Bản án số 823/2026/DS-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 823/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 823/2026/DS-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 823/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ "Thừa kế tài sản" Huỳnh Thị M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 823/2026/DS-PT Bản án số 823/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 823/2026/DS-PT Bản án số 823/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 823/2026/DS-PT
Ngày: 22-6-2026
V/v tranh chấp thừa kế tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thanh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Quốc Tuấn
Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
Thư ký phiên tòa: Ngô Thanh Xuân Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Nguyễn
Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15 và 22 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 219/2026/TLPT-DS ngày
23 tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp thừa kế”.
Do Bản án dân sự thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2026/QĐ-PT ngày 17/4/2026,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1978; CCCD số
************; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hoa M, sinh năm
1973; CCCD số ************; Địa chỉ: ấp L, phường L, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bị đơn: Huỳnh Thị M1, sinh năm 1958; CCCD số ************; Địa
chỉ: Tổ A, ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Em Nguyễn Phúc Đan Q, sinh năm
2008 và em Nguyễn Phúc Gia H, sinh năm 2011; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã D, tỉnh
Tây Ninh; vắng mặt.
2
Người đại diện theo pháp luật của em Q, em H: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh
năm 1978; CCCD số ************; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, D, tỉnh Tây Ninh;
có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ và người đại diện trình bày:
Nguyễn Thị Thanh T chết ngày 03/8/2022. Những người thừa kế thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của T gồm: ông Nguyễn Văn Đ (chồng bà T); Nguyễn
Phúc Đan Q, Nguyễn Phúc Gia H (các con của T) Huỳnh Thị M1 (mẹ
ruột T). Cha ruột của T ông Nguyễn Văn Đ1 đã chết ngày 26/10/2010
(theo Giấy chứng tử số 02, quyển 01/2011 do UBND xã P).
Ngoài những người thừa kế nêu trên, T không còn người thừa kế nào khác.
Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế đối với di sản
do bà T để lại, bao gồm:
1/ Tài sản riêng của T: Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 394, tbản đồ
số 16, diện tích 297 m², tọa lạc tại xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là xã D, tỉnh
Tây Ninh), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02575 ngày 17/3/2008
do UBND huyện D cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh T; trị giá 400.000.000 đồng.
2/ Phần tài sản của bà T trong khối tài sản chung với ông Đ, gồm:
Nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất thuộc thửa số 68, tờ bản đồ số 50, diện tích
103,9 m², tọa lạc tại số A, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là
H, Thành phố Hồ Chí Minh), theo Giấy chứng nhận số 1583/2009/UB-GCN
ngày 11/6/2009 do UBND huyện H cấp cho ông Nguyễn Văn Đ bà Nguyễn
Thị Thanh T; trị giá 3.974.757.717 đồng;
Nhà chung và quyền sử dụng đất thuộc các thửa số 618, 642, 643, 644, tờ
bản đồ số 24, tọa lạc tại số B T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), theo Giấy chứng nhận số CS24767/DA
ngày 09/7/2018 do Sở Tài nguyên Môi trường Thành phố H cấp cho ông
Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T; trị giá 2.510.266.924 đồng;
Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 604, tờ bản đồ
số 21, diện tích 585 m², tọa lạc tại xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là xã D, tỉnh
Tây Ninh), theo Giấy chứng nhận số CS00864 ngày 04/9/2015 do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T; trị
giá 4.100.000.000 đồng;
Xe ôbiển kiểm soát 70A-096.69, nhãn hiệu CHEVROLET, loại ôtô con,
màu sơn ghi, số chỗ ngồi 05 chỗ, theo Giấy chứng nhận đăng xe ô số 006719;
trị giá 150.000.000 đồng.
3
Đối với yêu cầu phản tcủa bà Huỳnh Thị M1 về việc chia tiền cho thuê nhà
chung tại Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 380.000.000 đồng, ông Đ
đồng ý.
Sau khi T chết, ông Đ đã thanh toán khoản nợ chung của vợ chồng tại
Ngân hàng V với tổng số tiền 1.234.000.000 đồng theo các chứng từ đã giao nộp
cho Tòa án, do đó ông Đ yêu cầu khi chia thừa kế được cấn trừ khoản nợ này.
Cụ thể:
Tổng giá trị tài sản chung: 11.115.024.641 đồng;
Giá trị tài sản chung còn lại sau khi thanh toán nợ chung: 9.881.024.641
đồng;
Phần di sản của T trong khối tài sản chung và tài sản riêng:9.881.024.641
đồng : 2 + 400.000.000 đồng = 5.340.512.000 đồng.
T 04 người thừa kế, nên mỗi người được hưởng kphần thừa kế trị
giá 1.335.128.000 đồng.
Về chia hiện vật, ông Đ đề nghị giao thửa đất số 394 tại xã D cho bà Huỳnh
Thị M1 được quyền sử dụng; ông Đ đồng ý thanh toán cho bà M1 số tiền chênh
lệch so với kỷ phần thừa kế 935.128.000 đồng. Đối với nhà chung tại phường
T nhà, đất tại H, ông Đ yêu cầu được quyền shữu, sử dụng. Riêng nhà, đất
tại thửa số 604 tại xã D, ông Đ yêu cầu được chia chung cho ông và hai người con
để cùng sở hữu, sử dụng.
Bị đơn bà Huỳnh Thị M1 trình bày:
Bà thừa nhận thời điểm bà Nguyễn Thị Thanh T chết, hàng thừa kế thứ nhất
toàn bộ tài sản do T để lại như phía nguyên đơn trình bày đúng sự thật,
nên không trình bày lại.
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vviệc chia thừa kế đối
với di sản của T trong khối tài sản chung với ông Đ. Ngoài ra, yêu cầu
phản tố về việc chia thừa kế đối với số tiền cho thuê nhà tại Thành phố Hồ Chí
Minh 380.000.000 đồng; trong đó phần di sản của T 160.000.000 đồng,
nên bà yêu cầu được hưởng 47.500.000 đồng.
Tại biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành ngày 28/11/2025, ông Đ
M1 đã thống nhất về nhân thân, hàng thừa kế, khối di sản, nghĩa vụ tài sản của
T và phương thức chia thừa kế. Tuy nhiên, đến ngày 03/12/2025, bà M1
đơn thay đổi ý kiến với lý do nguyên đơn không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng
cứ chứng minh nghĩa vụ tài sản (khoản nợ tại Ngân hàng V1) củaT; đồng thời
không đồng ý việc ông Đ người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Phúc Đan Q,
nên đề nghị Tòa án không ra quyết định công nhận hòa giải thành tiến hành
xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
4
Ngày 20/01/2026, bà M1 tiếp tục có đơn phản tố yêu cầu chia thừa kế phần
tài sản của bà T trong khối tài sản chung với ông định là phần vốn góp và lợi tức
trong Công ty TNHH G tương ứng với số tiền là 130.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh đã tuyện xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ về việc
chia thừa kế tài sản của bà Nguyễn Thị Thanh T đối với nhà, đất và xe ô tô.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Huỳnh Thị M1 về việc chia thừa
kế tài sản của bà Nguyễn Thị Thanh T là tiền cho thuê nhà.
3. Xác định di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Thanh T để lại có tổng giá trị
5.341.747.560 đồng (Năm tỷ ba trăm bốn mươi mốt triệu bảy trăm bốn mươi
bảy nghìn năm trăm sáu mươi đồng).
4. Xác định những người thừa kế theo pháp luật của Nguyễn Thị Thanh
T gồm: Ông Nguyễn Văn Đ; bà Huỳnh Thị M1; cháu Nguyễn Phúc Đan Q; cháu
Nguyễn Phúc Gia H. Mỗi người được hưởng một kỷ phần thừa kế có g
trị 1.335.436.890 đồng (Một tỷ ba trăm ba mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi sáu
nghìn tám trăm chín mươi đồng).
5. Về phân chia di sản bằng hiện vật và thanh toán chênh lệch:
5.1. Huỳnh Thị M1 được quyền sdụng thửa đất số 394, tờ bản đồ số 16,
diện tích 297m², tại D, tỉnh Tây Ninh; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số H02575 ngày 17/3/2008 do UBND huyện D cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh
T;
5.2. Ông Nguyễn Văn Đ trách nhiệm thanh toán cho bà Huỳnh ThM1 số
tiền chênh lệch 935.436.890 đồng (Chín trăm ba mươi lăm triệu bốn trăm ba
mươi sáu nghìn tám trăm chín mươi đồng);
5.3. Ông Nguyễn Văn Đ được quyền sở hữu, sử dụng các tài sản sau:
- Nhà diện tích 70,9m
2
, đất diện tích 103,9m², thuộc thửa đất số 68, tờ
bản đồ số 50, tọa lạc tại số A, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh), theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất ở số 1583/2009/UB-GCN ngày 11/6/2009 do UBND huyện H
cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T;
- Căn hộ chung số D, tầng 5, Khối B, diện tích 45,4m
2
, thuộc Chung
V (T), hình thức: Sở hữu riêng; đất tại các thửa 618, 642, 643, 644, tờ bản đồ số
24, diện tích 5.282,4m
2
, hình thức: Sử dụng chung, tọa lạc tại số B T, phường T,
quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường T, Thành phố Hồ Chí Minh),
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CS24767/DA ngày 09/7/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường
Thành phố H cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T;
5
- Xe ô biển kiểm soát 70A-096.69, nhãn hiệu CHEVROLET, loại ô con,
màu sơn ghi, số chỗ ngồi 05 chỗ, theo Giấy chứng nhận đăng xe ô số 006719.
5.4. Ông Nguyễn Văn Đ, cháu Nguyễn Phúc Đan Q cháu Nguyễn Phúc
Gia H cùng sở hữu, sử dụng chung quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
thuộc thửa số 604, tờ bản đồ số 21, diện tích 585m², tọa lạc tại xã P, huyện D, tỉnh
Tây Ninh (nay là xã D, tỉnh Tây Ninh), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tào sản khác gắn liền với đất số CS00864 ngày 04/9/2015
do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Văn Đ Nguyễn
Thị Thanh T.
5.5. Kiến nghị quan thẩm quyền thu hồi các giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số: H02575 ngày 17/3/2008 do UBND Huyện D cấp cho bà Nguyễn
Thị Thanh T, số 1583/2009/UB-GCN ngày 11/6/2009 do UBND huyện H cấp cho
ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T, số CS24767/DA ngày 09/7/2018
do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà
Nguyễn Thị Thanh T số CS00864 ngày 04/9/2015 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T, đồng thời
cấp lại giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho các đương sự nêu trên phù hợp
với quyết định của bản án này.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền, thời hạn kháng cáo,
quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 05/02/2026, bị đơn Huỳnh Thị M1 kháng cáo yêu cầu huỷ bản án
số 13/2026/DS-ST ngày 22/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định
của B luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo ca bđơn bà Huỳnh Thị M1 đủ điu kin
để xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của Huỳnh Thị M1. Ginguyên Bản án Dân sự thẩm số 13/2026/DS-
ST ngày 22 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của bị đơn Huỳnh Thị M1 thực hiện đúng theo quy định tại
Điều 271, Điều 272, Điều 273 Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người
khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn
bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện, ông Đ
khởi kiện yêu cầu giải quyết chia thừa kế đối với di sản do T vợ ông Đ để
lại. Tòa án cấp thẩm xác định vụ án tranh chấp về chia thừa kế và thụ giải
6
quyết đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thị M1, thấy rằng:
[3.1] Về hàng thừa kế: Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
T bao gồm các ông Nguyễn Văn Đ (chồng); các con Nguyễn Phúc Đan
Q, Nguyễn Phúc Gia H và bà Huỳnh Thị M1 (mẹ ruột bà T). Cha ruột của bà T là
ông Nguyễn Văn Đ1 đã chết từ năm 2010 nên không thuộc diện thừa kế. Ngoài
những người trên, T không người thừa kế nào khác. Các đương sự đều thống
nhất về nhân thân, hàng thừa kế và số lượng người thừa kế.
[3.2] Về khối di sản ca bà T: Các đương sự thống nhất xác định khối di sản
của bà T để lại bao gồm tài sản riêng phần tài sản của T ½ khối tài sản
chung với ông Đ sau khi trừ nghĩa vụ chung về tài sản, cụ thể:
[3.2.1] Về tài sản riêng: T tài sản riêng quyền sử dụng đất tại thửa
số 394, tờ bản đồ số 16, diện tích 297m², tại D, tỉnh Tây Ninh. Giá trị tài sản
theo kết quả định giá là 400.000.000 đồng.
[3.2.2] Về tài sản chung: ông Đ và bà T có các tài sản chung gồm:
- Nhà cấp 4 quyền sử dụng đất thuộc thửa số 68, tờ bản đồ s50, diện tích
103,9m², tọa lạc tại số A, ấp T, T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
H, Thành phố Hồ Chí Minh), theo Giấy chứng nhận số 1583/2009/UB-GCN
ngày 11/6/2009 do UBND huyện H cấp cho ông Nguyễn Văn Đ bà Nguyễn
Thị Thanh T; trị giá 3.974.757.717 đồng;
- Nhà chung cư và quyền sử dụng đất thuộc các thửa số 618, 642, 643, 644,
tờ bản đs24, tọa lạc tại số B T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
(nay phường T, Thành phố Hồ C Minh), theo Giấy chứng nhận số
CS24767/DA ngày 09/7/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp
cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T; trị giá 2.510.266.924 đồng;
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 604, tờ bản đồ
số 21, diện tích 585m², tọa lạc tại xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là xã D, tỉnh
Tây Ninh), theo Giấy chứng nhận số CS00864 ngày 04/9/2015 do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T; trị
giá 4.100.000.000 đồng;
- Xe ô biển kiểm soát 70A-096.69, nhãn hiệu CHEVROLET, loại ô con,
màu sơn ghi, số chỗ ngồi 05 chỗ, theo Giấy chứng nhận đăng xe ô số 006719;
trị giá 150.000.000 đồng;
- Tiền cho thuê nhà tại Thành phố Hồ Chí Minh là 380.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản chung được các bên thống nhất là 11.115.024.641 đồng.
[3.3] Về nghĩa vụ tài sản (nợ chung):
7
Ông Đ trình bày sau khi T chết, ông đã thực hiện nghĩa vụ trả khoản nợ
chung của vợ chồng tại Ngân hàng V1 với số tiền 1.231.529.520 đồng. Lời trình
bày của ông Đ phù hợp với hợp đồng tín dụng chứng từ thanh toán có trong h
sơ vụ án.
Do đó, sở xác định khoản nợ 1.231.529.520 đồng nghĩa vụ tài sản
chung, cần được trừ vào khối tài sản chung trước khi chia thừa kế.
Sau khi trừ nghĩa vụ tài sản, giá trị tài sản chung còn lại 9.883.495.121
đồng.
[3.4] Về xác định phần di sản của bà T và kỷ phần thừa kế:
Phần tài sản của bà T trong khối tài sản chung được xác định bằng 1/2 giá trị
tài sản chung còn lại, cộng với tài sản riêng, cụ thể: 9.883.495.121 đồng : 2 +
400.000.000 đồng = 5.341.747.560 đồng.
T 04 người thừa kế theo pháp luật, mỗi người được hưởng kỷ phần
bằng nhau, tương ứng số tiền là 1.335.436.890 đồng.
[3.5] Về yêu cầu chia di sản bằng hiện vật và thanh toán chênh lệch:
Xét yêu cầu của ông Đ về việc phân chia di sản bằng hiện vật:
Giao thửa đất số 394 tại D cho bà Huỳnh Thị M1 quản lý, sử dụng là p
hợp với thực tế sử dụng ổn định nguyện vọng của các bên; ông Đ tự nguyện
thanh toán phần chênh lệch cho M1 so với kỷ phần thừa kế 935.436.890
đồng;
Ông Đ nhận quyền sở hữu, sử dụng nhà chung cư tại phường T; nhà, đất tại
xã H và xe ô tô;
Nhà, đất tại thửa 604, D được chia chung cho ông Đ và hai con Nguyễn
Phúc Đan Q, Nguyễn Phúc Gia H.
Bị đơn bà M1 thống nhất về hàng thừa kế, về nghĩa vụ tài sản vợ chồng, về
xác định di sản của T, kỷ phần thừa kế, về cách chia di sản và thanh toán chênh
lệch.
Tuy nhiên, M1 kháng cáo cho rằng: Về khối di sản của T để lại còn có
phần vốn góp của T trong Công ty G với số tiền 130.000.000 đồng, Toà án cấp
sơ thẩm chưa đưa vào giải quyết nên phân chia tài sản là chưa đầy đủ tài sản của
bà T là không khách quan; Toà án sơ thẩm vi phạm tố tụng khi nhận đơn phản tố
của M1 nhưng không thụ cho đến khi M1 đơn xin hoãn phiên tòa thì
mới thấy thông báo thụ lý; M1 không đồng ý với chi ptố tụng 11.777.500
đồng nên bà M1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, xét thấy:
M1 kháng cáo cho rằng cấp thẩm không đưa phần vốn góp của T
trong Công ty G với số tiền 130.000.000 đồng vào giải quyết nên phân chia tài
sản chưa đầy đủ, khách quan thấy rằng: Ngày 20/01/2026, bà M1 có đơn phản tố
yêu cầu chia thừa kế phần vốn góp và lợi tức trong Công ty TNHH G. Toà án
8
nhân dân khu vực 11 Tây Ninh đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ hòa giải vào ngày 28/11/2025. Do đó sxác
định yêu cầu phản tcủa bà M1 được đưa ra sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Căn cứ Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân
sự, cấp thẩm không xem xét giải quyết yêu cầu phản tố của M1 cho
M1 được quyền khởi kiện bằng vụ án khác là có căn cứ.
Đối với yêu cầu phản tcủa bà M1: Ngày 22/11/2025, Toà án cấp thẩm
đã ban hành Thông báo thụ lý số 175.2/TB-TLVA để thụ lý yêu cầu phản tố của
M1. Bà M1 cho rằng không nhận được Thông báo thụ lý đối với yêu cầu phản
tố này. Tuy nhiên, cấp thẩm đã đưa yêu cầu phản tố này vào quá trình công
khai chứng cứ hòa giải ngày 28/11/2025 sự tham gia của M1 trong
quá trình xét xử cũng đã xem xét yêu cầu phản tố này của M1 nên quyền lợi
của bà M1 vẫn được đảm bảo.
Đối với chi phí tố tụng: Tổng chi phí ttụng trong vụ án này bao gồm chi
phí xem xét thẩm định tại chổ, định giá... với số tiền 47.110.000 đồng, được chia
đều cho những người được hưởng thừa kế của bà T nên mỗi người phải chịu chi
phí tố tụng tương ứng kỷ phần được hưởng với số tiền 11.777.500 đồng. Ông Đ
đã nộp tạm ứng chi phí này nên bà M1 phải hoàn trả lại ông Đ là phù hợp.
[4] Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Thị
M1; Chấp nhận quan điểm đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Tây Ninh tại phiên tòa; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí phúc thẩm:
Căn cứ Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Do không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà M1 nên bà M1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Huỳnh Thị M1.
Giữ nguyên Bản án Dân sự thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 266 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 611, 612, 613, 615, 650, 651, 660 và 136 Bộ luật Dân sự;
9
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ về việc
chia thừa kế tài sản của bà Nguyễn Thị Thanh T đối với nhà, đất và xe ô tô.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Huỳnh Thị M1 về việc chia thừa
kế tài sản của bà Nguyễn Thị Thanh T là tiền cho thuê nhà.
3. Xác định di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Thanh T để lại có tổng giá trị
5.341.747.560 đồng (Năm tỷ, ba trăm bốn mươi mốt triệu, bảy trăm bốn mươi
bảy nghìn, năm trăm sáu mươi đồng).
4. Xác định những người thừa kế theo pháp luật của Nguyễn Thị Thanh
T gồm: Ông Nguyễn Văn Đ; bà Huỳnh Thị M1; cháu Nguyễn Phúc Đan Q; cháu
Nguyễn Phúc Gia H. Mỗi người được hưởng một kỷ phần thừa kế có g
trị 1.335.436.890 đồng (Một tỷ, ba trăm ba mươi lăm triệu, bốn trăm ba mươi sáu
nghìn, tám trăm chín mươi đồng).
5. Về phân chia di sản bằng hiện vật và thanh toán chênh lệch:
5.1. Huỳnh Thị M1 được quyền sdụng thửa đất số 394, tờ bản đồ số 16,
diện tích 297 m², tại D, tỉnh Tây Ninh; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số H02575 ngày 17/3/2008 do UBND huyện D cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh
T;
5.2. Ông Nguyễn Văn Đ trách nhiệm thanh toán cho bà Huỳnh ThM1 số
tiền chênh lệch 935.436.890 đồng (Chín trăm ba mươi lăm triệu, bốn trăm ba
mươi sáu nghìn, tám trăm chín mươi đồng);
5.3. Ông Nguyễn Văn Đ được quyền sở hữu, sử dụng các tài sản sau:
- Nhà ở diện tích 70,9 m
2
, đất ở diện tích 103,9 m², thuộc thửa đất số 68, tờ
bản đồ số 50, tọa lạc tại số A, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh), theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất ở số 1583/2009/UB-GCN ngày 11/6/2009 do UBND huyện H
cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T;
- Căn hộ chung cư số D, tầng 5, Khối B, diện tích 45,4 m
2
, thuộc Chung cư
V (T), hình thức: Sở hữu riêng; đất tại các thửa 618, 642, 643, 644, tờ bản đồ số
24, diện tích 5.282,4 m
2
, hình thức: Sử dụng chung, tọa lạc tại số B T, phường T,
quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường T, Thành phố Hồ Chí Minh),
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CS24767/DA ngày 09/7/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường
Thành phố H cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T;
- Xe ô biển kiểm soát 70A-096.69, nhãn hiệu CHEVROLET, loại ô con,
màu sơn ghi, số chỗ ngồi 05 chỗ, theo Giấy chứng nhận đăng xe ô số 006719.
10
5.4. Ông Nguyễn Văn Đ, cháu Nguyễn Phúc Đan Q cháu Nguyễn Phúc
Gia H cùng sở hữu, sử dụng chung quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
thuộc thửa số 604, tờ bản đồ số 21, diện tích 585 m², tọa lạc tại P, huyện D,
tỉnh Tây Ninh (nay là xã D, tỉnh Tây Ninh), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CS00864 ngày
04/9/2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Văn Đ
Nguyễn Thị Thanh T.
5.5. Kiến nghị quan thẩm quyền thu hồi các giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số: H02575 ngày 17/3/2008 do UBND Huyện D cấp cho bà Nguyễn
Thị Thanh T, số 1583/2009/UB-GCN ngày 11/6/2009 do UBND huyện H cấp cho
ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T, số CS24767/DA ngày 09/7/2018
do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà
Nguyễn Thị Thanh T số CS00864 ngày 04/9/2015 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T, đồng thời
cấp lại giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho các đương sự nêu trên phù hợp
với quyết định của bản án này.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 52.063.107 đồng (Năm mươi hai triệu không
trăm sáu mươi ba nghìn một trăm lẻ bảy đồng), khấu trừ 17.415.000 đồng (Mười
bảy triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông Đ đã nộp theo
biên lai thu số 0001567 ngày 24/07/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Ông Đ còn phải nộp tiếp số tiền là 34.648.107 đồng (Ba mươi bốn triệu sáu trăm
bốn mươi tám nghìn một trăm lẻ bảy đồng).
Cháu Nguyễn Phúc Đan Q phải chịu 52.063.107 đồng (Năm mươi hai triệu
không trăm sáu mươi ba nghìn một trăm lẻ bảy đồng).
Huỳnh Thị M1 và cháu Nguyễn Phúc Gia H được miễn nộp án phí.
7. Về chi phí ttụng khác: Huỳnh Thị M1, cháu Nguyễn Phúc Đan Q
cháu Nguyễn Phúc Gia H mỗi người nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn
Đ 11.777.500 đồng (Mười một triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm đồng)
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản.
8. Về án phí dân sự phúc thẩm: Huỳnh Thị M1 phải chịu 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng nhưng do M1 người cao tuổi được miễn nộp án phí dân sự
phúc thẩm nên bà M1 không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm,
9. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
11. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9 của Luật Thi
11
hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 của Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TPHCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 11 – Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 11 – Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS; AV./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Phước Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 823/2026/DS-PT Bản án số 823/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 823/2026/DS-PT Bản án số 823/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất