Bản án số 533/2026/DS-PT ngày 13/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 533/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 533/2026/DS-PT ngày 13/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 533/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tại đơn khởi kiện bổ sung bà L yêu cầu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 533/2026/DS-PT Bản án số 533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 533/2026/DS-PT Bản án số 533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 533/2026/DS-PT
Ngày 13 8 2026
V/v tranh chấp hợp đồng hợp tác
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Bà Tiêu Hồng Phượng
Ông Ninh Quang Thế
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà: Ông
Bùi Trung Biển Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 13 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 71/2026/TLPT-DS ngày 23
tháng 02 năm 2026 về việc: Tranh chấp hợp đồng hợp tác.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 55/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 233/2026/QĐ-PT ngày 20
tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1961
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 10/05/2021
Địa chỉ trú: Số B, đường H, khóm C, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
(Nay là phường B, tỉnh Cà Mau).
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của bà Trần Thị L: Ông Trần Thanh
N, sinh năm 1959; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trần Thị L: Ông Ngọc C,
là Luật sư của Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Đặng Hồng T, sinh năm 1963 (Có mặt).
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 22/4/2024;
Địa chỉ cư trú: Số A, khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (Nay là
phường B, tỉnh Cà Mau).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Đặng Hồng T: Trần Thị
Hằng N1, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C
(Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trương Văn P, sinh năm 1960 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
2
Địa chỉ trú: Số B, đường H, khóm C, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
(Nay là phường B, tỉnh Cà Mau).
2. Bà Trương Hoàng P1, sinh năm 1970 (Vắng mặt);
3. Anh Trương Trần Thiện T1, sinh ngày 07/5/2005 (Vắng mặt);
4. Ông Trương Hoàng T2, sinh năm 1931 (Vắng mặt);
5. Bà Lê Thị N2, sinh năm 1947 (Vắng mặt);
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh
Bạc Liêu;
Chỗ hiện nay: Khóm A, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (Nay
phường B, tỉnh Cà Mau).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Trương Hoàng T2: Trần
Thị Hằng N1, là Trợ giúp viên pháp của Trung tâm trợ giúp pháp nhà nước tỉnh
C (Có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Lê Thị N2: Nguyễn Quỳnh
H, Trợ giúp viên pháp của Trung tâm Trợ giúp pháp nhà nước tỉnh C (Có
mặt).
6. Bà Trương Thị Ngọc L1, sinh năm 1973 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Số E, khóm Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (Nay là
phường H, tỉnh Cà Mau).
7. Bà Trương Thị Hoàng Y, sinh năm 1969 (Có mặt);
8. Bà Trương Thị Nam P2, sinh năm 1977 (Vắng mặt);
9. Ông Trương Hoàng C1, sinh năm 1978 (Vắng mặt);
10. Trương Thị Hoàng O, sinh năm 1966 (Vắng mặt);
11. Bà Đặng Thị Xinh X, sinh năm 1993 (Vắng mặt);
12. Ông Đặng Hồng N3, sinh năm 1982 (Vắng mặt);
13. Bà Đặng Thị Hồng T3, sinh năm 1997 (Vắng mặt);
14. Anh Trương Hoàng Công P3, sinh năm 1999 (Vắng mặt);
15. Bà Trần Thị Diệu H1, sinh năm 1972 (Vắng mặt);
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh
Bạc Liêu;
Chỗ hiện nay: Khóm A, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (Nay
phường B, tỉnh Cà Mau).
- Người kháng cáo: Trần Thị L, nguyên đơn; ông Đặng Hồng T, bị đơn;
ông Trương Văn P, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo bà Trần Thị L trình bày:
Ngày 01/01/2021, vợ chồng L ông P hợp đồng hợp tác với ông Đặng
Hồng T. Theo đó, vchồng L ông T thống nhất hợp tác đnuôi tôm công nghệ
tại thửa đất diện tích 41.217,9m² tọa lạc tại V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
(phần đất này vợ chồng L thuê của Trương Hoàng P1 ngày 01/01/2020 với
3
thời hạn 10 năm). Vốn đầu dự kiến 6.000.000.000 đồng, trong đó L đã
đứng ra vay ngân hàng số tiền 3.000.000.000 đồng và thỏa thuận các bên cùng chịu
trách nhiệm về khoản vay tại ngân hàng, bao gồm cả gốc và các khoản lãi phát sinh.
Các khoản phát sinh trong quá trình đầu tư 02 bên thỏa thuận chia 50/50.
Sau khi hai bên hợp đồng hợp tác thì L đứng ra vay của ngân hàng số tiền
3.500.000.000 đồng để phục vụ cho việc đầu nuôi tôm. Đồng thời trong quá trình
hợp tác ông T đã ứng của L tổng cộng 22 lần với tổng số tiền 2.352.000.000 đồng.
Theo thỏa thuận của các bên thì bà L btiền đầu các công trình trên đất, chi phí
phát sinh và tiền lời từ việc nuôi tôm chia 50/50. Từ khi nuôi tôm đến nay toàn bộ
chi phí phát sinh đều cho vchồng L chi trả, ông T không bỏ ra bất kỳ khoản tiền
nào.
Do việc đầu tư làm ăn thất bại nên vợ chồng bà L khởi kiện yêu cầu: Chấm dứt hợp
đồng hợp tác giữa ông P ông T; yêu cầu ông T trả lại vợ chồng L quyền sử
dụng đất diện tích 41.217,9m² thuộc thửa đất s131 tờ bản đồ số 16-1, tọa lạc tại
V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (phần đất ngày vợ chồng L thuê của Trương
Hoàng P1); yêu cầu ông T trả cho vợ chồng L số tiền 600.000.000 đồng, chi
phí phát sinh mà vợ chồng bà L bỏ ra (đã trừ đi phần giá trị tài sản đã mua sắm lúc
trước).
Tại đơn khởi kiện bổ sung L yêu cầu: Buộc ông Đặng Hồng T vợ là Trương
Thị Hoàng Y là người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng có trách nhiệm thanh
toán lại cho bà L các khoản tiền đầu tư, các khoản tiền vay thế chấp tài sản tại Ngân
hàng Thương mại cổ phần B, tiền lãi vay đã thanh toán trả ngân hàng, các khoản vay
nợ bên ngoài để đầu tư vào việc hợp tác giữa ông P và ông T theo đồng ký kết ngày
01/01/2021. Cụ thể tổng các khoản gồm: Vay vốn ngân hàng trả nợ gốc và lãi, tổng
cộng: 4.079.864.400 đồng (trong đó: Gốc vay 3.500.000.000 đồng, lãi phát sinh
580.865.400 đồng); vay bên ngoài của bà Trần Thị Tuyết L2 phường A, thành phố
B số tiền 2.000.000.000 đồng lãi suất hàng tháng là 2,5% bằng số tiền 50.000.000
đồng/tháng; các khoản tiền đã đưa cho ông Đặng Hồng T tổng cộng 2.922.000.000
đồng (trong đó: Nhận chuyển khoản 550.000.000 đồng, nhận tiền mặt ký nhận số
2.372.000.000 đồng); tiền thanh toán thức ăn tôm cho đại T5 số tiền
1.506.576.000 đồng; các khoản chi khác như tiền thuốc thủy sản, tiền điện, thuê nhân
công, trả tiền thuê đất là 1.019.604.784 đồng. Tổng cộng chi phí là: 11.528.045.184
đồng.
Tất cả các khoản tiền nêu trên và các khoản tiền ông T mượn bà L, yêu cầu Tòa án
buộc ông Đặng Hồng T cùng vợ Trương Thị Hoàng Y phải trách nhiệm
thanh toán đủ số tiền mượn trả lại cho 50% số tiền theo hợp đồng đã kết
vào ngày 01/01/2020 giữa ông Trương Văn P và ông Đặng Hồng T.
Quá trình giải quyết vụ án L xác định không yêu cầu nhận diện tích 41.217,9m²
thuộc thửa đất số 131 tờ bản đồ số 16-1, tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
và các tài sản, đồng ý giao các tài sản trên đất cho ông Đặng Hồng T, yêu cầu ông T
hoàn trả cho L giá trị tài sản.
- Theo đơn yêu cầu phản tố của ông Đặng Hồng T trình bày:
4
Giữa ông T và ông P có thỏa thuận hợp tác để nuôi tôm công nghệ cao là đúng. Tuy
nhiên quá trình hợp tác làm ăn thì ông T cũng đầu rất nhiều tiền để mua sắm trang
thiết bị, thuốc nuôi tôm và chi trả tiền công lao động cho nhân công với tổng số tiền
3.464.657.000 đồng. Đồng thời, quá trình nuôi tôm đã thu hoạch tôm nhiều lần với
tổng số tiền 2.557.710.000 đồng, số tiền này do ông P, L quản lý. Nay ông T
đồng ý với yêu cầu chấm dứt hợp tác hợp tác kết ngày 01/01/2021. Đối với các
yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn thì ông T không đồng ý.
Đồng thời, ông T yêu cầu phản tố: Ông T yêu cầu L, ông P trả số tiền
1.244.657.000 đồng (là số tiền chênh lệch giữa khoản chi thực tế trong sản xuất
chứng từ 3.464.657.000 đồng với số tiền ông T thực nhận từ L, ông P
2.220.000.000 đồng); Yêu cầu L, ông P trả số tiền 1.278.855.000 đồng, là số tiền
thu được từ việc nuôi tôm.
Tại đơn yêu cầu phản tố bổ sung, ông T xác định bổ sung yêu cầu đối với số tiền
129.441.000 đồng mua vật hoạt động nuôi tôm (do lúc làm đơn phản tố ông T
cộng thiếu). Tổng cộng ba khoản tiền ông T yêu cầu 2.652.953.000 đồng; Yêu cầu
hủy hợp đồng thuê quyền sử dụng đất được ngày 01/01/2020 giữa ông Trương
Văn P và bà Trương Hoàng P1.
Ngoài ra, ông T còn yêu cầu ông P, bà L bồi thường số tiền 2.880.000.000 đồng là
tiền lợi nhuận trung bình bị mất do ông P, L cản trở không cho ông canh tác nhưng
ông T đặt ra yêu cầu phản tố sau khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
- Theo đơn bà Trương Hoàng P1 trình bày:
Ngày 25/5/2021, ông T kêu bà ra Ủy ban nhân dân V hợp đồng để ông T
hợp thức hóa xin làm đường dây điện, nhưng thực tế hợp đồng đó không phải là hợp
đồng xin nối đường dây điện là hợp đồng thuê đất nuôi trồng thủy sản. Nay
P1 u cầu hủy Hợp đồng giữa bà và ông T và không đồng ý bồi thường bất cứ thiệt
hại nào. Ngày 04/7/2025 bà P1 có đơn rút lại toàn bộ yêu cầu độc lập.
- Theo ông Trương Hoàng T2, Thị N2, ông Trương Hoàng C1 thống nhất trình
bày:
Nguồn gốc đất này là của vợ chồng ông T2, N2 cho con gái của là Trương Hoàng
P1 thay mặt hộ gia đình đứng tên dùm quyền sử dụng đất với diện tích đất
41.217,9m² thuộc thửa s131, tờ bản đồ số 16-1 loại đất nuôi trồng thủy sản, tọa lạc
tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu theo giấy chứng nhận QSDĐ số BB 934950
được Ủy ban nhân dân thị xã B cấp ngày 16/6/2010. Ông T2, bà N2 đồng ý tiếp tục
thực hiện hợp đồng với ông Đặng Hồng T theo hợp đồng thuê đất nuôi trồng thủy
sản giữa hộ Trương Hoàng P1 với ông Đặng Hồng T được ngày 25/5/2021.
Đồng thời, do đất này là của hộ gia đình nhưng P1 tự ý ký hợp đồng thuê đất ngày
01/01/2020 với ông Trương Văn P mà không thông qua các thành viên trong hộ gia
đình là không hợp pháp.
- Theo bà Trương Thị Hoàng Y, bà Trương Thị Nam P2 trình bày:
P2, bà Y thống nhất ý kiến trình bày của ông T, ông T2, bà N2, không có ý kiến
khác.
- Theo bà Trương Thị Ngọc L1 trình bày:
5
Thống nhất ý kiến trình bày của bà P1, không có ý kiến khác.
- Đối với Trương Thị Hoàng O, anh Trương Hoàng ng P3, Trần Thị Diệu
H1, anh Đặng Hồng N3, chị Đặng Thị Hồng T3, chị Đặng Thị Xinh X, anh Trương
Trần Thiện T1 vắng mặt nên Toà án cấp sơ thẩm không ghi nhận ý kiến được.
- Theo ông Triệu Thế A Chủ hộ kinh doanh Triệu Nghĩ trình bày:
Ông có bán và giao thức ăn nuôi tôm, thuốc cho ông P và bà L tại ấp B, xã V, thành
phố B. Sau khi thu hoạch tôm thì L có trtiền cho ông, ông biết ông T hợp tác
chung với bà L nhưng ông không có giao dịch trực tiếp với ông T. Tổng số tiền ông
P, L nợ 1.290.064.500 đồng, nhưng L đã trả được số tiền 1.147.064.500
đồng còn nợ lại 143.000.000 đồng. Nay ông không yêu cầu giải quyết trong vụ
án này tiền nợ mua thuốc và thức ăn tôm còn thiếu, yêu cầu Tòa án không đưa ông
tham gia tố tụng trong vụ án.
Tại bản án dân sự thẩm số: 55/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Đặng Hồng T.
Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng (thỏa thuận) hợp tác giữa ông Đặng Hồng T
với ông Trương Văn P và bà Trần Thị L.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà L. Buộc ông Đặng Hồng T trả
cho bà L ông P số tiền 1.169.844.365 đồng. Ông T được quyền shữu các tài sản
công trình nuôi tôm công nghệ cao gắn liền trên diện tích đất 41.217,9m² đất thuộc
thửa 131, tờ bản đồ số 16-1, tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã
H, tỉnh Cà Mau).
Không chấp nhận yêu cầu của bà L về việc yêu cầu ông T trả số tiền
4.594.178.227 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của ông T yêu cầu L và ông P trả số tiền
2.652.953.000 đồng.
Đình chỉ yêu cầu độc lập của Trương Hoàng P1 về việc chấm dứt hợp đồng
thuê đất được ký kết giữa Trương Hoàng P1 với ông Đặng Hồng T ngày
25/5/2021 tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã H, tỉnh
Cà Mau).
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố bổ sung của ông Đặng Hồng T.
Hủy hợp đồng thuê nhà đất được kết giữa Trương Hoàng P1 với ông
Trương Văn P ngày 01/01/2020.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo
của đương sự.
Ngày 25/9/2025, ông Đặng Hồng T có đơn kháng cáo, yêu cầu sửa một phần
bản án sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L; Chấp nhận
yêu cầu phản tố của ông Đặng Hồng T, buộc Trần Thị L ông Trương Văn P
trả cho ông T số tiền 2.652.953.000 đồng.
Ngày 26/9/2025, bà Trần Thị L và ông Trương Văn P có đơn kháng cáo, yêu
cầu sửa một phần bản án sơ thẩm: Chấp nhận giữa ông Trương Văn Pông Đặng
6
Hồng T ký kết hợp đồng hợp tác và có thoả thuận chia vốn đầu tư vào công trình
nuôi tôm; Buộc ông T cùng trách nhiệm chia số tiền ông đã vay ngân hàng,
tổng cộng vốn, lãi 4.079.864.400 đồng (trong đó vốn 3.500.000.000 đồng, lãi
579.864.400 đồng); Buộc ông T trả cho ông bà số tiền 1.000.000.000 đồng mà ông
T đã ký nhận ngày 08/01/2022 và số tiền 1.000.000.000 đồng ông T đã nhận trực
tiếp qua ngân hàng ngày 07/5/2022; Chấp nhận số tiền 175.510.000 đồng ngày
07/02/2023 của ông bà trả cho đại lý B1; Chấp nhận các khoản tiền của Thạch H2
247.000.000 đồng, của Thạch T4 567.000.000 đồng, của Thạch Thia 120.524.000
đồng là do ông, bà trả.
Tại đơn kháng o điều chỉnh, bổ sung của Trần Thị L (không ghi ngày,
tháng, năm) yêu cầu sửa bản án thẩm: Buộc ông Đặng Hồng T trả cho L
ông P tổng số tiền là 2.531.776.565 đồng (bao gồm: Khoản tiền mà bản án sơ thẩm
tuyên buộc trả 1.169.844.365 đồng; khoản tiền mặt ông T nhận phải trả lại
1.000.000.000 đồng; trách nhiệm hoàn trả 50% các khoản chi phí phát sinh mà cấp
sơ thẩm bỏ qua là 361.932.200 đồng (gồm 50% phần lãi suất ngân hàng là
290.432.200 đồng và 50% tiền nợ thức ăn của đại lý T5 là 71.500.000 đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện của bà Trần Thị L giữ nguyên kháng cáo;
Ông Trương Văn P đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên kháng cáo;
Ông Đặng Hồng T giữ nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ca bà L phát biểu tranh luận và đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà L.
Người đại diện hợp pháp của L thống nhất với ý kiến tranh luận của Luật
sư bảo vệ cho bà L.
Trợ giúp viên pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T phát biểu
tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông T, sửa bản án
thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, chấp nhận yêu cầu phản tố
của ông T.
Ông T thống nhất với ý kiến tranh luận của Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ cho
ông T.
Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ cho bà Lê Thị N2 không có ý kiến tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của B
luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Văn P và bà Trần
Thị L; chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đặng Hồng T, sửa bản án thẩm:
Buộc ông T trả cho bà L và ông P số tiền 295.796.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của Trần Thị L ông Trương Văn P, ông Đặng Hồng T,
Hội đồng xét xử xét thấy:
7
[1] Đối với kháng cáo của bà L và ông P:
[1.1] Đối với nội dung kháng cáo yêu cầu buộc ông T chịu 50% số tiền lãi
ngân hàng 580.864.400 đồng bằng 290.432.200 đồng, xét thấy:
L, ông P ông T thống nhất xác định các bên thoả thuận hợp tác nuôi
tôm vào tháng 12/2021. T và ông P xác định việc thoả thuận lập hợp đồng hợp
tác ngày 01/01/2021. Ông T xác đnh việc thoả thuận chỉ bằng lời nói, không có làm
hợp đồng, đối với hợp đồng hợp tác ngày 01/01/2021 ông T là để cho L
ông P bổ sung hồ vay vốn ngân hàng chứ không phải để thoả thuận thực hiện việc
hợp tác giữa ông với L, ông P. Đồng thời, ông T cũng xác định theo thỏa thuận
L, ông P sẽ người đầu toàn bộ các công trình đnuôi tôm, ông T sẽ ra
công và kỹ thuật nuôi, lời chia đôi. Tại biên bản phiên toà sơ thẩm ngày 08/8/2025
ông P ng xác định việc hợp đồng ngày 01/01/2021 để hợp thức hoá hồ
vay vốn ngân hàng; về thoả thuận hợp tác: Ông T phụ trách kỹ thuật nuôi, ông P và
L đầu xây dựng, thothuận trừ hết chi phí, lời chia hai; hai bên chưa thoả thuận
tiền lãi ngân hàng. Do đó, hợp đồng ngày 01/01/2021 không phải là căn cứ để ràng
buộc trách nhiệm thực hiện của ông T, bà L, ông P trong việc hợp đồng hợp tác.
Như vậy, theo thoả thuận thì ông P và bà L là người đầu tư xây dựng đối với
công trình nuôi tôm. Việc ông P bà L vay vốn ngân hàng là để phục vụ cho việc
đầu công trình nuôi tôm; giữa ông P, L với ông T cũng không thoả thuận
phân chia đối với nghĩa vụ chịu khoản tiền lãi của ngân hàng, nên ông P L phải
nghĩa vụ thanh toán đối với toàn bộ khoản vay vốn, lãi cho ngân hàng. Do đó,
kháng cáo của L ông P yêu cầu buộc ông T chịu 50% số tiền lãi ngân hàng
bằng 290.432.200 đồng là không có căn cứ để chấp nhận.
[1.2] Đối với nội dung kháng cáo yêu cầu ông T trả số tiền 1.000.000.000
đồng nhận ngày 08/01/2022, xét thấy: L cho rằng ngày 08/01/2022 đưa tiền
mặt trực tiếp cho ông T 1.000.000.000 đồng ông T nhận ghi chữ 1.Tỷ”.
Ông T không thừa nhận nhận số tiền 1.000.000.000 đồng vào ngày 08/01/2022
như L trình bày cho rằng chữ viết “1.Tỷ” không phải do ông ghi. Quá trình
giải quyết vụ án, phía L trình bày không biết ông T sử dụng số tiền 1.000.000.000
đồng để chi nội dung gì. Tuy nhiên, qua xem xét các lần ông Thảo Ứ, nhận tiền từ
L trong sổ theo dõi thì ngoài số tiền 1.000.000.000 đồng này, các lần còn lại số
tiền nhiều nhất 300.000.000 đồng, nhưng các lần ứng, nhận tiền đều có ghi rõ nội
dung chi. Trong khi đó số tiền 1.000.000.000 đồng L giao cho ông T nhận là số
tiền lớn, nhưng L lại không biết được mục đích ông T ứng tiền để chi nội dung
gì, không chứng minh được chi cho xây dựng hạng mục nào của công trình trị giá
1.000.000.000 đồng. Hơn nữa, tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung Biên
bản kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 09/6/2025 thì L đều
không đề cập đến số tiền 1.000.000.000 đồng này.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, bà L có yêu cầu giám định chữ
viết “1. Tỷ” ghi trong sổ theo dõi ngày 08/01/2022 để xác định do ông T ghi và Toà
án cấp phúc thẩm đã thực hiện việc trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số
648/KL-KTHS ngày 10/7/2026 của Phòng K ng an tỉnh C kết luận: “Không đủ
cơ sở kết luận chữ số, chữ viết “1. Tỷ” tại dòng thứ 10, tính từ trên xuống của mặt
sau tờ giấy tập học sinh có đóng dấu bút lục 516 của Toà án nhân dân Khu vực 6
8
Mau trên tài liệu cần giám định hiệu A so với chữ số, chviết trên cùng tài
liệu cần giám định ký hiệu A và chữ số, chữ viết của Đặng Hồng T trên tài liệu mẫu
so sánh hiệu M1, M2 phải do ng một người viết ra hay không”. Như vậy,
không sở để xác định chữ viết “1. Tỷ” trong sổ theo dõi của L ngày
08/01/2022 do ông T ghi. Đối với việc L yêu cầu giám định lại nhưng không
chứng minh được kết luận giám định số 648/KL-KTHS ngày 10/7/2026 của Phòng
K Công an tỉnh C không chính xác, vi phạm pháp luật nên không có sở để
chấp nhận. Do đó, kháng cáo ca L và ông P yêu cầu buộc ông T trả số tiền 01 tỷ
đồng nêu trên là không có căn cứ chấp nhận.
[1.3] Đối với nội dung kháng cáo yêu cầu buộc ông T trả 50% của số tiền thức
ăn tôm 143.000.000 đồng còn nợ Đại Triệu Nghỉ bằng 71.500.000 đồng, xét thấy:
Tại biên bản phiên toà thẩm ngày 05/9/2025, người đại diện của L ông P
xác định đối với số tiền còn nợ Đại Triệu Nghỉ 143.000.000 đồng, do Đại Triệu
Nghỉ không yêu cầu L ông P trả nợ, nên L ông P ng không đặt ra
yêu cầu Toà án giải quyết đối với khoản tiền này. Như vậy, đối với khoản tiền này
do tại cấp sơ thẩm bà L và ông P không đặt ra yêu cầu, cấp sơ thẩm không xem xét,
nên theo quy định giới hạn của việc xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm không
có cơ sở để xem xét. Do đó, kháng cáo của L và ông P đối với phần nội dung này
là không có căn cứ để chấp nhận.
[2] Đối với kháng cáo của ông Đặng Hồng T: Tại đơn kháng cáo của ông T
nêu rất nhiều nội dung ông T không thống nhất với bản án sơ thẩm nhận định
quyết định, cụ thể:
[2.1] Đối với nội dung kháng cáo ông T cho rằng theo thoả thuận ông P và bà
L chịu toàn bộ chi phí; ông ra công, kỹ thuật nuôi tôm, đất, thu nhập từ sản xuất thì
chia theo tỷ lệ 50%, nhưng Toà án cấp thẩm nhận định các khoản chi phí phát
sinh trong toàn bộ quá trình nuôi tôm, lãi được thống nhất chia theo tỷ lệ 50/50, chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà L không đúng, xét thấy: Thoả thuận hợp tác nuôi
tôm giữa ông T với bà L và ông P chỉ bằng lời nói, không lập thành văn bản cụ thể.
Khi phát sinh tranh chấp thì phía bà L và ông P cho rằng thoả thuận toàn bộ chi phí
đầu tư, nuôi tôm, lợi nhuận chia 50/50; còn phía ông T cho rằng thoả thuận như nội
dung kháng cáo đã nêu; nhưng các bên cũng không xuất trình được tài liệu chứng
minh. Tuy nhiên, tại biên bản phiên toà thẩm ngày 08/8/2025, ông P cũng xác
định về thoả thuận hợp tác: Ông T phụ trách kỹ thuật nuôi, ông P và bà L đầu tư xây
dựng, thoả thuận trừ hết chi phí, lời chia hai; không đề cập cthể về phần chi phí
cho việc nuôi tôm bên nào bỏ ra. Theo trình bày của ông P thì chi phí đầu xây
dựng do ông P và L bỏ ra, ông T phụ trách kỹ thuật nuôi tôm. Đối với trình bày
của ông T cho rằng ông ra công và đất là không có cơ sở, bởi lẽ quá trình nuôi tôm
thuê mướn nhân công, khoản tiền trả tiền thuê mướn nhân công tiền thuê đất
do ông T chi được tính vào tổng số tiền ông T đã chi để đối trừ. Như vậy, bản án sơ
thẩm buộc ông T trả cho L và ông P ½ số tiền chi phí đầu tư 2.574.204.000 đồng
bằng 1.287.102.000 đồng (nhưng không tính tiền công kỹ thuật nuôi cho ông T)
không phù hợp. Do đó, kháng cáo của ông T về phần này là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Đối với nội dung kháng cáo ông T cho rằng số tiền ông nhận của L
từ ngày 11/12/2021 đến ngày 07/9/2022 1.720.000.000 đồng chkhông phải
9
2.220.000.000 đồng. Lý do: Ông T cho rằng số tiền nhận ngày 8/01/2022
200.000.000 đồng để trả tiền sắt cho ông Ngô Đức L3 250.000.000 đồng. Do
L chỉ 200.000.000 đồng nên ông mượn của vợ ông Trương Thị Hoàng Y
50.000.000 đồng để trả ông L3. Ông ghi “chi sắt gửi ngân hàng 300.000.000đ”
ghi chú trả tiền sắt chứ không phải ông nhận của L. Số tiền nhận ngày
29/6/2022 số tiền 200.000.000 đồng là chi trả tiền máy phát điện, ông có biên nhận,
tại phiên tòa sơ thẩm ông P cũng thừa nhận. Vì vậy, phải đối trừ cho ông
(2.220.000.000đ -300.000.000đ 200.000.000đ = 1.720.000.000đ). Xét thấy: Việc
ông T nhận của bà L số tiền 2.220.000.000 đồng là thực tế, được ông T thừa nhận
tại phiên toà sơ thẩm; biên bản xác định ý kiến của ông T do Toà án nhân dân thành
phố Bạc Liêu (nay Toà án nhân dân khu vực 6 Mau) lập ngày 29/5/2024;
biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày
09/6/2025.
Tại sổ theo dõi của bà L thể hiện ngày 08/01/2022 ông T có ghi ký nhận nhận
02 khoản tiền gồm: 200.000.000 đồng 300.000.000 đồng. Ông T trình bày trả tiền
sắt cho ông L3 250.000.000 đồng nhưng lại viết biên nhận nợ 300.000.000 đồng là
không có căn cứ.
Đối với tiền nhận ngày 29/6/2022 chi trả tiền máy phát điện 200.000.000
đồng: Tại phiên tòa thẩm ngày 5/9/2025, biên bản xác định ý kiến của ông T do
Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu (nay là Toà án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau)
lập ngày 29/5/2024, ông T cũng xác định số tiền này do ông P trả. Do đó, kháng cáo
của ông T phần nội dung này không có cơ sở để chấp nhận.
[2.3] Đối với nội dung kháng cáo của ông T cho rằng số tiền 500.000.000
đồng ông không có nhận của L, vì ngày 07/5/2022 ông nhận khế ước nhận nợ
của bà L số tiền 1.500.000.000 đồng, ông chỉ ký với ngân hàng, việc ông ký nhận
hợp thức hóa khoản vay của L với mục đích rút tiền giải ngân cho L. Trên thực
tế ônggiấy tờ, người nhận tiền là bà L nên ông không biết và không có nhận số
tiền 500.000.000 đồng. Xét thấy: Việc ông T khế ước nhận số tiền 1.500.000.000
đồng tại ngân hàng là có thực tế được ông T thừa nhận; nhưng ông T cho rằng ông
chỉ ký còn tiền bà L nhận 1.000.000.0000 đồng, còn lại 500.000.000 đồng giao cho
ông P nhận và giữ. Tuy nhiên, ông T không có chứng cứ chứng minh giao cho ông
P nhận số tiền này, ông P cũng không thừa nhận, trong khi ông T biên nhận
nên không đủ cơ sở chấp nhận lời trình bày của ông T đưa cho ông P 500.000.000
đồng. Do đó, phần nội dung kháng cáo này của ông T không sở để chấp
nhận.
[2.4] Đối với nội dung kháng cáo của ông T cho rằng trong quá trình nuôi
tôm ông chi tiền công tổng số tiền 273.000.000đ để thuê ông Trần Hoàng P4 số
tiền 105.000.000 đồng, ông Phạm Ngọc H3 số tiền 98.000.000 đồng, ông Đặng Văn
H4 số tiền 70.000.000 đồng, đây chi pthực tế ông đã chi trong quá trình nuôi
tôm. Tòa án cấp thẩm căn cứ vào việc xác minh ông Trần Hoàng P4, ông Phạm
Ngọc H3 đlàm căn cứ không chấp nhận đề nghị của ông không khách quan do
ông P4 cháu bà L, ông H3 cháu ông P đương nhiên sẽ đứng về phía của L
và ông P.
10
Xét thấy, qua kiểm tra các chứng từ do ông T cung cấp và xác minh ông Trần
Hoàng P4 ông Phạm Ngọc H3 tkhông thừa nhận có nhận tiền lương tông T
nên không chấp nhận biên nhận của ông T cung cấp ngày 30/4/2022 chi trả tiền
lương cho ông Trần Hoàng P4 với số tiền 105.000.000 đồng và ông Phạm Ngọc H3
số tiền 98.000.000 đồng. Đối với biên nhận chi trả lương cho ông Đặng Văn H4 ngày
18/4/2023 với số tiền 70.000.000 đồng thì hiện nay không làm việc được với ông H4
theo ông P trình bày tông H4 người bị khuyết tật nên không thuê mướn
nên không chấp nhận biên nhận này của ông T. Do đó, phần nội dung kháng cáo này
của ông T không có cơ sở để chấp nhận.
[2.5] Đối vi phn ni dung kháng cáo ca ông T không đồng ý việc bà L và
ông P cho rằng trả tiền thức ăn cho đại T5 số tiền 1.147.064.500 đồng, vì ông T
cho rằng do quá trình nuôi tôm ông người trực tiếp trông coi, nhận khi mua
thức ăn tôm, phần thức ăn này ông không nhận nhận vào sổ nên không
đồng ý.
Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà ông T xác định
ngoài mua thuốc và thức ăn tôm của Đại B1 thì giao dịch mua thuốc thức
ăn tôm của Đại lý T, ông P cũng không nuôi tôm ở nơi nào khác. Qua xác minh ông
Triệu Thế A chủ hộ Đại lý T5 cũng xác nhận có giao thức ăn tôm cho ông P tại tại
ấp B, xã V, thành phố B, tổng số tiền ông P, bà L nợ là 1.290.064.500 đồng, sau khi
thu hoạch tôm thì L trả tiền cho ông 1.147.064.500 đồng còn nợ lại
143.000.000 đồng. Như vậy, căn cứ xác định ông P L trả tiền thức ăn
tôm cho đại lý T5 số tiền 1.147.064.500 đồng; do đó, kháng cáo của ông T về phần
nội dung này không có cơ sở để chấp nhận.
[2.6] Đối với phần nội dung kháng cáo của ông T không đồng ý nhận các tài
sản trang thiết bị của công trình nuôi tôm công nghệ cao trên đất (có gtrị
600.000.000 đồng) và ông phải có nghĩa vụ trả lại cho L, ông P ½ giá trị tài sản
bằng 300.000.000 đồng.
Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm ông T xác định không đồng ý nhận các tài
sản công trình nuôi tôm vì đây các tài sản do L ông P bỏ tiền ra đầu tư;
ông thống nhất giao toàn bộ tài sản này cho bà L và ông P, ông không yêu cầu bà L
và ông P phải trả lại ½ giá trị tài sản cho ông. Phía bà L và ông P cũng đồng ý nhận
số tài sản này, ông T không phải trả cho L ông P số tiền 300.000.000 đồng.
Đây sự thoả thuận thống nhất của các đương sự; do đó, kháng cáo của ông T về
phần nội dung này được chấp nhận.
[2.7] Đối với phần nội dung kháng cáo của ông T không chấp nhận chi phí
đầu tư phải trả cho L và ông P số tiền 1.287.102.000 đồng (2.574.204.000 đồng
: 2 = 1.287.102.000 đồng), do đây chi phí đầu theo thỏa thuận L ông P
phải chịu.
Xét thấy, theo thoả thuận hợp đồng hợp tác thì chi phí đầu xây dựng công
trình doL và ông P chịu, ông T phụ trách kỹ thuật nuôi; thực tế, trong suốt thời
gian hợp tác không thể hiện có chi trả tiền công kỹ thuật nuôi cho ông T. Như vậy,
toàn bộ số tiền chi phí đầu tư xây dựng 2.574.204.000 đồng đáng lẽ ra buộc L
ông T tự chịu toàn bộ mới đúng, nhưng Toà án cấp sơ thẩm buộc mỗi bên phải chịu
½ và buộc ông T phải trả lại cho L và ông P số tiền bằng 1.287.102.000 đồng là
11
không phù hợp, gây thiệt hại đến quyền lợi ích hợp pháp của ông T. Do đó, cấp
phúc thẩm chấp nhận phần nội dung này của ông T, sửa bản án thẩm, không buộc
ông T phải trả cho bà L và ông P ½ số tiền chi phí đầu tư xây dựng công trình bằng
1.287.102.000 đồng.
[2.8] Đối với phần nội dung kháng cáo của ông T cho rằng số tiền chi phí ông
đã chi để nuôi tôm 865.046.769 đồng là số tiền ông P, bà L mượn của ông, yêu cầu
ông P, bà L phải trả cho ông.
Xét thấy, như đã nhận định ở phần trên việc thoả thuận hợp tác nuôi tôm giữa
các bên chỉ thoả thuận bằng lời nói, không lập thành văn bản để làm căn cứ; khi xảy
ra tranh chấp các bên đều trình bày theo hướng lợi cho mình. Tuy nhiên, theo
trình bày của ông P tại biên bản phiên sơ thẩm ngày 08/8/2025 xác định ông T phụ
trách kỹ thuật nuôi, ông P đầu xây dựng; thoả thuận trừ hết chi phí, lời chia đôi
(nhưng không nêu cụ thể về khoản chi phí đầu tư cho vụ nuôi như tnào). Tại biên
bản phiên toà thẩm ngày 05/9/2025, thì ông T trình bày: Chi phí nuôi tôm cả
hai bên cùng chịu bao gồm: Thức ăn, thuốc, nhân công, điện, gạo, gas, tiền thuê đất
hàng năm… chia 50/50, lợi nhuận chia 50/50. Như vậy, có cơ sở xác định việc thoả
thuận hợp tác nuôi tôm giữa L ông P với ông T: L ông P chịu chi phí
đầu tư xây dựng, ông T phụ trách kỹ thuật nuôi; chi phí cho việc nuôi tôm mỗi bên
cùng chịu 50/50, trừ chi phí lãi chia 50/50. Như vậy, mới đảm bảo tính công bằng
và hợp lý; nếu như trình bày của ông T tại phiên toà phúc thẩm cho rằng toàn bộ chi
phí đầu xây dựng, chi pnuôi tôm do L ông P bỏ ra, ông T phụ trách kỹ
thuật nuôi, trừ chi phí, lãi chia đôi không đảm bảo tính công bằng hợp lý. Do
đó, không sở chấp nhận số tiền ông T đã chi cho chi phí nuôi tôm 865.046.769
đồng là cho bà L và ông P mượn, mà có cơ sở xác định số tiền này ông T bỏ ra đầu
cho các vụ nuôi tôm; nên phần nội dung kháng cáo này của ông T không có cơ sở
để chấp nhận.
Như vậy, có cơ sở xác định:
+ Tổng số tiền ông T đã nhận của L (nhận trực tiếp chuyển khoản)
3.170.000.000 đồng; tổng số tiền ông T đã chi đầu tư xây dựng công trình nuôi tôm
công nghệ cao hóa đơn 2.574.204.000 đồng. Đối trừ, ông T nghĩa vụ hoàn
trả lại cho L ông P số tiền 595.796.000 đồng (3.170.000.000 đồng
2.574.204.000 đồng = 595.796.000 đồng).
+ Chi phí cho các vụ nuôi tôm: Bà L và ông P đã chi là 1.396.649.500 đồng;
ông T đã chi 865.046.769 đồng; tổng cộng 2.261.696.269 đồng. Do mỗi bên
phải chịu ½ chi phí, nên bà L và ông P phải chịu là 1.130.848.134 đồng, ông T phải
chịu 1.130848.134 đồng. Ông T đã chi 865.046.769 đồng, nên buộc ông T
nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà L và ông P số tiền là 265.801.365 đồng.
Tổng hai khoản ông T nghĩa vụ hoàn trả cho bà L và ông P là 861.597.365
đồng (595.796.000 đồng + 265.801.365 đồng = 861.597.365 đồng).
+ Đối với số tiền thu hoạch của 04 vtôm: Các bên thống nhất số tiền
2.557.710.000 đồng, sau khi thu hoạch tôm bà L ông P quản lý. Do chi phí nuôi
mỗi bên phải chịu ½ nên số tiền của 04 vtôm thu hoạch được cũng phải được phân
chia cho mỗi bên được hưởng ½ phù hợp. Do đó, buộc L ông T phải
12
nghĩa vụ giao trả lại cho ông T số tiền là 1.278.855.000 đồng (2.557.710.000 đồng :
2 = 1.278.855.000 đồng.
Đối trừ giữa khoản tiền bà L ông P phải trả cho ông T (1.278.855.000 đồng)
với số tiền ông T phải trả cho L ông P (861.597.365 đồng) tL ông P
phải có nghĩa vụ trả lại cho ông T số tiền là 417.257.635 đồng.
Đối với yêu cầu của ông T về việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án chờ kết quả
giải quyết của cơ quan điều tra về việc tố giác hành vi của bà N1 là cán bộ của Ngân
hàng B, xét thấy không liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của vụ án nên không
có cơ sở để chấp nhận.
[3] Từ phân tích trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo ông Trương
Văn P và bà Trần Thị L; chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đặng Hồng T, sửa
bản án thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của L vviệc buộc ông T
trả cho bà L ông P số tiền 5.764.062.592 đồng; chấp nhận một phần yêu cầu phản
tố của ông T, buộc L ông P trả cho ông T số tiền 417.257.635 đồng, phù
hợp.
Về chi phí giám định tại cấp phúc thẩm số tiền 500.000 đồng, bà L và ông P
phải chịu (bà L và ông P đã nộp xong).
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông P L được miễn chịu án phí; ông T
không phi chịu án phí (các đương sự đã được min d np).
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo ông Trương Văn P và bà Trần Thị L. Chấp nhận
một phần kháng cáo của ông Đặng Hồng T.
Sửa bản án dân sự thẩm số: 55/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.
Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng (thỏa thuận) hợp tác giữa ông Đặng Hồng T
với ông Trương Văn P và bà Trần Thị L.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc yêu
cầu buộc ông Đặng Hồng T Trương Thị Hoàng Y trả cho L và ông P số tiền
5.764.062.592 đồng.
- Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận thống nhất giữa ông T với bà L và ông P,
giao cho L ông P được quyền sở hữu các tài sản công trình nuôi tôm công
nghệ cao (các tài sản theo biên bản định giá ngày 19/3/2025) gắn liền trên diện tích
13
đất 41.217,9m², thuộc thửa 131, tờ bản đồ số 16-1, tọa lạc tại V, thành phố B, tỉnh
Bạc Liêu (nay là xã H, tỉnh Cà Mau).
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Đặng Hồng T đối với bà Trần
Thị L và ông Trương Văn P.
Hủy hợp đồng thuê nhà đất được kết giữa Trương Hoàng P1 với ông
Trương Văn P ngày 01/01/2020.
Buộc bà L và ông P có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền là 417.257.635 đồng.
- Không chấp nhận mt phần yêu cầu của ông T đối với bà L và ông P với số
tiền là 2.235.695.365 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của Trương Hoàng P1 về việc chấm dứt hợp
đồng thuê đất được kết giữa bà Trương Hoàng P1 với ông Đặng Hồng T ngày
25/5/2021 tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã H, tỉnh
Cà Mau).
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Buộc bà Trần Thị L và ông Đặng Hồng T mỗi người phải nộp 662.500 đồng.
Bà L đã nộp đủ số tiền 1.325.000 đồng nên ông T có nghĩa vụ trả cho bà L 662.500
đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành xong các khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Vchi phí giám định tại cấp phúc thẩm số tiền 500.000 đồng, L ông
P phải chịu (L và ông P đã nộp xong).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Trần Thị L, ông Trương Văn P, ông Đặng Hồng T được miễn chịu án phí.
L ông P đã được miễn dự nộp. Ông T đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai
thu số 0008769 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu,
tỉnh Bạc Liêu (nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Mau), được nhận lại.
Trương Hoàng P1 không phải chịu án phí. Bà P1 đã dự nộp 300.000 đồng
theo biên lai thu số 0002798 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (nay là phòng thi hành ánn sự khu vực 6 –Mau),
được nhận lại.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trương Văn P Trần Thị L được miễn
chịu án phí. Ông Đặng Hồng T không phải chịu án phí.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
14
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 6- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 6- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 533/2026/DS-PT Bản án số 533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 533/2026/DS-PT Bản án số 533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất