ m trăm lẻ một triệu năm trăm bảy
mươi bốn nghìn bốn trăm) đồng. Phần tài sản thừa kế của ông Đ2 là ½ giá trị tương
đương số tiền 7.750.787.200 (bảy tỷ, bảy trăm năm mươi triệu, bảy trăm tám mươi
bảy nghìn, hai trăm) đồng.
Như vậy, phần giá trị tài sản đáng lẽ ông Đ2 được hưởng hiện nay bà H1 đang
quản lý, sử dụng giá trị 12.224.197.200 (Mười hai tỷ hai trăm hai mươi bốn
triệu một trăm chín mươi bảy nghìn hai trăm) đồng.
- Diện tích 1.748m², tại thửa đất s57, tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính
phường X, thành phố L (nay phường H), tỉnh Đồng Nai. Theo chứng thư thẩm
định giá, diện tích đất tài sản gắn liền với đất này giá trị 2.287.304.000 (hai
tỷ hai trăm tám mươi bảy triệu ba trăm lẻ bốn nghìn) đồng.
Như vậy, tổng cộng giá trị tài sản đáng lẽ ông Đ2 được nhận thừa kế từ G
14.511.501.200 (mười bốn tỷ năm trăm mười một triệu năm trăm lẻ một nghìn
hai trăm) đồng. Đây được xác định là tài sản thừa kế cần chia. H yêu cầu nhận
được kỷ phần của mình bằng tiền theo quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn bà H ý kiến: H thừa
nhận B đến tu cùng với chị gái của bà G từ năm 1990, do B sống cùng
gia đình nên được cả gia đình thừa nhận như người chị trong gia đình cho
nhập khẩu cùng với gia đình. Khi H còn nhỏ, H thấy B người làm rẫy
của gia đình từ chăm sóc vườn tược đến thu hoạch chở trái cây đi bán, B rất
khổ cực chỉ bà B cùng với G trong rẫy (thửa 237 tờ bản đồ số 12). Còn
ba, mẹ các anh, chị em của H tại phường X (cũ). Sau này H các anh
chị em trong gia đình lớn đều lập ra đình và ra ở riêng. Riêng bà H1 được chính bà
G nuôi cho ăn học và mở phòng khám Y cổ truyền tại Long An cho làm. Do đó, bà
H cho rằng B công sức đóng góp trong việc tôn tạo làm tăng giá trị các thửa
đất. vậy, đề nghị Toà án căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án
9
giải quyết yêu cầu của bà B theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của bị đơn:
Theo bà H, việc ông Đ và H1 cho rằng các diện tích đất trên đều do ông Đ
H1 bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng hoàn toàn không đúng sự thật G
người tu, không lòng tham nếu không phải tài sản của tự tạo ra thì G
không bao giờ đứng tên giùm ai. Ông Đ và bà H1 cũng không có tài liệu, chứng cứ
chứng minh việc ông Đ, bà H1 bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng những thửa đất này.
Đối với việc ông Đ cho rằng, bà H đã “Giấy cam kết” về việc thoả thuận
tài sản hộ gia đình, việc này thể hiện ý chí bà H đồng ý phân chia tài sản thừa kế
nên việc ký văn bản phân chia di sản thừa kế tại Văn phòng công chứng không ảnh
hưởng đến H. H cho biết, đối với “Giấy cam kết” về việc thoả thuận tài sản
hộ gia đình (không có công chứng, chứng thực) mà ông Đ giao nộp cho Toà án,
H được ông Đ yêu cầu ký sau khi đã ký công chứng Văn bản phân chia di sản thừa
kế ngày 01/7/2020 văn bản đó cũng chỉ ghi tạm giao thừa 57 tờ bản đồ số 12
cho H1 quản lý. Hơn nữa, sau khi H văn bản này, những người thừa kế
tiếp tục đến Văn phòng C4 Văn bản phân chia di sản thừa kế để lại thửa 57, tờ
bản đồ số 1, H hoàn toàn không biết. Mặt khác, khi ông Đ đưa giấy cho H
ký, lúc đó sức khoẻ, tinh thần của bà H không ổn định do H đi khám bệnh về
trời trưa nắng, ông Đ gọi bà H đến quán cà phê để ký, bà H chóng mặt, mắt mờ (do
bị mất máu) nên không đọc được, bà nghe ông Đ nói chỉ để gom tài sản của
G không giá trị pháp lý, chỉ với nhau trong gia đình đọc “loáng
thoáng” thấy ghi “tạm thời” nên H đồng ký. Do đó, bà H không đồng ý với ý
kiến của bị đơn cho rằng đã đồng ý chia thừa kế đối với khối tài sản chung
của bà G.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ Nguyễn Thị Diệu H1, do ông Đ đại din
thống nhất trình bày:
Bị đơn thừa nhận lời trình bày của H về quan hệ nhân thân đúng. Cha,
mẹ của ông/bà ông Nguyễn Văn Đ2 Nguyễn Thị L tất cả 07 người con
gồm: Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Văn T2 (ông T2 chết
trước ông Đ2), Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Thanh H Nguyễn Thị Diệu H1.
G chết ngày 24 tháng 02 năm 2020, đến ngày 23 tháng 04 năm 2020 ông Đ2 chết
(bà G ông Đ2 chết không để lại di chúc). Sau khi ông Đ2 chết, ông Đ cùng mẹ
L cùng L1, N H1 đi lập thủ tục phân chia di sản thừa kế, ông Đ
cho rằng khi khai có khai đầy đcác thành viên trong gia đình nhưng không
hiểu lý do tại sao lại thiếu Nguyễn Thị Mỹ H2Nguyễn Thị Thanh H.
Nay, bà H khởi kiện yêu cầu tuyên bố các văn bản phân chia di sản thừa kế và
yêu cầu chia tài sản thừa kế đối với các diện tích đất khi chết, G để lại, bị đơn
không đồng ý với các lý do sau:
10
Về nguồn gốc diện tích 8.444m² tại thửa số 238, tbản đồ số 13, B, thành
phố L (nay là phường L):
Thửa đất này trước đây thuộc quyền sử dụng riêng của Nguyễn Thị Thanh
H, sau đó, do H nhu cầu chuyển nhượng nên ông Đ và em gái là Nguyễn
Thị Diệu H1 đã thỏa thuận nhận chuyển nhượng với giá 600.000.000 đồng. Việc
giao tiền do H1 trực tiếp thực hiện với bà H tại n phòng C4 (có việc cấn trừ
công nợ giữa hai bên). Ông Đ có góp 400.000.000 đồng và giao lại cho bà H1, việc
giao nhận tiền không lập thành văn bản do là anh em ruột.
Do thời điểm đó ông Đ và bà H1 đi làm ăn xa, đồng thời ông Đ đang đứng tên
nhiều thửa đất khác nên đã nhờ chị ruột Nguyễn Thị G đứng tên giùm. Sau
khi bà G chết, các đồng thừa kế đã lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản tại Văn
phòng C4, thống nhất giao toàn bộ thửa đất này cho Nguyễn Thị Diệu H1 đứng
tên.
Đối với diện tích 8.565,1m² tại thửa số 07, tờ bản đồ số 19, xã B, thành phố L
(nay là phường L):
Thửa đất này cũng do ông Đ H1 nhận chuyển nhượng của ông P1
(không nhớ rõ họ tên) khoảng 5–6 năm trước, giá cụ thể không nhớ do thời gian đã
lâu, cũng tương tnhư thửa đất trên, ông Đ H1 nhờ Nguyễn Thị G đứng
tên. Sau khi G chết, các đồng thừa kế đã thỏa thuận để lại toàn bộ cho
Nguyễn Thị Diệu H1 đứng tên.
Đối với diện tích 1.748m² tại thửa số 57, tờ bản đồ số 12, phường X, thành
phố L (nay phường H): Ông Đ cho rằng ông Đ nhận chuyển nhượng khoảng
năm 2012 của một người tên N1 (không nhớ đầy đủ họ tên), giá chuyển nhượng
không nhớ. Khi nhận chuyển nhượng, ông Đ không đứng tên nhờ Nguyễn
Thị G đứng tên giùm. Sau khi G chết, các đồng thừa kế đã thỏa thuận đlại
thửa đất này cho ông Đ, hiện nay ông Đ là người đứng tên giấy chứng nhận và giao
cho bà Nguyễn Thị Diệu H1 quản lý, sử dụng.
Đối với diện tích 9.803,9m² tại thửa số 237, tờ bản đồ số 12, phường X, thành
phố L (nay là phường H):
Nguồn gốc ban đầu do cha mẹ của ông Đ khai pkhoảng hơn 6.000 m², sau
đó giao cho ông Đ và bà Nguyễn Thị G quản lý, sử dụng, hai người đưa lại cho
cha mẹ 1,5 cây vàng 9999 (việc giao nhận tiền này cũng không tài liệu, chứng
cứ chứng minh). Sau đó, ông Đ G nhận chuyển nhượng thêm đất liền kề của
N1 rồi nhập chung thành diện ch hiện nay. Việc khai đăng quyền sử
dụng đất do bà G thực hiện nên giấy chứng nhận đứng tên bà G.
Sau khi G chết, các đồng thừa kế đã thỏa thuận để lại toàn bộ diện tích đất
này cho Nguyễn Thị Diệu H1 đứng tên. Trên đất một căn nhà từ đường diện
tích 323 m² (1 trệt, 1 lầu) do ông Đ, G H1 cùng đóng góp tiền, tài sản
11
công sức xây dựng từ lâu, hiện không còn tài liệu chứng minh việc ông Đ, bà G
H1 xây dựng.
Ngoài ra, H đã giấy cam kết về việc thỏa thuận tài sản trong gia đình.
Do đó, nay xem lại Văn bản phân chia di sản thừa kế đã được công chứng chứng
thực mặc dù thiếu bà Nguyễn Thị Mỹ H2 Nguyễn Thị Thanh H nhưng do đây là
toàn bộ tài sản của ôngH1 bỏ tiền ra mua, chỉ nhờ G đứng tên nên không
đồng ý yêu cầu tuyên bố các văn bản phân chia di sản thừa kế vô hiệu. Không
đồng ý việc chia tài sản thừa kế theo yêu cầu của bà H.
Trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của H, nếu tài sản của
ông Đ hoặc H1 đang quản sử dụng giá trị cao hơn so với kỷ phần đáng l
được nhận thì ông Đ, H1 cũng không yêu cầu bên còn lại thanh toán lại giá tr
chênh lệch mà đồng ý để người còn lại quản lý, sử dụng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị B
Đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng tại thửa số 57 và diện tích đất
3.108,7m
2
một phần của thửa số 237, cùng tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính
phường X (nay là phường H) là tài sản chung của bà B G yêu cầu ông Đ,
H1 thanh toán lại 50% giá trị của 02 diện tích đất trên tương đương với từng
diện tích của từng người quản lý, sử dụng, ông Đ và bà H1 có ý kiến như sau:
Bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu nêu trên của B: Bởi lẽ, 02 thửa
đất này không liên quan đến Phan Thị B. Ba chỉ đến ở nhờ tại nhà từ đường
do Nguyễn Thị G tu tại gia, không quyền lợi đối với thửa đất. B cho
rằng Ba C1 với G nhận chuyển nhượng đất từ V bà N1 nhưng không
có tài liệu, chứng cứ chứng minh, chỉ căn cứ vào lời khai của người bán đất, không
có bất kì văn bản nào thể hiện B và bà G mua chung và thoả thuận để bà G đứng
tên.
Đối với yêu cầu thanh toán công sức đóng góp: Bị đơn không đồng ý thanh
toán số tiền 1.277.500.000 (Một tỷ hai trăm bảy mươi bảy triệu năm trăm ngàn)
đồng, B không đóng góp làm tăng giá trị đất ngược lại, trong thời gian
nhờ, bà B còn thường xuyên bị động kinh, gia đình phải chăm sóc bà B tốn rất nhiều
tiền của, thời gian kéo dài khoảng mười mấy năm (việc bà Ba B1 bệnh động kinh và
chi phí chữa bệnh, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh).
Đối với yêu cầu buộc ông Đ, H1 trả lại stiền 370.000.000 đồng, bị đơn
cũng không đồng ý. theo ông Đ, H1, hai ông không biết việc giao nhận
giữa B và G. Trường hợp B chứng minh được số tiền này dùng để xây
dựng nhà từ đường thì ông Đ, H1 sxem xét. Tuy nhiên, kể cả trường hợp B
chứng minh được việc G nhận tiền từ B thì cũng không chỉ ông Đ, H1
nghĩa vụ trả lại tiền cho B mà phải tất cả những người thuộc hàng thừa kế của
bà G, ông Đ2 phải có nghĩa vụ trả.
12
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị N,
Nguyễn Thị Mỹ H2 do ông Nguyễn Văn Đ đại diện trình bày:
L, N, H2 thống nhất với lời khai của bị đơn, không đồng ý toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của bà H và bà B. Đối với bà H2, bà không có tên trong văn bản
phân chia di sản thừa kế nhưng không ý kiến gì, vẫn đồng ý cho H1
ông Đ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như đã thoả thuận.
Trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu của H, chia tài sản thừa kế đối với
khối tài sản đáng lẽ ông Đ2 được nhận từ G, L, H2, N đồng ý cho
ông Đ, H1 đứng tên trên các diện tích đất nếu trên như đã thoả thuận tại n
phòng công chứng và giao lại kỷ phần của mình cho ông Đ và bà H1.
Đối với phần tài sản của L đáng lẽ L nhận thừa kế từ G (50% giá trị
tài sản) bà L không có yêu cầu gì.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Nguyễn ThL1 vắng mặt trong
suốt quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận ý kiến.
Quá trình chuẩn bị xét xử, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn
phòng C4 do ông Lương Văn C2 đại diện trình bày:
1. Đối với Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số: 3383, Quyển số:
03/2020/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C5) chứng nhận
ngày 01/7/2020.
Nguyên trước đây, các ông, Nguyễn Thị Diệu H1, Nguyễn Thị L, Nguyễn
Thị N, Nguyễn Văn Đ Nguyễn Thị L1 liên hVăn phòng C4 (nay là Văn
phòng C5) để yêu cầu công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
(của Bà Nguyễn Thị G, chết ngày 24/02/2020) đối với 04 (bốn) thửa đất sau đây:
+ Thửa đất thứ nhất: Diện tích 8.444,0 m
2
tại ấp B, B, thị xã L (nay
thành phố L), tỉnh Đồng Nai; Số thửa đất 238; tờ bản đồ 13.
+ Thửa đất thứ hai: Diện tích: 8.565,1m
2
tại ấp B, xã B, thị xã L (nay là thành
phố L), tỉnh Đồng Nai; Số thửa đất 7; Tờ bản đồ 19.
+ Thửa đất thứ ba: Diện tích: 1.577m
2
tại ấp N, xã X, thị xã L (nay là khu phố
N, phường X, thành phố L), tỉnh Đồng Nai; Số thửa đất 21; Số tờ bản đồ 01.
+ Thửa đất thứ tư: Diện tích: 9,803,9m
2
tại ấp N, X, thị L (nay khu
phố N, phường X, thành phố L), tỉnh Đồng Nai; Số thửa đất 237; Số tờ bản đồ 12.
Sau khi được Công chứng viên Lương Văn C2 hướng dẫn thủ tục, hồ công
chứng thì các bên đã cung cấp đầy đủ hồ công chứng cho Văn phòng đúng theo
quy định pháp luật bao gồm:
1/ Chứng minh nhân dân, hộ khẩu của các ông, Nguyễn Thị Diệu H1,
Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn Đ Nguyễn Thị L1 (01 bản chính
01 bản sao).
13
2/ Giấy khai sinh của các ông, Nguyễn Thị Diệu H1, Nguyễn Th N,
Nguyễn Thị G, Nguyễn Văn ĐNguyễn Thị L1 (01 bản chính và 01 bản sao);
3/ Giấy chứng tử của bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Văn Đ2 (01 bản chính
và 01 bản sao);
4/ Tờ tường trình về quan hệ nhân thân do Văn phòng C4 (nay Văn phòng
C5) chứng thực số 228, Quyền số: 01/2020-SCT/CK, ĐC ngày 28/05/2020 (01 bản
chính và 01 bản sao);
5/ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 514979, số vào scấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất H00909 do UBND thị L (nay thành phố L),
tỉnh Đồng Nai cấp ngày 04/12/2006; Đã đăng ký thay đổi ngày 14/01/2016 và ngày
15/03/2018 (01 bản chính và 01 bản sao);
6/ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số CI 484733, số vào sổ cấp GCN CS07472 do Sở Tài Nguyên
Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 03/08/2017 (01 bản chính và 01 bản sao);
7/ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số BB 905968, số vào sổ cấp GCN H01067 do UBND thị L
(nay thành phố L), tỉnh Đồng Nai cấp ngày 03/11/2010 (01 bản chính và 01 bản
sao);
8/ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số BV 090515, số vào sổ cấp GCN CS01832 do Sở Tài Nguyên và
Môi Trường tỉnh Đ cấp ngày 06/10/2014 (01 bản chính và 01 bản sao).
Sau đó Văn phòng C4 (nay Văn phòng C5) tiến hành niêm yết công khai
nội dung khai nhận thỏa thuận phân chia thừa kế đối với di sản nêu trên trong
thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày 03/6/2020 đến hết ngày 18/6/2020 tại
UBND phường X, thành Phố L, tỉnh Đồng Nai và từ ngày 03/6/2020 đến hết ngày
18/6/2020 tại UBND xã B, thành Phố L, tỉnh Đồng Nai theo đúng luật định.
Văn phòng đã soạn thảo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đúng
theo yêu cầu của các bên. Các bên đã đọc lại, cam kết không khai sót thừa kế
đồng ý với toàn bộ nội dung của văn bản. Sau đó Công chứng viên Lương Văn C2
đã xem xét giấy tờ nhân thân, năng lực hành vi dân sự của các bên tham gia, tính
pháp của văn bản đọc lại, giải thích nội dung văn bản cho các bên. Với sự
hướng dẫn của thư nghiệp vụ Văn phòng, các bên đã tự nguyện tên (điểm
chỉ) vào văn bản trước mặt Công chứng viên Lương Văn C2 (ngoài ra, Công chứng
viên còn yêu cầu các bên tự tay ghi dòng chữ: “Tôi đã đọc và đồng ý” vào văn bản
để tránh trường hợp các bên chưa đọc kỹ đã tên lăn tay vào văn bản, cũng
như một lần nữa nhắc nhỡ các bên đọc kỹ văn bản trước khi ký tên lăn tay).
Sau đó, Công chứng viên Lương Văn C2 đã chứng nhận Văn bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế nêu trên theo đúng quy định pháp luật hiện hành.
14
2. Đối với văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số 1063, Quyển số
01/2021/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C5) chứng nhận
ngày 08/02/2021:
Nguyên trước đây, các ông, Nguyễn Thị Diệu H1, Nguyễn Thị L, Nguyễn
Thị N, Nguyễn Văn Đ Nguyễn Thị L1 liên hVăn phòng C4 (nay là Văn
phòng C5) để yêu cầu công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
(của Nguyễn Thị G, chết ngày 24/02/2020) đối với thửa đất diện tích 1.748,0m
2
tại ấp N, X, thị L (nay khu phố N, Phường X, thành phố L), tỉnh Đồng
Nai; số thửa đất 57; tờ bản đồ 12.
Sau khi được Công chứng viên Lương Văn C2 hướng dẫn thủ tục, hồ công
chứng thì các bên đã cung cấp đầy đủ hồ công chứng cho Văn phòng đúng theo
quy định pháp luật bao gồm:
1/ Chứng minh nhân dân, Hộ khẩu của các ông, Nguyễn Thị Diệu H1,
Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn Đ Nguyễn Thị L1 (01 bản chính
01 bản sao);
2/ Giấy khai sinh của các ông, Nguyễn Thị Diệu H1, Nguyễn Th N,
Nguyễn Thị G, Nguyễn Văn ĐNguyễn Thị L1 (01 bản chính và 01 bản sao);
3/ Giấy chứng tử của bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Văn Đ2 (01 bản chính
và 01 bản sao);
4/ Tờ tường trình về quan hệ nhân thân do Văn phòng C4 (nay Văn phòng
C5) chứng thực số 27, Quyền số: 01/2021-SCT/CK, ĐC ngày 22/01/2021 (01 bản
chính và 01 bản sao).
5/ Chứng nhận quyền sử dụng đất nhà liền với đất số CB 707889, số vào số
cấp GCN CS03317 do Sở Tài Nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày
22/10/2015 (01 bản chính và 01 bản sao). Sau đó Văn phòng C4 (nay là Văn phòng
C5).
Văn phòng đã soạn thảo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đúng
theo sự thoả thuận của các bên tham gia giao dịch. Các bên đã đọc lại, cam kết
không khai sót thừa kế đồng ý với toàn bộ nội dung của văn bản. Sau đó công
chứng viên Lương Văn C2 đã xem xét giấy tờ nhân thân, năng lực hành vi dân s
của các bên tham gia, tính pháp của văn bản đọc lại, giải thích nội dung
văn bản cho các bên. Với sự hướng dẫn của thư ký nghiệp vụ Văn phòng, các bên
đã tự nguyện tên (điểm chỉ) vào văn bản trước mặt Công chứng viên Lương
Văn C2 (ngoài ra, Công chứng viên còn yêu cầu các bên tự tay ghi dòng chữ: “Tôi
đã đọc và đồng ý” vào văn bản để tránh trường hợp các bên chưa đọc kỹ mà đã ký
tên lăn tay vào văn bản, cũng như một lần nữa nhắc nhớ các bên đọc kỹ văn bản
trước khi ký tên lăn tay).
15
Sau đó, Công chứng viên Lương Văn C2 đã chứng nhận Văn bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế nêu trên theo đúng quy định pháp luật hiện hành.
Ý kiến của người làm chứng Trương Tuyết V:
Theo V, vào năm 2000, V chuyển nhượng cho Phan Thị B bà
Nguyễn Thị G một phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của V.
Phần đất chuyển nhượng diện tích khoảng 3.500m², đất trồng lúa, nay
thuộc một phần thửa 237, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X, thành phố L (nay
là phường H), tỉnh Đồng Nai. Nguồn gốc diện tích đất này là do cha mẹ bà V cho.
Trước khi chuyển nhượng, bà Phan Thị BNguyễn Thị Giàu C3 đến liên
hệ hỏi mua phần đất này giáp ranh với đất hai đang canh tác. Khi V
hỏi ai là người mua thì hai cô trả lời là cùng hùn tiền mua để làm tài sản chung.
Giá chuyển nhượng hai bên thỏa thuận 150.000.000 đồng (một trăm năm
mươi triệu đồng). Tuy nhiên, tại thời điểm đó hai chưa đủ tiền nên thỏa thuận
trả dần làm 03 lần trong thời hạn 03 năm, mỗi lần 50.000.000 đồng. Đến năm
2003, hai đã thanh toán đầy đủ số tiền mua đất. Tại các lần nhận tiền, V đều
nhận tiền mặt trực tiếp từ bà Phan Thị B và bà Nguyễn Thị G.
Tại thời điểm chuyển nhượng, đất là đất ruộng trồng lúa, do hiệu quả canh tác
không cao không đường đi nên V đồng ý bán. Sau khi nhận chuyển
nhượng, B G đã cải tạo thành đất trồng cây lâu năm nbưởi, chôm
chôm, măng cụt và sử dụng ổn định cho đến nay.
Ý kiến của người làm chứng Trương Mỹ N1:
Năm 2003, Phan Thị B Nguyễn Thị Giàu C3 đến liên hệ hỏi mua
phần đất của N1, diện tích 1.750 m², là đất trồng lúa, nằm liền kề với phần đất
hai đang canh tác. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng 75.000.000
đồng (bảy mươi lăm triệu đồng). Phần đất này hiện nay thuộc thửa số 57, tờ bản đồ
số 12, tọa lạc tại phường X, thành phố L (nay là phường H).
Khi bà N1 hỏi ai là người đứng ra mua đất thì cô B và cô G đều trả lời là cùng
góp tiền để mua, xác định là tài sản chung của cả hai.
Nguồn gốc phần đất nêu trên do cha mẹ N1 cho. Tại thời điểm chuyển
nhượng, đây đất ruộng trồng lúa. Do thu nhập từ việc trồng lúa không cao, đồng
thời thửa đất không có đường đi thuận tiện nên khi được hỏi mua, bà N1 đã đồng ý
chuyển nhượng. Tại thời điểm mua bán, cô B và cô G chưa đủ tiền nên bà N1 đồng
ý cho trả dần trong hai năm, chia làm hai lần: Lần thứ nhất, hai giao trước số
tiền 38.000.000 đồng (ba mươi tám triệu đồng) và lần thứ hai, đến năm 2005, hai
thanh toán số tiền còn lại là 37.000.000 đồng (ba mươi bảy triệu đồng), hoàn tất
việc trả tiền mua đất.
Các lần giao nhận tiền đều được thực hiện bằng tiền mặt N1 trực tiếp
nhận từ cô B và cô G.
16
Hiện nay, phần đất này đã được B G cải tạo, chuyển đổi sang trồng
cây lâu năm như bưởi, chôm chôm và măng cụt.
Ý kiến của người làm chứng ông Phạm Văn L3:
Ông L3 khẳng định bản thân dân địa phương từng gi chức vụ Tổ
trưởng tổ D, khu phố B, phường X từ năm 1995, đồng thời có rẫy sát bên cạnh nên
nắm rất biến động của khu đất này. Theo ông, diện tích đất tranh chấp ban đầu
khoảng 7.000m
2
thuộc shữu của cha mẹ Nguyễn Thị G là ông Đ2 L.
Đến năm 1996, G được cha mẹ cho một nửa và mua lại một nửa diện tích còn
lại. Tuy nhiên, thực tế từ năm 1990, Phan Thị B (L4) đã đến cùng G
người trực tiếp canh tác chính. Do G thầy tu nên mọi việc vườn tược từ
trồng trọt chôm chôm, bưởi, phê đến thu hoạch, vận chuyển đi bán đều do một
tay bà B tảo tần làm lụng, trong khi người thân bà G chỉ thỉnh thoảng ghé chơi chứ
không làm lụng trên đất.
Mối quan hệ gắn sự đóng góp của B còn thể hiện qua việc mở
rộng rẫy và xây dựng công trình. Cụ thể vào năm 2003, chính ông L3 là người làm
chứng và giấy tay khi G Ba cùng nhau nhận chuyển nhượng thêm đất
từ V N1; trên giấy tờ chỉ ghi tên G nhưng thực tế hai đã cùng
nhau thuê máy cuốc cải tạo đất ruộng thành đất rẫy để trồng bưởi và măng cụt. Đến
năm 2014, khi xây dựng nơi tu tập, bà B còn cho biết đã bán đất ở quê Long An để
góp tiền cùng G xây dựng. Sự hiện diện và công sức của B xuyên suốt từ
năm 1990 đến năm 2020 yếu tố then chốt giúp vườn cây luôn tươi tốt và ổn
định. Chỉ sau khi bà G mất khoảng 3 tháng vào năm 2020, khi bà B rời đi và những
người khác đến tiếp quản, khu vườn mới bắt đầu xuống cấp do thiếu bàn tay chăm
sóc trực tiếp như trước đây.
Ý kiến của người làm chứng, ông Nguyễn Quang D:
Ông D xác nhận bắt đầu sinh sống tại phường X từ năm 2007 với rẫy nchỉ
cách phần đất của G khoảng 100m. Nhờ mối quan hệ láng giềng thân thiết
thường xuyên qua lại thăm hỏi, ông đã trực tiếp chứng kiến quá trình sinh sống
canh tác của các đương sự trong suốt nhiều năm. Mặc không nắm nguồn gốc
khởi của khu đất, nhưng ông khẳng định kể từ thời điểm ông về đây sinh sống,
trên đất chỉ có bà G và bà Ba C1 cư trú.
Trong quá trình quan sát thực tế, ông D nhận thấy B nhân tố lao động
chủ chốt trên toàn bộ diện tích đất. Mọi công việc từ chăm bón, tưới tiêu cho đến
thu hoạch các loại cây trồng như chôm chôm, măng cụt, bưởi và cà phê đều do một
mình B đảm nhiệm. Do đặc thù người tu hành nên G rất ít khi tham gia
vào việc vườn tược, đồng thời ông cũng không thấy bất kỳ anh chị em hay người
thân nào khác của G đến hỗ trợ B trong việc canh tác. Thậm chí, khi xây
dựng ngôi nhà lớn để thờ cúng, ông vẫn thấy bà B trực tiếp tham gia vào các công
17
việc nặng nhọc như dùng xe rùa vận chuyển vật liệu xây dựng. Sự xuất hiện của
người thân G những người lạ mặt khác chỉ mới bắt đầu phát sinh từ sau khi
G qua đời, khác hẳn với thực trạng quản sử dụng đất ổn định của B
trong hơn một thập kỷ trước đó.
Tại Chứng thư thẩm định giá thể hiện:
- Quyền sử dụng đất 1 là diện tích đất 8.590,5m
2
tại thửa số 7, tờ bản đồ số 91
phường L (thuộc tờ bản đồ 19 Bàu Trâm cũ) giá trị: 6.147.800.000 (sau tỷ, một
trăm bốn mươi bảy triệu, tám trăm nghìn) đồng.
- Quyền sử dụng đất 2 diện tích đất 8.232,2m
2
tại thửa số 238 tờ bản đồ số
91 phường L (thuộc tờ bản đồ 13 B cũ) giá trị: 2.799.020.000 (Hai t, bảy
trăm chín mươi chín triệu, lẻ hai mươi nghìn) đồng.
- Quyền sử dụng đất 3, công trình và cây xanh (là thửa 57 và thửa 237) cụ thể:
+ Quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên thửa đất số 57 tờ bản đồ số
12 phường X (nay phường H) giá trị 2.287.304.000 (Hai tỷ, hai trăm m
mươi bảy triệu, ba trăm lẻ bốn nghìn) đồng.
+ Quyền sdụng đất, cây trồng và công trình tại thửa 237 tờ bản đồ số 12
phường X (nay phường H) giá trị 15.501.574.400 (Mười lăm tỷ, năm trăm lẻ
một triệu, năm trăm bảy mươi bốn nghìn, bốn tram) đồng. Trong đó, chia thành 02
phần
Phần thứ nhất: Phần 1 cây xanh diện tích diện tích 3.108,7m
2
(phần
B cho rằng Ba C1 hùn tiền với G nhận chuyển nhượng từ V) giá tr
4.347.310.000 (Bốn tỷ, ba trăm bốn mươi bảy triệu, ba trăm mười ngàn) đồng.
Phần thứ hai: Phần đất 2, công trình xây dựng cây xanh có giá trị
11.154.264.400 (Mười một tỷ, một trăm năm mươi bốn triệu, hai trăm sáu ơi
bốn nghìn, bốn tram) đồng.
Tổng giá trị tài sản 26.735.700.000 (Hai mươi sáu tỷ, bảy trăm ba mươi
lăm triệu, bảy trăm ngàn) đồng.
Giá trị tài sản B yêu cầu chia là:
+ Quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên thửa đất số 57 tờ bản đồ số
12 phường X (nay phường H) giá trị 2.287.304.000 (Hai tỷ, hai trăm m
mươi bảy triệu, ba trăm lẻ bốn nghìn) đồng. Diện tích đất này ông Đ đang đứng tên
và quản lý, sử dụng.
Phần thứ nhất: Phần 1 cây xanh diện tích diện tích 3.108,7m
2
(phần
B cho rằng bà Ba C1 hùn tiền với bà G nhận chuyển nhượng từ V) có giá trị:
4.347.310.000 (Bốn tỷ, ba trăm bốn mươi bảy triệu, ba trăm mười ngàn) đồng.
H1 đang đứng tên, quản lý, sử dụng.
giá trị là: 6.634.614.000 (Sáu tỷ, sáu trăm ba mươi bốn triệu, sáu trăm
mười bốn nghìn) đồng.
18
Tại Bản án dân sự thẩm s33/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 4 - Đồng Nai đã quyết định:
1. Đối với yêu cầu của bà Phan Thị B:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Thị B đối với bị đơn
ông Nguyễn Văn Đ Nguyễn Thị Diệu H1 về yêu cầu tính công sức đóng góp
tại thửa 07 thửa 238 cùng tờ bản đồ số 91 B (nay phường L), tỉnh Đồng
Nai.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xác định diện tích đất tại thửa
57 một phần thửa 237 cùng tờ bản đồ s12 X (nay phường H) tài sản
chung và yêu cầu chia tài sản chung.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Đòi lại tài sản” đối với số
tiền 370.000.000 (Ba trăm bảy mươi triệu) đồng.
3. Chấp nhận yêu cầu tính công sức đóng góp tại thửa đất số 57 và một phần
thửa đất số 237 cùng tờ bản đsố 12 X (nay phường H), tỉnh Đồng Nai. Theo
đó:
Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán lại cho Phan Thị B số tiền
228.730.400 (Hai trăm hai ơi tám triệu, bảy trăm ba mươi nghìn, bốn trăm)
đồng.
Buộc Nguyễn Thị Diệu H1 phải thanh toán lại cho Phan Thị B số tiền
434.731.000 (Bốn trăm ba mươi bốn triệu, bảy trăm ba mươi mốt nghìn) đồng.
2. Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh H:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Nguyễn Thị Thanh H về việc Yêu cầu
tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và yêu cầu chia tài sản thừa kế”.
Tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số: 3383, Quyển số:
03/2020/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C5) chứng nhận
ngày 01/7/2020 Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số: 1063, Quyên
số: 01/2021/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C4 (nay Văn phòng C5) chứng
nhận ngày 08/02/2021 là vô hiệu.
Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ2:
Về quyền quản lý tài sản:
Nguyễn Thị Diệu H1 được tiếp tục, quản sử dụng các diện tích đất
cùng toàn bộ tài sản trên đất đối với các quyền sử dụng đất sau:
- Diện tích 8.444m², tại thửa đất số 238, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính
B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s CX
961917 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 19/8/2020.
- Diện tích 8.565,1m², tại thửa đất số 07, tờ bản đô số 19 bản đồ địa chính
B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX
814816 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 26/8/2020.
19
- Diện tích đất 9.803,9m
2
tại thửa đất số 237, tờ bản đồ số 12 bản đồ địa
chính phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BV 090515 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày
06/10/2014, cập nhật chủ sử dụng mới ngày 20/7/2020.
Ông Nguyễn Văn Đ được tiếp tục, quản lý, sử dụng đối với diện tích đất
cùng toàn bộ tài sản trên đất đối với diện tích đất : Diện tích 1.748m², tại thửa đất
số 57, tờ bản đô số 12, bản đồ địa chính phường X, thành phố L (nay phường
H), tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 707889 do Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/10/2025, cập nhật chủ sử
dụng mới ngày 23/3/2021.
Về nghĩa vụ thanh toán :
Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán lại gtrị tài sản cho Nguyễn
Thị Thanh H stiền 147.040.971 (Một trăm bốn mươi bảy triệu không trăm bốn
mươi nghìn chín trăm bảy mươi mốt) đồng.
Buộc Nguyễn Thị Diệu H1 phải thanh toán lại cho Nguyễn Thị Thanh
H số tiền 1.715.261.785 (Một tbảy trăm ời lăm triệu hai trăm sáu mươi mốt
nghìn bảy trăm tám mươi lăm) đồng.
Tạm giao quyền quản lý phần di sản thừa kế của bà L1 cho ông Đ H1
quản lý. Tách và dành quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản thừa kế cho bà Nguyễn
Thị L1 khi có yêu cầu.
Tạm giao quyền quản lý, sử dụng phần tài sản chung của L (phần L
đáng lẽ được hưởng 50% giá trị tài sản từ bà G) cho ông Đ và bà H1 quản lý. Tách
dành quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung cho Nguyễn Thị L khi
yêu cầu.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án
quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
1. Theo đơn kháng cáo ngày 08/04/2026 của Phan Thị B kháng cáo yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:
- Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm 33/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai theo hướng chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của đồng nguyên đơn bà Phan Thị B. Cụ thể:
- Công nhận diện tích đất 3.500 m
2
(theo bản vẽ là 3.108 m
2
) thuộc một phần
thửa đất số 237, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X (nay là phường H) diện
tích đất 1.750 m
2
, thửa đất số 57, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X (nay
phường H) là tài sản chung của bà Phan Thị B và thầy G trước đây.
- Buộc Nguyễn Thị Diệu H1 phải thanh toán cho Phan Thị B 50% giá
trị diện tích đất 3.108 m
2
, một phần thửa đất số 237, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại
20
phường X (nay phường H). Giá trị theo phần trăm của chứng thư thẩm định giá
là 2.173.655.000 đồng.
- Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán cho Phan ThB 50% giá trị
diện tích đất 1.750 m2, thửa đất số 57, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường X (nay
là phường H). Giá trị theo phần trăm của chứng thư thẩm định giá là 1.143.652.000
đồng.
- Buộc Nguyễn Thị Diệu H1 ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toàn cho
Phan ThB số tiền đã đưa cho thầy G 370.000.000 (ba trăm bảy mươi
triệu đồng); đây là tiền do bà B bán đất ở Long An đưa thầy G đầu tư xây dựng nơi
thờ tự và tu học.
2. Theo đơn kháng cáo ngày 09/04/2026 của Nguyễn Thị N kháng o
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:
- Sửa một phần Bản án số 33/2026/DS-ST ngày 30/03/2026 của Tòa án nhân
dân Khu vực 4 - Đồng Nai theo hướng buộc ông Nguyễn Văn Đ nghĩa vụ thanh
toán lại cho bà số tiền 147.040.971 đồng (Bằng chữ: Một trăm bốn mươi bảy triệu,
bốn mươi ngàn chín trăm bảy mươi mốt đồng) và bà Nguyễn Thị Diệu H1 có nghĩa
vụ thanh toán cho N số tiền 1.715.261.783 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bảy trăm
mười lăm triệu hai trăm sáu mươi mốt ngàn bảy trăm tám mươi lăm đồng).
3. Theo đơn kháng cáo ngày 09/04/2026 ông Nguyễn Văn Đ Nguyễn
Thị Diệu H1 (ông Đ là người được uỷ quyền đứng tên trên đơn) kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:
Sửa một phần Bản án số 33/2026/DSST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai theo hướng không chấp nhận phần thanh toán
tiền công sức tôn tạo cho bà Nguyễn Thị B2 và không đồng ý với giá trị thẩm định
giá tại Chứng thư thẩm định giá trong hồ sơ vụ án.
4. Theo đơn kháng cáo ngày 15/04/2026 của Nguyễn Thị L1 kháng cáo
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:
Sửa một phần Bản án số 33/2026/DS-ST ngày 30/03/2026 của Tòa án nhân
dân Khu vực 4 - Đồng Nai theo hướng buộc ông Nguyễn Văn Đ nghĩa vụ thanh
toán cho số tiền 147.040.971 đồng (Bằng chữ: Một trăm bốn mươi bảy triệu
không trăm bốn ơi ngàn chín trăm bảy mươi mốt đồng) và bà Nguyễn Thị Diệu
H1 nghĩa vụ thanh toán cho L1 số tiền 1.715.261.785 đồng (Bằng chữ: Một
tỷ bảy trăm mười lăm triệu hai trăm sáu mươi mốt nghìn bảy trăm m mươi lăm
đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- B, ông Đ, bà H1, bà N và bà L1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Ông Đ và H1 rút một phần kháng cáo liên quan đến giá trị thẩm định giá
tại Chứng thư thẩm định giá trong hồ vụ án. Ông Đ, bà H1 đồng ý với nội dung
21
chứng thư thẩm định giá ghi nhận.
- Ông Đ H1 đồng ý thanh toán giá trị phần di sản thừa kế cho
Nguyễn Thị L1 với số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng thanh toán giá trị phần
di sản thừa kế cho bà Nguyễn Thị N với số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng.
- Bà N và bà L1 đồng ý nhận số tiền từ ông ĐH1 thanh toán và đề nghị
Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Ông Đ đồng ý hỗ trợ thêm cho Nguyễn Thị L1 stiền 50.000.000 (Năm
mươi triệu) đồng để bà L1 đóng án phí đối với giá trị phần di sản được nhận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ vụ án đến thời điểm xét xử phúc
thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của B
luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Với những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Chấp nhận
một phần kháng cáo của bà N, bà L1 và không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, bà
H1 và bà B2.
Sửa bản án thẩm số 33/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án nhân n
khu vực 4 - Đồng Nai theo hướng ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa ông Đ, bà
H1 với bà N và bà L1 tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Đồng Nai.
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Nguyễn Thị B2, Nguyễn Thị L1,
Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị Diệu H1 làm trong thời hạn
luật định, hình thức, nội dung phạm vi kháng o phù hợp với quy định tại
các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện
được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà L1, bà N Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Đ, H1 người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan L1, N tự thỏa thuận được với nhau về phần di sản thừa kế
Nguyễn Thị L1 và bà Nguyễn Thị N được hưởng, cụ thể như sau:
Bị đơn ông Đ, H1 đồng ý thanh toán giá trị phần di sản thừa kế cho
Nguyễn Thị L1 với số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng thanh toán giá trị phần
di sản thừa kế cho bà Nguyễn Thị N với số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng.
Ngoài ra, bị đơn ông Đ đồng ý hỗ trợ thêm cho Nguyễn Thị L1 số tiền
50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng để L1 thực hiện nghĩa vụ đóng án phí đối
22
với giá trị phần di sản được nhận.
Xét thấy, việc thỏa thuận nêu trên của các bên đương sự hoàn toàn tự
nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức hội.
Do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận nói trên của các đương sự. Sửa
một phần bản án Bản án dân sự sơ thẩm số số 33/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai theo hướng ghi nhận sự thoả thuận của các
đương sự tại phiên toà là phù hợp quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo củaB2, ông Đ, bà H1 Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Nguồn gốc tài sản tranh chấp: Nguyên đơn B2 cho rằng diện tích đất
tại thửa 57 tờ bản đồ số 12 phường X (nay là phường H), tỉnh Đồng Nai diện
tích đất 3.500m
2
sau khi đo vẽ lại B2 thống nhất diện tích 3.108,7m
2
là một
phần của thửa 237 tờ bản đồ số 12 phường X (nay là phường H), tỉnh Đồng Nai do
bà và bà G góp tiền mua chung và tăng gia, sản xuất, thu hoạch cây trái từ thửa đất
cha mẹ G cho G trước đó để tiền trả tiền nhận chuyển nhượng đất.
Tuy nhiên, ngoài lời khai của bà B2 và những người làm chứng thì bà B2 không có
tài liệu, chứng cứ xác thực nào khác về việc G góp tiền mua chung cũng
không có văn bản thoả thuận là tài sản chung của bà B2 và bà G. Bị đơn, ông Đ
H1 đều cho rằng, tất cả 04 diện tích đất G đlại đều nguồn gốc do
chính ông ĐH1 góp tiền mua nhưng cho bà H1 đứng tên, một phần của thửa
237 tờ bản đồ số 12 do cha, mẹ ông cho G. Tuy nhiên, cũng như bà B2, ông
Đ H1 không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh đây
tài sản của ông/bà, chỉ nhờ G đứng tên giùm. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án
đã thu thập toàn bộ hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cả 04 thửa đất
nêu trên, đều do G khai, nhận chuyển nhượng đứng tên G. Do đó, ý
kiến của B2, H1 ông Đ không sở chấp nhận. Hội đồng xét xử xác
định đây là tài sản riêng của G.
[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị B:
- Đối với yêu cầu tính công sức đóng góp tại thửa đất số 07 và thửa đất số 238
cùng tờ bản đồ số 91 xã B (nay phường L), tỉnh Đồng Nai. Tại đơn khởi kiện
ban đầu, Phan Thị B yêu cầu tính công sức đóng góp tại thửa 07 thửa 238.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, ngày 29/3/2023 Phan Thị B đơn rút
yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu này, Toà án cấp thẩm đình chỉ đối với yêu
cầu này là đúng quy định.
- Đối với yêu cầu xác định tài sản chung yêu cầu chia tài sản chung, buộc
ông Đ, bà H1 thanh toán lại 50% giá trị đất tương ứng: B cho rằng diện tích đất
tại thửa 57 tờ bản đồ số 12 phường X (nay là phường H) và diện tích đất 3.108,7m
2
một phần của thửa 237 tờ bản đồ số 12 phường X (nay là phường H), tỉnh Đồng
Nai tài sản chung của G cùng góp tiền mua chung. Mặc dù, lời khai
23
của những người làm chứng nhưng ngoài lời khai ra, không bất kỳ tài liệu,
chứng cứ nào khác chứng minh việc góp vốn cũng không chứng minh được
thoả thuận xác lập tài sản chung. Do đó, không căn cứ xác định đây tài sản
chung theo quy định tại Điều 207 Bộ luật dân sự. Vì vậy, yêu cầu của B về việc
xác định tài sản chung yêu cầu chia tài sản chung, buộc ông Đ, H1 thanh
toán lại 50% giá trị đất tại 02 thửa đất nói trên là không có căn cứ chấp nhận.
- Đối với yêu cầu đòi lại stiền 370.000.000 (Ba trăm bảy mươi triệu) đồng:
Bà B cho rằng số tiền nêu trên bà B được là do bà B bán đất của cha, mẹ cho tại
tỉnh Long An cung cấp cho Toà án được các tài liệu, chứng cứ bà B bán đất
thật. Tuy nhiên, các tài liệu trên cũng chỉ thể hiện, G người cùng B đi
thực hiện các giao dịch, không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh chính bà G đã
nhận số tiền B bán đất, cũng không văn bản nào ghi nhận B giao tiền cho
G để sử dụng vào việc xây dựng nhà từ đường. Ngoài ra, chính B cũng xác
nhận, nhà được xây dựng năm 2014 nhưng việc bán đất Long An được thực hiện
vào năm 2016. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của bà B.
- Đối với yêu cầu tính công sức đóng góp đối với diện tích đất tại thửa 57 tờ
bản đồ số 12 một phần thửa 238 tờ bản đồ số 12. Xét thấy: Những người làm
chứng và bà H đều xác định từ năm 1990 bà B đến tu tập cùng bà G, là người canh
tác trên diện tích đất cha mẹ G phần sau này G nhận chuyển nhượng
thêm. Mặt khác, người làm chứng V, N1 cũng xác định khi bán đất cho G
đất lúa (trũng, thấp) nhưng sau khi nhận chuyển nhượng B người trực tiếp đổ
thêm đất đá, bồi đắp đất cho cao ráo, bằng phẳng thành đất trồng cây lâu năm.
Điều đó, thể hiện bà B công sức đóng góp trong việc tôn tạo, làm tăng giá trị
đất. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu này của B, chia cho B được hưởng tiền
công sức đóng góp, làm tăng giá trị tài sản 10% x 6.634.614.000 đồng (phần
B yêu cầu) = 663.461.400 đồng. Do hiện nay ông Đ đang quản lý, sử dụng diện
tích đất tại thửa số 57 tờ bản đồ số 12 giá trị 2.287.304.000 đồng nên ông Đ
trách nhiệm thanh toán cho B 10% giá trị tại thửa 57 tờ bản đồ số 12
228.730.400 đồng (10% x 2.287.304.000 đồng); Phần diện tích đất H1 đang
quản lý, sử dụng cây trồng trên đất giá trị 4.347.310.000 đồng nên H1
nghĩa vụ thanh toán lại cho B số tiền 434.731.000 đồng (10% x 4.347.310.000
đồng).
Như đã phân tích trên, Toà án cấp thẩm chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của B là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
Toà án cấp sơ thẩm xác định các thửa đất tranh chấp là di sản của bà G để lại,
do bà G không có chồng, con nên bà L và ông Đ2 là hai người được hưởng thừa kế
của bà G. Do ông Đ2 đã chết (chết sau bà G) nên tài sản trên sẽ được chia đôi, bà L
hưởng 50%, ông Đ2 hưởng 50%, phần ông Đ2 sẽ được chia thừa kế theo pháp luật
24
phân chia cho 07 kỷ phần với số tiền như phân ch trong bản án là phù hợp
đúng quy định của pháp luật.
Nhằm đảm bảo tính ổn định xét thấy việc hủy Giấy chứng nhận không
cần thiết nên Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tiếp tục giao cho ông ĐH1 quản lý, sử
dụng. Do H1 ông Đ người nhận hiện vật là quyền sử dụng đất nên ông Đ
nghĩa vụ thanh toán lại giá trị bằng tiền tương ứng với kỷ phần mà H được
nhận 147.040.971(Một trăm bốn mươi bảy triệu, không trăm bốn mươi nghìn,
chín trăm bảy mươi mốt) đồng H1 phải nghĩa vụ thanh toán lại giá trị
bằng tiền cho H với số tiền 1.715.261.785 (Một tỷ, bảy trăm mười lăm triệu,
hai trăm sáu mươi mốt nghìn, bảy trăm tám mươi lăm) đồng là phù hợp.
Từ những phân tích trên, không sở để chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn Phan Thị B bị đơn ông Nguyễn Văn Đ. Do tại phiên toà L1,
N, ông Đ, H1 tự thoả thuận được với nhau nên cần chấp nhận một phần
kháng cáo của bà L1, bà N. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm liên quan đến nội
dung ghi nhận sự thoả thuận nói trên án phí dân sự liên quan đến phần di sản
các đương sự được nhận theo quy định của pháp luật.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyễn Thị L1 phải chịu án phí đối với giá trị phần di sản thừa kế được
nhận theo quy định của pháp luật.
Nguyễn Thị N phải chịu án phí đối với giá trị phần di sản thừa kế được
nhận theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bà N người cao tuổi có đơn xin
miễn án phí nên được miễn án phí.
[5] Án pdân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của Ba K được chấp nhận
nên Ba P2 chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, B người
cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.
Do kháng cáo của ông Đ, H1 không được chấp nhận nên ông Đ, H1
phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Do kháng cáo của L1, N được chấp nhận một phần nên không phải
chịu theo quy định.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tại
phiên tòa được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phn khác ca bn án thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiu
lc thi hành k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
25
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Phan Thị B, ông Nguyễn Văn Đ
và bà Nguyễn Thị Diệu H1.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị NNguyễn Thị L1.
Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 33/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai.
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự cụ thể như sau:
1. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Đ Nguyễn Thị Diệu H1 nghĩa vụ
liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị L1 số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng.
2. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Đ Nguyễn Thị Diệu H1 nghĩa vụ
liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị N số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng.
3. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị
L1 số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng về việc hỗ trợ nộp án phí đối với giá
trị phần di sản thừa kế được nhận.
Căn cứ Điều 26; Điều 35 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a khoản 1
Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 117, 122, 131, 609, 610. 611, 612, 613, 620, 649, 650, 651,
660, 662 Bộ luật Dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Đối với yêu cầu của bà Phan Thị B:
1.1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Thị B đối với bị
đơn ông Nguyễn Văn ĐNguyễn Thị Diệu H1 về yêu cầu tính công sức đóng
góp tại thửa 07 thửa 238 cùng tờ bản đồ số 91 tại B (nay phường L), tỉnh
Đồng Nai (nay là Thành phố Đồng Nai).
1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xác định diện tích đất tại
thửa 57 một phần thửa 237 cùng tờ bản đồ số 12 tại phường X (nay phường
H), tỉnh Đồng Nai (nay Thành phố Đồng Nai) tài sản chung yêu cầu chia
tài sản chung.
1.3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Đòi lại tài sản” đối với số
tiền 370.000.000 (ba trăm bảy mươi triệu) đồng.
1. 4. Chấp nhận yêu cầu tính công sức đóng góp tại thửa 57 một phần
thửa 237 cùng tbản đồ số 12 tại phường X (nay phường H), tỉnh Đồng Nai
(nay là Thành phố Đồng Nai). Theo đó:
26
- Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán lại cho Phan Thị B số tiền
228.730.400 (Hai trăm hai mươi tám triệu bảy trăm ba mươi nghìn bốn trăm) đồng.
- Buộc bà Nguyễn Thị Diệu H1 phải thanh toán lại cho Phan Thị B số tiền
434.731.000 (Bốn trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi mốt nghìn) đồng.
2. Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh H.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Nguyễn Thị Thanh H về việc Yêu cầu
tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và yêu cầu chia tài sản thừa kế”.
Tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số 3383, Quyển số:
03/2020/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C5) chứng nhận
ngày 01/7/2020 và Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số 1063, Quyển số:
01/2021/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C5) chứng nhận
ngày 08/02/2021 là vô hiệu.
Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ2:
Về quyền quản lý tài sản:
Nguyễn Thị Diệu H1 được tiếp tục quản sử dụng các diện tích đất
cùng toàn bộ tài sản trên đất đối với các quyền sử dụng đất sau:
- Diện tích 8.444m², tại thửa đất số 238, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính
B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX
961917 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai (nay Thành phố Đồng
Nai) cấp ngày 19/8/2020.
- Diện tích 8.565,1m², tại thửa đất số 07, tờ bản đô số 19 bản đồ địa chính
B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX
814816 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 26/8/2020.
- Diện tích đất 9.803,9m
2
tại thửa đất số 237, tờ bản đồ số 12 bản đồ địa
chính phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BV 090515 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày
06/10/2014, cập nhật chủ sử dụng mới ngày 20/7/2020.
Ông Nguyễn Văn Đ được tiếp tục, quản lý, sử dụng đối với diện tích đất
cùng toàn bộ tài sản trên đất đối với diện tích đất : Diện tích 1.748m², tại thửa đất
số 57, tờ bản đồ số 12, bản đồ địa chính phường X, thành phố L (nay phường
H), tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 707889 do Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/10/2025, cập nhật chủ sử
dụng mới ngày 23/3/2021.
Về nghĩa vụ thanh toán:
27
Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán lại gtrị tài sản cho Nguyễn
Thị Thanh H số tiền 147.040.971(Một trăm bốn mươi bảy triệu, không trăm bốn
mươi nghìn, chín trăm bảy mươi mốt) đồng.
Buộc Nguyễn Thị Diệu H1 phải thanh toán lại cho Nguyễn Thị Thanh
H số tiền 1.715.261.785 (Một tỷ, bảy trăm mười lăm triệu, hai trăm sáu mươi mốt
nghìn, bảy trăm tám mươi lăm) đồng.
Tạm giao quyền quản lý, sử dụng phần tài sản chung của L (phần L
đáng lẽ được hưởng 50% giá trị tài sản từ bà G) cho ông Đ và bà H1 quản lý. Tách
dành quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung cho Nguyễn Thị L khi
yêu cầu.
3. Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán lại cho Phan Thị B số tiền
4.313.438 (Bốn triệu, ba trăm mươi ba nghìn, bốn trăm ba mươi tám) đồng
thanh toán lại cho Nguyễn Thị Thanh H số tiền 1.903.789 (Một triệu, chín trăm
lẻ ba nghìn, bảy trăm tám mươi chín) đồng chi phí tố tụng.
Buộc Nguyễn Thị Diệu H1 phải thanh toán lại cho Nguyễn Thị Thanh
H số tiền 72.526.048 (Bảy mươi hai triệu, năm trăm hai mươi sáu nghìn, không
trăm bốn mươi tám) đồng tiền chi phí tố tụng.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án phí cho Phan Thị B Nguyễn Thị N theo quy định
tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 67.869.083 (Sáu mươi bảy triệu, tám
trăm sáu mươi chín nghìn, không trăm tám mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Được trừ vào số tiền 21.000.000 (Hai mươi mốt triệu) đồng tạm ứng án pH
đã nộp theo biên lai thu số 0005511 ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. H tiếp tục nộp số tiền 46.869.083
(Bốn mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn không trăm tám mươi ba) đồng.
Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 33.408.209 (Ba ơi ba triệu bốn trăm lẻ tám
nghìn hai trăm lẻ chín) đồng.
Nguyễn Thị Diệu H1 phải chịu 116.576.389 (Một trăm mười sáu triệu
năm trăm bảy mươi sáu nghìn ba trăm tám mươi chín) đồng.
Nguyễn Thị L1 phải chịu 42.000.000 (Bốn mươi hai triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền
nêu trên còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
28
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyễn Thị B2 và bà Nguyễn Thị N được miễn án phí theo quy định của
pháp luật.
Nguyễn Thị L1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại
cho L1 số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên
lai thu tiền số 0009802 ngày 28/4/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (nay
là Thành phố Đồng Nai).
Ông Nguyễn n Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào
số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tiền số
0009855 ngày 28/4/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (nay Thành phố
Đồng Nai).
Nguyễn Thị Diệu H1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ
vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tiền số
0009913 ngày 29/4/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (nay Thành phố
Đồng Nai).
6. Các phn khác ca bn án thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc thi hành k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân TP Đồng Nai;
- TAND KV 4 - Đồng Nai;
- VKSND KV 4 Đồng Nai;
- PTHADS KV 4 -Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Nga
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 596/2026/DS-PT Bản án số 596/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 596/2026/DS-PT Bản án số 596/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất