Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 24/04/2025 của TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 06/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 24/04/2025 của TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Gia Nghĩa (TAND tỉnh Đắk Nông)
Số hiệu: 06/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/04/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ GIA NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 06/2025/DS-ST
Ngày: 24-4-2025
V/v: Tranh chấp quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông và Lương Xuân Quyền.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Th Lan Hương - Kim sát vn.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại phòng xán Tòa án nhân dân thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tiến hành xét xử công khai ván dân sự thẩm thụ số:
106/2022/TLST-DS, ngày 24/10/2022, về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 12 năm
2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đoàn Văn A, sinh năm: 1972;
Địa chỉ: Số nhà C N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Nguyễn Thị Xuân L, sinh năm
1969. Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (theo văn
bản ủy quyền ngày 16/12/2022) Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Lê N, sinh năm: 1963;
Địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1963; bà Lê Thị K, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông Vắng mặt.
- Ông Tạ Văn O, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông đơn xin
vắng mặt.
4. Người làm chứng: Ông Lương Văn H1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị
Diễm P, ông Nguyễn Anh V Có đơn xin vắng mặt
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/10/2022 trong quá trình giải quyết v án
nguyên đơn ông Đoàn Văn A đại diện y quyền của nguyên đơn Đào Thị
Xuân L1 trình bày:
Ông Lương n H1 Nguyễn Thị Diễm P chuyển nhượng cho ông
Đoàn Văn A 01 thửa đất vào ngày 05/12/2012 với số tiền 110.000.000đ, diện
tích khoảng 1,3ha, đất tứ cận phía đông giáp suối, phía Tây giáp đường dân
sinh, phía Nam giáp đất ông N, phía Bắc giáp đất ông Lương Văn H1 chiều
ngang mặt đường 110m, chiều sâu 200m. Hai bên lập giấy mua bán viết tay
ghi ngày 05/12/2012, ông A đã trả đủ tiền mua đất cho vợ chồng ông H1 và ông
N tên hộ giáp ranh. Vợ chồng ông H1 đã giao đất trên thực địa chỉ ranh
mốc thửa đất với hộ giáp ranh ông N hàng cây Mít được trồng trước thời
điểm chuyển nhượng một vài cây rừng cổ thụ chạy thẳng từ mặt đường xuống
dưới sình, trên đất nhận chuyển nhượng được ông H1 trồng sẵn cây cao su, còn đất
của ông N trồng điều và để hoang một phần.
Sau khi nhận chuyển nhượng ông sử dụng ổn định, không tranh chấp.
Năm 2017 khi Nhà nước đo đạc cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông các hlân
cận, ông N vẫn giáp ranh xác nhận kết quđo đạc. Ngày 05/9/2018, ông Đoàn
Văn A được cấp GCNQSDĐ theo sổ số CN227522 số thửa 8, tờ bản đồ số 40
(TDD-2017), diện tích 11.196,1m
2
, địa chỉ: Thôn N, Đ, thị G, tỉnh Đắk
Nông. Tuy nhiên đến năm 2021, ông N lấn chiếm đất, chặt bỏ cây cao su của ông
để trồng cau và phê, chặt bỏ các cây rừng cổ thụ ranh mốc đất của hai bên và
đổ trụ bê tông, dùng dây kẽm gai rào lại để lấn chiếm đất của ông. Do đó, ông khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N phải chặt bỏ hoặc di dời cây trồng trên
đất lấn chiếm trả lại cho ông diện tích đất đã lấn chiếm khoảng 1.000m
2
. Ngày
18/4/2024, ông A thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc ông N bà Phạm Thị H
phải trả lại 665,6m
2
đất lấn chiếm, giao toàn bộ tài sản trên đất cho ông A. Ông A
đồng ý trả lại cho ông N Phạm Thị H số tiền giá trị cây cối trên đất
ông N đã trồng lấn qua đất của tôi theo giá của Công ty thẩm định giá.
Quá trình giải quyết vụ án: Ông A có lời khai xác định thửa đất ông mua của
ông H1, bà P và được cấp GCNQSDĐ là cùng một thửa. Nguyên nhân dẫn đến xác
định tứ cận khác nhau giữa “Giấy sang nhượng đất” viết tay (phía Đông giáp suối,
phía Tây giáp đường dân sinh, phía Nam giáp đất ông N, phía Bắc giáp đất
ông Lương Văn H1) quá trình xem xét thẩm định thực địa cùng GCNQSDĐ
(phía Đông giáp đất ông N, phía Tây giáp đất ông Nguyễn Anh V (ông H1
chuyển nhượng lại), phía Nam giáp đường dân sinh, phía Bắc giáp đất suối)
tại thời điểm mua bán đất chưa được đo đạc chi tiết, nên ông A cùng ông H1, bà P
cũng không xác định được chính xác các hướng của thửa đất. Đối chiếu với giấy tờ
mua bán cùng việc đo đạc hiện trạng sử dụng đất thì ông A xác định tứ cận lại theo
GCNQSDĐ cho đúng hiện trạng.
3
Bị đơn ông N người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị
H,bà Thị K đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tại
Tòa án nhưng không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai nên không
lời trình bày của ông, bà.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tạ Văn O trình bày: Về
nguồn gốc thửa đất số 09, tờ bản đồ TDD-2017 hiện đã chuyển nhượng cho ông
N và bà Phạm Thị H có nguồn gốc là do ông O khai hoang năm 2000. Khoảng năm
2013 ông O bán thửa đất trên cho ông N, diện tích khoảng 17.000m
2
. Khi
chuyển nhượng đất chưa được cấp GCNQSDĐ nên chỉ lập giấy tờ viết tay. Đất
tứ cận như sau: Phía Bắc giáp rừng, phía Nam giáp đường đất, phía Tây giáp đất
ông Đoàn Văn A, phía Đông giáp đất còn lại của Tạ Văn O. Khi bán giao đất
cho ông N thì ranh giới giữa đất của ông O ông Đoàn Văn A được xác định
hàng cây mít tính từ cây cuối cùng kéo thẳng xuống đất rừng. Ông O không
tranh chấp với ông N, đất đã bán xong nên ông O không ý kiến đối với
việc ông A tranh chấp với ông N, ông đề nghị giải quyết vắng mặt.
Người làm chứng trình bày:
Ông Lương Văn H1 Nguyễn Th Diễm P: Ông H1, P vợ
chồng, khoảng năm 2012-2013 ông nhận chuyển nhượng của ông B (không
nhớ hnăm sinh, hiện nay đã về Quảng Ngãi, địa chỉ cụ thể không biết)
thửa đất tại thôn N, Đ. Vợ chồng ông B sang nhượng đất chỉ giấy viết tay, trên
đất ông B đã trồng cây cao su, đất chưa GCNQSDĐ, khi chuyển nhượng giữa
ông H1, P ông B ng chỉ áng diện tích bằng 1,2ha hoặc 1,3ha. Thời gian
ông sử dụng đất vẫn chưa cấp GCNQSDĐ. Trước khi chuyển nhượng lại cho
ông A thì phần đất hiện đang tranh chấp vẫn chưa sử dụng còn nguyên hiện
trạng như ông B chuyển nhượng. Ranh giới xác định ông chỉ nhớ 1 cạnh giáp
nhà ông (năm 2019 chuyển nhượng lại cho ông V), một cạnh giáp nhà ông N1,
một cạnh giáp đường đi, cạnh còn lại giáp suối. Thời điểm chuyển nhượng không
ký giáp ranh. Đối với giấy chuyển nhượng viết tay thì ông bà thừa nhận đúng là
chữ và chữ viết của ông bà, còn chviết Năngdo ai viết ông
không biết, đất hướng diện ch trong Giấy chuyển nhượng đúng. So với
GCNQSDĐ cấp cho ông A giấy sang nhượng khác về tứ cận do ông
không xác định được hướng Đ, T, N2, B1 còn giáp ranh vẫn đúng như vậy. Ông bà
khẳng định GCNQSDĐ cấp cho ông Đoàn Văn A đúng với giấy sang nhượng.
Ranh giới xác định với ông N một đường thẳng không phải đường cong
như thực trạng đo vẽ. Hiện nay ông không còn lưu giấy tờ gì. Quá trình ông
sử dụng đất đến m 2019 không tranh chấp với ông N, năm 2019 ông
chuyển về quê sinh sống. Ông A xác định ranh giới mốc từ khi giao đất cho ông A
hàng mít ông H1 trồng kéo thẳng từ ngoài đường đến gần cuối do đúng. Theo
kết quả đo đạc xác định vị trí đất tranh chấp 665,6m
2
tương đối đúng, ông
không ý kiến gì. Đất tranh chấp nằm trong phần diện tích ông bà đã
chuyển nhượng cho ông A. Ông bà có đơn xin giải quyết vắng mặt.
4
Ông Nguyễn Anh V: Ông người đất giáp ranh với thửa đất của ông
Đoàn Văn A, em ruột của Nguyễn Thị Xuân L ( đại diện ủy quyền của ông
Đoàn Văn A). Năm 2019, ông nhận chuyển nhượng của ông Lương Văn H1 thửa
đất số 06, diện tích 33.281,3m
2
, tại thôn N, Đ, G, Đ giáp ranh thửa đất của ông
Đoàn Văn A. Giữa ông A ông V không tranh chấp gì. Đối với phần đất giáp
ranh với ông A và ông N theo ông biết được xác định bằng hàng mít kéo từ đường
mòn thẳng xuống hết đất ông A cuối cùng là các cây chuối. Khi ông V nhận
chuyển nhượng thì đất ông N đã trồng phê, điều, còn đất ông A trồng cao su.
Ông đề nghị giải quyết vắng mặt.
Tại phiên tòa nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện so với đơn
khởi kiện ban đầu, không buộc bị đơn di dời, nhổ bỏ cây trồng trên đất lấn chiếm
mà yêu cầu được giao lại các tài sản trên đất để sử dụng. Bị đơn và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Toà án cấp thẩm thụ vụ án đúng thẩm
quyền quy định tại Điều 26, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về người tham
gia tố tụng và thu thập chứng cứ: Toà án xác định đúng người tham gia tố tụng, thu
thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng
đúng quy định, chuyển hồ cho Viện kiểm sát đảm bảo đúng theo quy định của
pháp luật. Tại phiên toà thẩm, Hội đồng xét xđã chấp hành đầy đđảm bảo
đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166
Bộ luật Dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn A, buộc
ông N phải trả lại ông A diện ch đất lấn chiếm 665,6m
2
,
thuộc thửa đất số
08, tờ bản đồ số 40 (TDD-2017) tại thôn N, Đ, TP ., tỉnh Đắk Nông. Giao cho
ông A được quyền quản lý, chăm sóc, hưởng hoa lợi đối với toàn bộ cây trồng trên
diện tích đất 665,6m
2
, gồm 40 cây phê loại C, 40 cây cau loại C 20 cây điều
loại C. Buộc ông A phải thanh toán cho ông N giá trị cây trồng trên đất với số
tiền 15.134.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết qu
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1. Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 665,6m
2
. Do đó, xác định
quan hệ “Tranh chấp quyền sử dụng đất” quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Đất tranh chấp tại thôn N, Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; căn
5
cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
thẩm quyền giải quyết thuộc vTòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk
Nông.
[1.2]. Bị đơn ông N những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Phạm Thị H, Thị K mặc đã được Tòa án triệu tập hợp lnhiều lần nhưng
đều vắng mặt. vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định
pháp luật tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1.] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại diện tích lấn chiếm
là 665.5m
2
tọa lạc tại thôn N, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông:
[2.1.1]. Ông Đoàn Văn A được Ủy ban nhân dân thị G (nay thành phố
G) cấp GCNQSDĐ theo sổ số CN227522 ngày 05/9/2018 số thửa 8, tbản đồ s
40 (TDD-2017), diện tích 11.196,1m
2
. Về nguồn gốc đất ông Đoàn Văn A nhận
chuyển nhượng từ ông Phạm Lương H2 Nguyễn Thị Diễm P. Tại thời điểm
chuyển nhượng đất chưa được cấp GCNQSDĐ. So với diện tích mà ông H2, bà P
chuyển nhượng cho ông A là khoảng 13.000m
2
thì ông A kê khai và được cấp phần
diện tích ít hơn giấy tờ mua bán, tại thời điểm cấp GCNQSDĐ đã thực hiện đúng
trình tự, thủ tục theo quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn khác.
Căn cứ vào mảnh trích đo của Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đ xác định
ông A sử dụng đất ngoài thực tế 11.196,1m
2
(phần không tranh chấp là
10.530,5m
2
phần đất tranh chấp 665,6m
2
), khớp với phần diện tích đất tại
GCNQSDĐ mà ông A được cấp. Đối chiếu với lời khai của ông A những người
làm chứng nông H2, ông V chính chủ đất của ông N ông O cũng
xác định phần ranh giới phía Nam thửa đất của ông A tiếp giáp thửa đất số 09 của
ông N hàng cây Mít được trồng trước thời điểm ông A nhận chuyển nhượng
kéo thẳng xuống hết đất. Theo hiện trạng xem xét thẩm định thì phần phía Đông
giáp đường dọc theo ranh giới giữa thửa đất ông A ông N hiện còn hàng Mít
được xem là phần ranh giới. Nếu kéo thẳng xuống hết đất theo đúng phần diện tích
ông A chỉ ranh thì nằm hoàn toàn trong GCNQSDĐ tờ bản đồ số 40 (TDD-
2017). Như vậy, nội dung khởi kiện của ông A yêu cầu ông N, H trả lại diện
tích đất lấn chiếm là 665,6m
2
căn cứ, phù hợp với hiện trạng sử dụng đất sau
khi lồng ghép lên bản đồ giải thửa, phù hợp với quy định của Luật đất đai năm
2024.
[2.1.2]. Ông Lê N và bà Phạm Thị H (vợ ông N) chưa được cấp GCNQSDĐ.
Theo hồ thu thập tại UBND Đ Chi nhánh văn phòng đăng đất đai thì
phần đất của ông N, H đang sử dụng tên trong sổ mục bản đồ số 40
(TDD-2017), diện tích 17.683.8m
2
đất ký hiệu CLN (cây lâu năm). Tuy nhiên, đến
nay UBND Đ Chi nhánh văn phòng đăng đất đai thành phố G chưa nhận
hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của ông N Phạm Thị H. Ông Tạ Văn O
người bán đất cho ông N lời khai xác định ông O bán cho ông N diện tích
6
khoảng 17.000m
2
, đối chiếu với kết quả đo đạc và tờ bản đồ số 40 (TDD-2017) t
phần đất ông N đang sử dụng nhiều hơn phần đất ông N nhận chuyển nhượng diện
tích thực tế sử dụng của ông N 17.793,2m
2
(chưa tính đến phần đất tranh chấp
665,6m
2
). Mặc khác, theo kết quả lồng ghép của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ
thì phần đất tranh chấp nằm hoàn toàn trong GCNQSDĐ của ông Đoàn Văn A n
đã phân tích ở trên.
Ngay khi xảy ra tranh chấp vào năm 2021, ông A đã đơn kiến nghị gửi
đến thôn N UBND Đ đề nghị hòa giải. Chính quyền địa phương thôn
UBND đã đến vị trí đất tranh chấp xác minh, ghi nhận hiện trường thể hiện nội
dung ông N pcây, rào đất như nội dung ông A phản ánh tiến hành mời các
bên tham gia hòa giải, tuy nhiên ông N không hợp tác (BL 10).
Tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa đất số 08 của ông N do
Tòa án thu thập thể hiện: Bản tả ranh giới, mốc giới thửa đất số 08 thể hiện
ranh giới giữa đất của ông A và ông N đường thẳng từ mốc số 02 đến mốc số 04
trên bản tả. Bản tả chi tiết ranh mốc thể hiện từ mốc số 02 đến mốc 04
cọc gỗ, ranh giới đất là hàng cây. Phía dưới bản mô tả chi tiết thể hiện ông Lê N đã
ký tên đồng ý là hộ có đất liền kề.
Do đó, căn cứ lời khai về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của các đương
sự, người làm chứng; căn cứ kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ lồng
ghép lên bản đồ giải thửa; căn cứ hồ sơ cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất và
các tài liệu liên quan; Hội đồng xét xxét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông Đoàn Văn A về việc buộc ông N Phạm Thị H phải trả lại diện
tích đất lấn chiếm là 665,6m
2
tại thôn N, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; đất có
tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất Năng thửa số 09, tờ bản đồ s40 (TDD-
2017); phía Tây giáp thửa số 08, tờ bản đồ s40 (TDD-2017) của ông Đoàn Văn
A, phía Nam giáp đường đất; phía Bắc giáp suối.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Lê N phải phá bỏ cây
cối ông N đã trồng trái phép trên đất tranh chấp. Ngày 18/4/2025 ông A
đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện đồng ý nhận cây cối trên đất do ông N trồng lấn
đất trả lại cho ông N Phạm Thị H số tiền giá trị cây cối trên đất
ông N đã trồng lấn qua đất của ông A theo giá của Công ty thẩm định giá:
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ xác định các cây trồng trên phần
đất tranh chấp gồm có: 03 cây Mít trồng trước khi ông A mua đất (không năm);
40 cây Cà Phê trồng năm 2021; 40 cây Cau mới trồng (không rõ năm); 20 cây Điều
mới trồng năm 2021. Căn cứ GCNQSDĐ theo sổ số CN227522 ngày 05/9/2018 số
thửa 08, tờ bản đồ s40 (TDD-2017), diện tích 11.196,1m
2
UBND thị G đã
cấp cho ông Đoàn Văn A; việc ông N trồng cây trên đất được xác định thuộc
quyền sử dụng của ông A thuộc vào những hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh
vực đất đai quy định khoản 1 Điều 11 Luật đất đai năm 2024. Tuy nhiên, nhận thấy
những cây này được ông Năng T1 trước thời điểm khởi kiện tại Toà án; những
7
loại cây này giá trị sử dụng gtrị kinh tế; Xét thấy, các cây trồng tài sản
gắn liền trên đất thuộc cây trồng lâu năm không thể hủy bỏ hoặc di dời còn giá
trị sử dụng, phù hợp với mục đích sử dụng đất. Để giải quyết vụ án triệt để và toàn
diện tcần phải xem xét giải quyết luôn trong vụ án, giao cho người được quyền
sử dụng thì người đó phải trả tiền cho người đã tạo lập theo giá trị đã được thống
nhất nêu trên. Ông A đã tự nguyện trả cho ông N số tiền giá trị cây theo Chứng thư
thẩm định giá số 07151/2024/CT-VATC ngày 27/4/2024 do Công ty cổ phần T2
thực hiện. Hàng cây M là hàng rào ranh giới tự nhiên nên không giao cho ông A sử
dụng, cần giao 40 cây phê loại C trị giá 6.192.000đ, 40 cây cau loại C trị giá
3.416.000đ 20 cây điều loại C trị giá 5.526.000đ. Tổng giá trị cây cối trên đất
tranh chấp ông A phải thanh toán cho ông N 15.134.000đ. Do đó, cần chấp
nhận yêu cầu của ông A về việc ông A trả cho ông N, H số tiền theo thẩm định
giá 15.134.000đ.
[3] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, cần chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông N, H phải chịu
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản; tổng chi phí 16.820.000đ.
Ông Đoàn Văn A đã nộp tạm ứng số tiền này, do đó cần buộc ông N
Phạm Thị H phải trả cho ông Đoàn Văn A 16.820.000đ. Ông Đoàn Văn A phải
chịu phi phí khai thác tài liệu là 600.000đ.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị
đơn phải chịu tiền án phí theo quy định.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều
157, khoản 1 Điều 165 của luật Tố tụng dân sự; các điều 11, 236 Luật đất đai
2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn A.
Buộc ông N Phạm Thị H phải trả cho ông Đoàn Văn A diện tích đất lấn
chiếm là 665,6m
2
tại thôn N, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; đất có tứ cận như
sau:
Phía Đông giáp đất Lê Năng thửa số 09, tờ bản đồ số 40 (TDD-2017);
Phía Tây giáp thửa số 08, tờ bản đồ số 40 (TDD-2017) của ông Đoàn Văn A;
Phía Nam giáp đường đất;
Phía Bắc giáp suối.
8
(Kèm theo mảnh trích đo hiện trạng số 296-2023 của Văn phòng đăng
đất đai tỉnh Đ).
2. Giao các tài sản gồm: 40 cây Phê trồng năm 2021; 40 cây Cau mới
trồng (không năm); 20 cây Điều mới trồng năm 2021 trên diện tích đất tranh
chấp 665,6m
2
tại thôn N, Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông cho ông Đoàn Văn A
được quyền sở hữu.
3. Buộc ông Đoàn Văn A phải thanh toán giá trị cây trồng gắn liền với diện
tích đất tranh chấp 665,6m
2
tại thôn N, Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông số tiền
15.134.000đ (mười lăm triệu một trăm ba mươi bốn nghìn đồng) cho ông N
Phạm Thị H.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo
mức lãi suất tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông N Phạm Thị H phải trả cho ông
Đoàn Văn A chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản 16.820.000đ
(mười sáu triệu m trăm hai mươi nghìn đồng), được trừ vào số tiền thanh toán
cây cối, ông N H phải trả cho ông A số tiền 1.686.000đ (một triệu sáu
trăm tám mươi sáu nghìn đồng). Ông Đoàn Văn A phải chịu chi phí khai thác tài
liệu là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng), ông A đã thực hiện xong.
5. Về án phí: Ông N Phạm Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng án phí dân sự thẩm. Trả lại ông Đoàn n A số tiền 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
tòa án số 0006426 ngày 21/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gia
Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt tại phiên tòa được quyền kháng
cáo bản án thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không
mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 của
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Nông;
- VKSND tỉnh Đắk Nông;
- VKSND thành phố Gia Nghĩa;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
- Chi cục THADS thành phố Gia Nghĩa;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
Nguyễn Thị Yến
Tải về
Bản án số 06/2025/DS-ST Bản án số 06/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 06/2025/DS-ST Bản án số 06/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất