Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT ngày 10/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT ngày 10/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 09/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 09/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 10 - 8 - 2026
V/v ly hôn, tranh chấp vnuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Viết Toàn.
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Hành;
2. Bà Lê Thị Mỹ Giang.
- Thư phiên tòa: Huỳnh Thị Ngọc Hiếu - Thư Tòa án, Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Nguyễn Thị Kim
Yến - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân n tỉnh Quảng Ngãi m
phiên tòa xét xphúc thẩm ng khai vụ án thụsố 12/2026/TLPT-HNGĐ ngày
24 tháng 7 năm 2026,
về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Do kháng
cáo đối với Bản án n sự thẩm s11/2026/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 4 m
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ni. Theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử phúc thẩm s138/2026/QĐ-PT ngày 30 tháng 7 m 2026, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy N, sinh ngày 1994; địa chỉ: Thôn F,
M, tỉnh Quảng Ngãi. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Trung K, sinh ngày 1989; địa chỉ: Thôn A, L, tỉnh
Quảng Ngãi. (Có mặt).
- Người kháng cáo: Anh Lê Trung K là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm tnội dung v án được tóm tắt như sau:
1.1. Theo các tài liệu, chứng ctrong hồ sơ vụ án thì nguyên đơn chị
Trần Thị Thúy N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Trung K tổ chức l cưới theo phong
tục truyền thống đăng ký kết hôn vào ngày 22/11/2021 tại Ủy ban nhân n xã
Đ, huyn M (nay L), tỉnh Quảng Ngãi. Trước khi kết hôn, chị anh K
tự nguyện tìm hiểu, yêu thương, không b ai ép buộc. Sau khi kết hôn, chị và anh
K sống cùng nhà vi cha, mđẻ của anh K tại thôn A, xã L, tỉnh Quảng Ngãi;
cuộc sống vchồng hạnh phúc được khoảng 04 m thì phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan đim sống nên thường
xuyên i vã; chị đã cố gng nói chuyện, chia sẽ cuộc sống với anh K để đời sống
2
vợ chồng được hòa hợp, nhưng mẫu thun vợ chồng vẫn không được cải thin mà
ngày ng trầm trọng hơn. Đến tháng 6 năm 2025, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm
trọng nên chị đưa con chung là cháu Lê Trần Nhật K1 về nhà mđẻ của chị tại
thôn F, xã M, tỉnh Quảng Ngãi để sinh sống. Kể từ khi chị đưa con về nhà mẹ đẻ
của chị sinh sng cho đến nay, anh K thỉnh thoảng có đến thăm con; chị và anh K
nói chuyện vi nhau nhiều lần, nhưng quan điểm sống giữa 02 vợ chồng vẫn
không thay đổi, trái lại mâu thuẫn vợ chồng ngày ng trầm trọng hơn. Cũng trong
khoảng thời gian này, chị đã nộp đơn khởi kin xin ly hôn với anh K, qtrình
gii quyết vụ án đã được Thm phán phân tích, gii thích, động viên, hòa gii nên
chị đã rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, kể từ khi chị rút đơn và Tòa án đã đình chỉ
gii quyết vụ án, anh K vẫn giữ nguyên tính cách như trước, chỉi nhưng không
hành động thể hin mong muốn vợ chồng được đoàn tụ, cùng nhau xây dựng
gia đình. Nay, chị xác định không n tình cảm với anh K, mâu thuẫn vợ chồng
không thể hàn gn được, vchồng đã sống ly thân lâu ngày, mục đích hôn nhân
không đạt được, chị yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ngãi giải quyết
cho chị được ly hôn anh Lê Trung K.
Về con chung: Chị với anh K có 01 (một) con chung tên Lê Trần Nhật K1,
sinh ngày 08/7/2023; từ khi vợ chồng sống ly cho đến nay cháu K1 do chị trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển bình thường. Khi ly hôn, chị yêu cầu Tòa
án giao cháu K1 cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục...; chị
không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi cháu K1, vì hiện tại chị ng việc buôn
bán n định, đkhả năng tài chính chủ động vthời gian để chăm sóc, nuôi
dưỡng cháu K1.
Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện, chị N trình bày vợ chồng không có i
sản chung, nhưng tại bản tự khai 05/11/2025 chị trình bày vợ chồng i sản
chung gồm: tủ đựng quần áo, kệ dùng để đựng hàng hóa mua n hng ngày tr
giá 20.000.000 đồng số tiền mặt hiện nay chị đang giữ 20.000.000 đồng,
tổng cộng 40.000.000 đồng. Trường hợp anh K yêu cầu chia tài sản chung
thì chị đồng ý chia cho anh K số tiền 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, trước khi Tòa
án tiến hành phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chị và
anh K đã thống nhất, thỏa thuận về tài sản chung của vợ chồng, theo đó chị vi
anh K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về n chung: Không và cam kết lời trình y của chị là đúng sthật,
chịu trách nhiệm về li trình bày của mình trước pháp luật.
Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.
1.2. Tại bản trình bày ngày 17/11/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa bị đơn là anh Trung K trình bày:
Về quá trình tìm hiểu, đăng kết hôn, con chung, i sản chung, nchung,
thi gian vợ chồng sống ly thân...giống như chị N đã trình bày. Tuy nhiên, về
nguyên nhân mức độ mâu thuẫn vợ chồng thì chị N trình y không đúng. Theo
anh, vợ chồng mâu thuẫn, nhưng không đến mức trầm trọng, chỉ bất đồng
quan điểm về việc sắp xếp, cân đối thi gian hợp lý để chăm sóc con với thi gian
mua n của chị chị N. Nay, anh không đồng ý ly hôn, anh vẫn n tình cảm
3
với chị N, mặt khác mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trm trọng, có thể hàn gn
được. Việc chị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn vi anh là do chị N suy nghĩ chưa
chín chắn.
Trường hợp chị N kiên quyết ly hôn và có căn cứ để Tòa án cho ly hôn t
về con chung là cháu Lê Trần Nhật K1 anh đề nghị Tòa án giao cho anh được trực
tiếp cm sóc, nuôi dưỡng; anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con vì điều
kin kinh tế, khả năng cm sóc con của anh tốt hơn chị N.
2. Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án n sthẩm số 11/2026/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân n khu vực 4 - Quảng Ngãi đã tuyên xử: Chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy N về việc “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con” với bị đơn anh Lê Trung K.
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thúy N được ly hôn với anh
Trung K.
2.2. Về con chung: Giao con chung n Lê Trần Nhật K1, sinh ngày
08/7/2023 cho chị Trần Thị Thúy N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục; chị N kng yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng
xét xử không xem xét giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh K.
2.3. Về tài sản chung: Anh K, chị N tự thỏa thuận, không yêu cầu gii quyết.
Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án pquyền kháng o của các đương
sự.
3. Về kháng cáo, kháng nghị:
- Ngày 16/4/2026, anh Lê Trung K đơn kháng o đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm: Sửa bản án sơ thm số 11/2026/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ngãi theo hướng giao con chung là cháu
Trần Nhật K1, sinh ngày 08/7/2023 cho anh được trực tiếp, chăm sóc, nuôi
dưỡng, không yêu cầu chị Trần Thị Thúy N cấp dưỡng nuôi con.
- Nguyên đơn chị Trần Thị Thúy N không kháng cáo Bản án không bị
kháng nghị.
4. Diễn biến phn tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn chị Trần Thị Thúy N không cung cấp thêmi liệu chứng cứ
, không rút đơn yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu ly n, tranh chấp nuôi
con với anh K.
- Bị đơn anh Trần Trung K2 không cung cấp thêm i liu chứng cứ gì, giữ
nguyên nội dung đơn kháng cáo.
- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
5. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử pc thẩm:
4
- Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong qtrình
gii quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm: Đm bảo quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của
pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa các thủ tục khác được Hội đồng xét
xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều
234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm n cứ
khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo,
giữ nguyên bản án thẩm s11/2026/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - Qung Ni. Buộc ngưi kháng cáo anh Trn Trung
K2 phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét, sau khi đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp thẩm thụ giải quyết vụ án là đúng
thm quyền; xác định đúng mối quan hệ tranh chấp được quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 35, Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/HNGĐ-ST, ngày 06/4/2026 Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Quảng Ngãi xét xử vụ án nêu trên. Đến ngày 16/4/2026, bị
đơn anh Lê Trung K đơn kháng cáo còn trong thời hạn theo quy định tại
khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng n sự năm 2015, nên được chấp nhận xemt,
gii quyết.
[2]. Xét kháng cáo của anh Lê Trung K, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Tại khoản 1 Điu 81 Lut hôn nhân và gia đình quy định “Sau khi ly
hôn, cha mẹ vẫn quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chưa thành niên.... Trong vụ án này, chN và anh K có 01 con chung là cháu
Trần Nhật K1, sinh ngày 08/7/2023. Như vậy, anh K với chị N đều quyền
được nuôi con. Nay anh, chị tranh chấp về quyền nuôi con nên cần xem t mt
cách toàn diện để đảm bảo quyền lợi chính đáng lợi ích tốt nhất cho các con.
[2.2]. Anh K cho rằng thu nhập của chị N không đủ điều kiện nuôi con và
kiến thức của chị N hạn chế nên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con. Tuy nhiên, trong qtrình giải quyết vụ án tanh K cũng
thừa nhận từ khi anh, chị ly thân từ tháng 06/2025 đến nay, chị N dẫn con về ngoại
là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K1 cho đến nay thì cháu
K1 phát triển tốt về mọi mặt, lanh lợi, hoạt t, không bất cứ dấu hiệu tổn hại
nào về thể chất và tinh thần. Ngoài ra, anh K n cho rằng chị N bị tác động bởi
mruột nên thường xuyên tập trung vào công việc mua n, bỏ con cái
thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình nên nếu để chị N nuôi con sẽ không tốt,
ảnh hưởng đến sự phát triển mọi mặt của con.
5
Tuy nhiên, trong giai đoạn phúc thẩm tại phiên tòa phúc thẩm, anh K
không cung cấp được tài liệu, chứng ccó căn cứ nào để chứng minh cho li trình
bày của mình là có căn cứ, hợp pháp; chị N không thừa nhận những lời trình bày
trên của anh K.
[2.3]. Tính từ thời điểm Tòa án cấp thẩm thụ vụ án tcu K1 còn
nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi nên theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân
gia đình sgiao cu K1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; hơn nữa việc trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ đối với con dưới 36 tháng tuổi sẽ tốt
hơn. Hiện nay, cháu K1 đang ở cùng với chị N, trường hp giao cháu K1 cho anh
K trực tiếp nuôi dưỡng thì phải thay đổi về chỗ ở, trường học trong khi cháu K1
còn quá nhỏ, sẽ khó khăn trong việc hòa nhập vi môi trường mới. Do đó, để hạn
chế việc xáo trộn về mọi mt, ảnh hưởng đến việc sinh hoạt đảm bảo sự phát
triển bình thường về thể chất, tinh thần của cháu K1, Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của anh K.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng Bản
án cấp thẩm giải quyết, xét xử căn cứ, yêu cầu kháng cáo của anh Lê
Trung K kng sở. Do đó, Hội đồng xét xử căn ckhoản 1 Điều 308 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của anh K, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh K phải chịu án phí n s
phúc thẩm.
[3]. Các phần khác của bản án thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kng nghị.
[4]. Đề nghị của đại diện Viện kim sát nhân n tỉnh Quảng Ngãi phù hợp
với nhận định trên.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Trung K; Giữ nguyên bản án hôn
nhân gia đình sơ thm số 11/2026/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 4 năm 2026 của Tòa
án nhân n khu vực 4 - Quảng Ngãi về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
giữa nguyên đơn chị Trần Thị Thúy N với bị đơn anh Lê Trung K.
2. Về án phí: n cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ lut tố tụng n s2015
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
min, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án plệ pTòa án của y ban
Thường vụ Q;
Buộc anh Trung K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn) tiền án p
dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào stiền tạm ứng án phí dân sphúc thẩm
đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn) theo Biên lai số 0002263 ngày 21/5/2026
của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Anh Trung K đã nộp đủ án phí n
sự phúc thẩm.
6
3. Các quyết định khác ca bản án sơ thẩm kng kháng cáo, kháng
nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND khu vực 4 - Quảng Ngãi;
- Phòng THADS KV 4 - Quảng Ngãi;
- UBND xã Long Phụng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án; lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Hà Viết Toàn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất