Bản án số 104/2026/HS-PT ngày 06/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 104/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 104/2026/HS-PT ngày 06/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 104/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Ninh Văn H - Chế tạo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 104/2026/HS-PT Bản án số 104/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 104/2026/HS-PT Bản án số 104/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 104/2026/HS-PT
Ngày 06 tháng 8 năm 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Toàn.
Các thẩm phán: Ông Hoàng Văn Giang.
Bà Vũ Thị An.
- Thư phiên tòa: Hoàng Thị Miên - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà:
Bà Phùng Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử
phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ số: 76/2026/TLPT-HS ngày
15/6/2026 do kháng cáo của bị cáo Nịnh Văn H và người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan Hoàng Thị N đối với bản án hình sthẩm số 138/2026/HS-ST
ngày 11/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên; theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 81/2026/QĐXXPT-HS ngày 09/7/2026.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ tên: Nịnh Văn H (tên gọi khác: Không); sinh năn 1960; Số CCCD:
************; Nơi ĐKHKTT chỗ : T 1 (t D mi sau sáp nhp t),
phưng Q, tnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá
(học vấn): Lớp 10/10; giới tính: Nam; dân tộc: Sán chay; tôn giáo: Không; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Nịnh Thanh B Phùng Thị P; vợ Hoàng Thị
N; 03 con chung, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền
án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, trước đó không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào, được áp
dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo H theo yêu cầu của bị cáo: Luật Trần Xuân
T, Thị T1 - Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: Số P,
VP3, Bán đảo L, phường H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt ông T, có mặt T1.
* Nguyên đơn dân s kháng cáo: Hoàng Th N, sinh năm 1976.
Nơi cư trú: (t D mi sau sáp nhp t), phường Q, tỉnh Thái Nguyên. Có mt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
2
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ ngày 14/6/2025 Công an phường Q nhận được tin báo từ
quần chúng nhân dân tại số nhà A, ngõ G thuộc tổ A, phường Q, thành phố T,
tỉnh Thái Nguyên (nay phường Q, tỉnh Thái Nguyên) nhà của vchồng
Nịnh Văn H, H vợ chị Hoàng Thị N xảy ra sự việc dấu hiệu Cố ý gây
thương tích. Tổ công tác đến nhà H, tại thời điểm đó H đang ở nhà. Theo H trình
bày sự việc xảy ra vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/6/2025, do vợ chồng xảy
ra mâu thuẫn, H dùng 01 con dao, dạng dao bấm dài khoảng 20cm, phần lưỡi
dao bằng thép màu trắng dài khoảng 10cm, phần chuôi dao bằng thép màu trắng
2 bên chuôi dao được ốp vỏ gỗ dài khoảng 10cm đâm 1 nhát vào háng (bẹn) bên
trái của chị N. Tổ công tác Công an phường đã tiến hành lập biên bản sviệc
theo quy định.
Hồi 15 giờ 35 cùng ngày đã tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc,
kết quả: Hiện trường bị xáo trộn, nhiều vết máu tại cửa, phòng khách, phòng
ngủ, ga trải giường. Tài liệu, đồ vật thu được: 01 con dao bấm dài khoảng 20cm,
phần lưỡi dao bằng thép màu trắng dài khoảng 10cm, phần chuôi dao bằng thép
màu trắng 2 bên chuôi dao được ốp vỏ gỗ dài khoảng 10cm do H giao nộp.
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 12/9/2025 tiến hành xác định hiện trường, kết quả:
Hiện trường chung: hiện trường xảy ra vụ việc tại nhà số A, ngõ G, tổ A,
phường Q, thành phố T (nay tổ D phường Q), tỉnh Thái Nguyên. Hiện trường
là nhà cấp 4, tường gạch, lợp mái tôn có diện tích 76m
2
. Hiện trường cụ thể: Nhà
số A gồm 3 phòng chính: 01 phòng khác 02 phòng ngủ, từ hướng cửa chính
đi vào là phòng khách 16m
2
, phía phải cửa phòng khách tiếp giáp với tường phía
Đông Bắc có kê một giường đơn, Vị trí đầu giường sát cửa phòng ngủ số 2 được
H xác định vị trí để con dao (ký hiệu 1). Phía đầu giường vị trí được H xác
định cầm dao đâm gây thương tích cho chị N (ký hiệu 2). Mẫu vật thu: Không.
Bệnh án ngoại khoa Bệnh viện A, Khoa Ngoại Chẩn Thương G
K24H033L5G2 thể hiện: Hoàng Thị N, vào viện hồi 15 giờ 05 phút ngày
14/6/2025, chẩn đoán vào viện: vết thương hở tại háng; Quá trình bệnh lý: bệnh
nhân bị chồng dùng dao đâm vào bẹn trái, vết thương sắc gọn dài 2cm, chảy
máu nhiều, vào viện điều trị. Ra viện hồi 16 giờ 30 phút ngày 23/6/2025.
Phiếu thủ thuật ghi: “… vết thương vùng bẹn trái kích thước 2cm bờ sắc
gọn, đáy vết thương sâu khoảng 6cm …”
Kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số: 472/KLTTCT-
TTPY ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh T, kết luận
đối với thương tích của chị N:
“1. Các kết quả chính: Hiện tại có 01 vết sẹo phần mềm kích thước nhỏ,
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy
định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giảm định pháp y, xác định
tỷ lệ phần trăm tổn thương thể tại thời điểm giảm định là: 1% (một phần
trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư”.
3
Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật sắc nhọn”.
Tại Kết kuận giám định số 79/KL-KTHS ngày 06/8/2025 của Phòng K,
Công an tỉnh T, kết luận về con dao thu giữ của H: Mẫu vật trong niêm phong
ký hiệu A gửi giám định là dao có tỉnh sát thương cao thuộc phụ lục 5, ban hành
kèm theo thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C,
Trường hợp sử dụng mẫu vật gửi giám định xâm phạm tính mạng sức khỏe
của con người trái pháp luật, đề nghị Cơ quan điều tra nghiên cứu, áp dụng điểm
d, khoản 2, Điều 2, Luật quản lý, sử dụng khí, vật liệu nổ công cụ hỗ trợ
số 42/2024/QH13 ngày 29/6/2024 để xác định mẫu vật trên có thuộc vũ khí quân
dụng không.
Quá trình điều tra đã xác định được hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Từ khoảng đầu năm 2025 nghi ngờ vợ chị Hoàng Thị N không chung thủy
nên H chị N thường xảy ra mâu thuẫn. Khoảng gần 11 giờ 30 phút ngày
14/6/2025, chị N gọi điện cho con trai cháu Nịnh Trường S, sinh năm 2012,
báo trưa không về nhà ăn cơm, sau đó cháu S nói lại cho H biết, H bực tức, cằn
nhằn với cháu S. Cháu S đã nhắn tin cho chN biết nên khoảng 12 giờ cùng
ngày, chị N về nhà ăn cơm. Sau khi ăn xong, chị N tự tháo camera phòng
khách trong nhà xuống. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H đi từ phòng ngủ của H
ra khu vực phòng khách thì không thấy camera đâu, lúc này khi thấy chị N
chuẩn bị đi làm H bảo chị N lấy đồng xu bằng bạc trong két ra cho H đánh gió,
chị N không lấy cho H nên cả hai đã xảy ra tranh cãi. H dùng tay chân giằng
co, đẩy với chị N. Lúc này, cháu Nịnh Trường S đã chạy từ phòng ngủ ra đề
can ngăn nên H và chị N dừng lại, cả hai đi ra khu vực bàn uống nước tại phòng
khách nhưng vẫn tiếp tục xảy ra đẩy, cãi khiến cả hai bị ngã xuống nn
nhà, cháu S lại tiếp tục chạy ra can ngăn. Sau đó, chị N và cháu S vào phòng ngủ
của chị N gấp quần áo, một lúc sau thì H đi vào phòng ngủ, tay phải H cầm lấy
con dao bằng kim loại dài 20cm (loại dao gấp đã mở sẵn lưỡi dao ra) để trên bàn
cất thuốc nam trong phòng khách, sát cửa ra vào phòng ngủ của chị N, đâm
một nhát trúng vùng háng của chị N rồi H đi xuống khu nhà bếp vút dao trong
nhà vệ sinh và cầm giấy vệ sinh để bịt vết thương cho chị N nhưng chị N không
đồng ý, chị N gọi điện thoại cho chị Phạm Thị Kim O người cùng tổ dân phố
sang để chị N đi cấp cứu, chị O đi sang thấy chị N bị thương, chảy nhiều máu đã
hô hoán cho mọi người biết. Một lúc sau, chị O cùng với H, cháu S và chị Lý H1
L người cùng tổ dân phố đưa chị N đến Bệnh viện A cấp cứu, rồi H đi về nhà.
Ngay sau khi nhận được tin báo, Công an phường Q (nay phường Q) đã tới
hiện trường, lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng mời H vtrụ sở để làm
việc.
Vật chứng: 01 con dao là vật chứng của vụ án hiện nay đang bảo quản theo
quy định tại kho vật chứng của Phòng Thi hành án dân skhu vực 1 - Thái
Nguyên, chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: nguyên đơn dân sự chị Hoàng Thị N đơn yêu
cầu bồi thường số tiền 83.567.000 đồng. Bị cáo H nguyện vọng được bồi
4
thường; ngày 05/5/2026 bị cáo H đã nộp 2.500.000 đồng tiền bồi thường tại Thi
hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Tại bản án hình sự thẩm số 138/2026/HS-ST ngày 11/5/2026, Tòa án
nhân dân Khu vực 1- Thái Nguyên đã tuyên bố: Bị cáo Nịnh Văn H phạm tội
Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38; Điều 46,
47 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nịnh Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời
hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành bản án.
Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho Hoàng Thị N số
tiền 25.220.000đ (hai mươi lăm triệu hai trăm hai mươi ngàn đồng), bị cáo đã
nộp 2.500.000 đồng, nay còn tiếp tục phải bồi thường 22.720.000đ (hai mươi hai
triệu bảy trăm hai mươi ngàn đồng).
Ngoài ra bản án còn quyết định về xử vật chứng, án phí và quyền kháng
cáo bản án sơ thẩm.
Ngày 19/5/2026, bị cáo Nịnh Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
xin được hưởng án treo.
Ngày 25/5/2026, nguyên đơn dân sự Hoàng Thị N kháng cáo đề nghị
tăng hình phạt và tăng mức bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 65.067.000đ (bao
gồm tiền viện phí: 2.067.000đ; tiền thuê nhà: 63.000.000đ).
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nịnh Văn H giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo của mình và thừa nhận thừa nhận Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo
đúng người, đúng tội, không oan nhưng bị cáo cho rằng mức hình phạt Toà
án thẩm đã tuyên phần nghiêm khắc. Bị cáo thấy việc làm của mình
sai đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất của vụ án, tuổi cao, hoàn
cảnh gia đình khó khăn để xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Nguyên đơn dân sự bà Hoàng Thị N giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Trong phần phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị hội đồng xét xử:
- Đối với nội dung kháng cáo của bị cáo Nịnh Văn H: áp dụng Điểm b
khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS: Chấp nhận kháng cáo
của bị cáo Nịnh Văn H, sửa bản án thẩm số 138/2026/HSST ngày 11/5/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên xử phạt bị cáo Nịnh Văn H 15
tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng. Ghi nhận việc
bị cáo đã cung cấp thêm tài liệu là biên lai nộp tiền bồi thường thiệt hại cho bà N
với số tiền còn lại 22.720.000 đồng (theo biên lai số 0000037 ngày 10/7/2026
và biên lai số 0000091 ngày 21/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái
Nguyên) như bản án sơ thẩm đã tuyên.
- Đối với nội dung kháng cáo của nguyên đơn dân sự là bà Hoàng Thị N:
+ Về việc đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo H: căn cứ điểm l
khoản 2 Điều 63 BLTTHS thì nguyên đơn dân sự N chỉ được kháng o
bản án sơ thẩm của TAND khu vực 1 tỉnh Thái Nguyên về phần bồi thường thiệt
5
hại, không được kháng cáo về mức hình phạt của bị cáo H. Do đó, cấp phúc
thẩm không chấp nhận đối với nội dung kháng cáo này.
+ Về việc đề nghị tăng bồi thường: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm
b khoản 2 Điều 357 BLTTHS: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn
dân sự Hoàng Thị N, sửa bản án thẩm số 138/2026/HSST ngày
11/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Thái Nguyên về phần trách
nhiệm dân sự, buộc bcáo H phải bồi thường thêm tiền viện phí (theo hóa đơn
số 00087755 ngày 23/6/2026) 2.067.079 đồng. Không chấp nhận đề nghị của
bà N về việc yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền thuê nhà là 63.000.000 đồng do
không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phần tranh luận:
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo H: Nhất trí về tội danh điều
luật áp dụng Kiểm sát viên đã nêu trong Bản luận tội. Tuy nhiên đề nghị
HĐXX xem xét ngoài những tình tiết giảm nhẹ đã nêu bị cáo còn được hưởng
thêm các tình tiết giảm nhẹ khác: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng, phạm tội trong trường hợp bị kích động mạnh về tinh thần do
hành vi trái pháp luật của N gây ra theo điểm e, i khoản 1 Điều 51 Bluật
hình sự; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền 25.220.000đ
theo quyết định của bản án sơ thẩm; ngoài ra bị cáo sức khoẻ yếu, có nhiều bệnh
nền, hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn. Do vậy, đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm
e, i khoản 1 khoản 2 Điều 51 đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự,
giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện VKS đối đáp: Viện kiểm sát không nhất trí về việc vị luật đề
nghị áp dụng thêm 2 tình tiết giảm nhẹ là: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp
ít nghiêm trọng”, phạm tội trong trường hợp bị kích động mạnh vtinh thần do
hành vi trái pháp luật của N gây ra theo điểm e, i khoản 1 Điều 51 Bluật
hình sự áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, vì: bị cáo phạm tội nghiêm trọng;
Khách thể bị xâm hại của tội danh này hoạt động quản hành chính nhà
nước về khí quân dụng nên không căn cứ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
trên. Do vậy, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
Bị cáo H nhất trí, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đnghị
Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Nguyên đơn dân sự giữ nguyên quan điểm, đề nghị Hội đồng xem xét chấp
nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường đối với bị cáo H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về cách tham gia tố tụng của Hoàng Thị N: Theo quy định tại Điều
63 Bộ luật tố tụng Hình sự Hướng dẫn tại điểm a Mục 1.2 Công văn số
6
01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng
dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự: Trường hợp người thực hiện
hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích dưới 11% chỉ bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép khí quân dụng (Điều 304
Bộ luật hình sự) thì “xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị gây thương
tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe là Nguyên đơn dân sự”.
Do đó, việc Tòa án cấp thẩm xác định Hoàng Thị N Người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án” là chưa chính xác theo đúng hướng dẫn
của Tòa án nhân dân tối cao.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, Tòa án cấp thẩm
đã bảo đảm đầy đủ các quyền nghĩa vụ tố tụng của Hoàng Thị N như:
được trình bày lời khai, đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại, tham gia tranh luận
thực hiện quyền kháng cáo theo quy định. Vi phạm nêu trên chỉ thiếu sót
về mặt thủ tục xác định cách tố tụng, không làm ảnh hưởng đến bản chất vụ
án cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của bà N. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc
thẩm thấy cần thiết đính chính, xác định lại cách tham gia ttụng của
Hoàng Thị N là “Nguyên đơn dân sự” trong Bản án phúc thẩm và yêu cầu Tòa
án cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.
- Đơn kháng cáo của bị cáo Nịnh Văn H đơn kháng cáo của Hoàng
Thị N được làm trong thời hạn luật định hợp lệ, nên được chấp nhận xem t
theo th tục xét xử phúc thm.
[2] Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay
khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá
trình điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định tổn
thương cơ thể trên người sống, Kết luận giám định về con dao thu giữ của bị cáo
H các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong hồ vụ án, Hội đồng xét
xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Do mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ sự nghi ngờ vợ bị cáo Hoàng Thị N
không chung thuỷ, ngoại tình (bị cáo đã đi giám định AND xác định cháu
Nịnh Trường S không phải con của bị cáo với N), nên giữa bị cáo vợ
thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vào khoảng 13 giờ ngày 14/3/2025, tại số nhà
A, ngõ G thuộc tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay phường
Q, tỉnh Thái Nguyên), Nịnh Văn H đã hành vi dùng 01 con dao tính sát
thương cao (đủ điều kiện được xác định là vũ khí quân dụng) đâm vào vùng bẹn
trái của chị Hoàng Thị N gây thương tích với tỉ lệ tổn thương thể 1% (Một
phần trăm).
Với hành vi nêu trên, bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nịnh Văn H tội “Sử
dụng trái phép khí quân dụngtheo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự
căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo; nguyên đơn dân sự
đề nghị tăng mức hình phạt và tăng mức bồi thường đối với bị cáo. Hội đồng xét
xử thấy rằng:
7
[3.1]. Đối với kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ xin được hưởng án
treo:
Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bcáo gây nguy hiểm cho hội,
xâm phạm đến chế độ độc quyền quản khí quân dụng của Nhà nước, gây
ảnh hưởng xấu tới trật tự an ninh, an toàn xã hội tại địa phương và gây tác hại về
nhiều mặt đối với đời sống hội. Nên cần xử nghiêm bị cáo để giáo dục
riêng và phòng ngừa chung.
Xem xét nhân thân của bị cáo thấy rằng, bị cáo chưa tiền án, tiền sự,
nhân thân tốt. Tại cơ quan điều tra và tại các phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải, thương tích của bà N không lớn chỉ 1%, bị cáo đã tự nguyện
khắc phục toàn bộ hậu quả theo quyết định của bản án thẩm; bị cáo người
cao tuổi, mắc nhiều bệnh. Đây các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự nào.
Ngoài ra, gia đình bị cáo công với Nhà nước, tại phiên toà phúc thẩm bị
cáo xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới thể hiện: Sau khi xét xử thẩm, bị
cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền 22.720.000đ (Hai mươi hai triệu bảy trăm
hai mươi nghìn đồng) khoản tiền bồi thường trách nhiệm dân sự theo quyết
định bản án thẩm, thể hiện sự tự giác chấp hành quyết định của bản án
thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi trú
ràng, đối chiếu với quy định tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày
15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì bị cáo đủ điều
kiện được hưởng án treo. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nịnh Văn
H, giữ nguyên hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, sửa Bản án
thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Ghi nhận bị cáo Nịnh Văn H đã nộp tiếp số tiền 22.720.00 (Hai mươi hai
triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) khoản tiền bồi thường trách nhiệm dân
sự theo quyết định bản án sơ thẩm.
[3.2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn dân sự (bà N) đề nghị tăng mức hình
phạt và tăng mức bồi thường đối với bị cáo thấy rằng:
- Đối với kháng cáo tăng hình phạt: Như đã phân tích tại mục [1], bị cáo
Nịnh Văn H bị truy tố xét xử về tội Sử dụng trái phép khí quân dụng”
theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Khách thể bị xâm hại của
tội danh này là hoạt động quản lý hành chính nhà nước về vũ khí quân dụng, trật
tự, an toàn công cộng. Hành vi phạm tội của bị cáo tuy gây thương tích cho
Hoàng Thị N (với tỷ lệ tổn thương thể là 1%), nhưng N không phải bị
hại của tội danh quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự thì nguyên
đơn dân sự trong vụ án chỉ quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định
liên quan đến việc bồi thường thiệt hại. Do đó, Hoàng Thị N không có quyền
kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nịnh Văn H. Kháng cáo về phần
hình phạt của N là không hợp lệ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận.
8
- Đối với kháng cáo về yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại tổng số tin
65.067.000 đồng (bao gồm tiền viện phí: 2.067.000đ; tiền thuê nhà:
63.000.000đ): Phần kháng cáo này liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ
dân sự của Hoàng Thị N nên hợp lệ và được Hội đồng xét xxem xét, giải
quyết theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:
+ Đối với khoản tiền viện phí 2.067.000 đồng: Đây khoản thiệt hại thực
tế, hợp pháp (tại phiên toà phúc thẩm bà N mới cung cấp được hoá đơn, chứng
từ) và trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội nên có đủ căn cứ chấp nhận, buộc
bị cáo Nịnh Văn H phải bồi thường cho bà N.
+ Đối với khoản tiền thuê nhà 63.000.000 đồng: Xét thấy khoản tiền thuê
nhà N yêu cầu bồi thường không phải thiệt hại thực tế, trực tiếp phát
sinh từ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng không thuộc phạm vi các khoản thiệt
hại được pháp luật quy định bồi thường do sức khỏe hay tài sản bị xâm phạm.
Do đó, yêu cầu buộc bị cáo bồi thường khoản tiền thuê nhà 63.000.000 đồng
không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên: Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định không
chấp nhận kháng cáo về phần hình phạt của Hoàng Thị N do không hợp lệ;
chấp nhận một phần kháng cáo về yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự của bà
N đối với khoản tiền viện phí phát sinh có hóa đơn là 2.067.000 đồng và bác yêu
cầu bồi thường khoản tiền thuê nhà không căn cứ 63.000.000 đồng; sửa
một phần bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.
[4]. Xét thấy ý kiến của vị luật bào chữa cho bcáo đề nghị áp dụng
thêm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhquy định tại điểm e, i khoản 1
Điều 51 áp dụng Điều 54 BLHS giảm nhẹ hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt không căn cứ, nên không được chấp nhận; đề nghị xem
xét cho bị cáo được hưởng án treo được Hội đồng xét xử xem xét căn cứ
được chấp nhận; mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề
nghị tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên
được chấp nhận.
[5]. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo, nguyên đơn dân sự (chị N) được chấp
nhận nên bị cáo H Hoàng Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm. Bị cáo H được miễn án phí dân sự, nguyên đơn dân sự N phải chịu
3.150.000đ (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự giá
ngạch đối với khoản tiền yêu cầu bồi thường tiền đi thuê nhà là 63.000.000 đồng
không được chấp nhận.
[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét đã hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356; khoản 3 Điều 331 Bộ luật tố
tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của bà Hoàng Thị N;
9
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng
hình sự: chấp nhận một phần kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường của bà
Hoàng Thị N. Sửa bản án hình s thẩm số 138/2026/HS-ST ngày 11/5/2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Thái Nguyên.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng
hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nịnh Văn H;
Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 48,
Điu 65 ca B lut Hình sự; Điều 30; 136, 299, 331, 333 B lut T tng hình
sự; Điều 584, 590, 591, 357, 468 ca B lut dân s; Ngh quyết s
02/2022/NQ-TP ngày 06 tháng 9 năm 2022 v ng dn áp dng mt s
quy định v trách nhim bồi thường thit hi ngoài hợp đồng; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nịnh Văn H phạm tội: “Sử dụng trái phép
vũ khí quân dụng”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nịnh Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng
cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên
án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nịnh Văn H cho Ủy ban nhân dân phường Q, tỉnh Thái Nguyên
nơi bị cáo hiện đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình
bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát,
giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp thay đổi nơi trú thì được thực hiện theo Điều 92 Luật thi
hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo
phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Ninh Văn H2 phải trách nhiệm
bồi thường cho Hoàng Thị N tổng số tiền 27.287.000đ (Hai mươi bảy triệu
hai trăm tám mươi bảy nghìn đồng), đã nộp 25.220.000 đồng, bị cáo còn tiếp tục
bồi thường số tiền 2.067.000 đồng (Hai triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn
đồng).
* Ghi nhận bị cáo Nịnh Văn H đã nộp tổng số tiền 25.220.000đ (Hai mươi
lăm triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) tiền bồi thường trách nhiệm dân sự
theo quyết định bản án thẩm (tại Biên lai thu tiền số 0000481 ngày
05/5/2026; Biên lai thu tiền số 0000037 ngày 10/7/2026 Biên lai thu tiền số
0000091 ngày 21/7/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, người quyền yêu cầu thi hành
án đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi
hành số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương
ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong. Mức lãi suất chậm trả do
các bên thỏa thuận nhưng không được vượt q20%/năm của khoản tiền chậm
10
trả. Trường hợp không thỏa thuận được về lãi suất chậm trả thì được xác định
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Án phí: Bị cáo Nịnh Văn H được miễn án phí hình sự phúc thẩm án
phí dân sự; nguyên đơn dân sự Hoàng Thị N không phải nộp án phí hình sự
phúc thẩm; bà N phải nộp 3.150.000đ (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng)
án phí dân sự có giá ngạch.
5. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị, hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc
thẩm.
(Trường hp bn án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điu 2
Lut thi hành án dân sự, thì người đưc thi hành án dân sự, người phi thi hành
án dân s quyn tho thun thi hành án, yêu cu thi hành án, t nguyn thi
hành án hoc b ng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6, Điều 7b và
Điu 9 Lut thi hành án dân s; thi hiệu thi hành án đưc thc hin theo quy
định tại Điều 30 Lut thi hành án dân s).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- Công an tỉnh Thái Nguyên;
- Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- Thi hành án DS tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND Khu vực 1-Thái Nguyên;
- TAND Khu vực 1-Thái Nguyên;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng;
- Hồ sơ THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Toàn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 104/2026/HS-PT Bản án số 104/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 104/2026/HS-PT Bản án số 104/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất