Bản án số 04/2024/DS-PT ngày 16-01-2024 của TAND tỉnh Hà Nam về tranh chấp mốc giới, ranh giới quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
  • 04_2024_DS-PT_ HA NAM

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

  • 04_2024_DS-PT_ HA NAM

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 04/2024/DS-PT ngày 16-01-2024 của TAND tỉnh Hà Nam về tranh chấp mốc giới, ranh giới quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hà Nam
Số hiệu: 04/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/01/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Khắc H và Trần Khắc S tranh chấp mốc giới, ranh giới quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 04/2024/DS-PT.
Ngày: 16 - 01 - 2024.
V/v tranh chấp mốc giới, ranh
gii quyn sử dụng đất.
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hi đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Đoàn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Trưng và bà Nguyễn ThMai Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà ơng Th Hoà - Thư a án nhân dân tnh
Nam.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam: Th Thanh n
- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam
t xử phúc thẩm công kH v án n sự thụ số 36/2023/TLPT-DS ngày 09
tng 11 m 2023 về việc Tranh chấp mốc gii, ranh giới quyền s dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số 15/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023
của Toà án nhân dân huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam bị kháng cáo. Theo Quyết định
đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 26/2023/QĐ-PT ny 05 tháng 12 năm 2023
Quyết định tạm ngừng phiên toà ngày 19/12/2023; giữa các đương sự:
* Ngun đơn: Ông Trần Khắc H, sinh năm 1972; i trú
: Thôn Như
Đ, xã Trn Hưng Đ, huyện Lý Nh, tỉnh Nam; mặt.
* Bị đơn: Ông Trần Khắc S, sinh năm 1952; nơi trú
: Thôn Như Đ,
Trần Hưng Đ, huyện Lý Nh, tỉnh Nam; có mặt.
* Người có quyn li, nghĩa v liên quan:
- Trần Thị Ng, sinh năm 1961; i trú: Thôn Như Đ, Trần Hưng
Đ, huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Trần Thị O, sinh năm 1965; nơi trú: Thôn Như Đ, xã Trần ng
Đ, huyện Lý Nh, tnh Hà Nam; vắng mặt.
- Ông Trần Khắc B, sinh năm 1968; nơi trú: Thôn Như Đ, Trần
Hưng Đ, huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam; mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Ng, O ông B: Ông Trần Khắc
H, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn Như Đ, Trần Hưng Đ, huyện Lý Nh, tnh
Hà Nam; có mặt.
2
- Bà Phạm Thị Ch, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn Như Đ, xã Trần Hưng
Đ, huyện Lý Nh, tnh Hà Nam; vắng mặt.
- ChTrần ThCh, sinh năm 1991; nơi trú: Thôn 6, Ba Trại, huyện
Ba Vì, Thành ph Hà Nội; vắng mặt.
- Anh Trần Khắc Ch, sinh năm 1982; nơi trú: Thôn Như Đ, xã Trần
Hưng Đ, huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Anh Trần Khắc Đ, sinh năm 1984; nơi trú: Thôn Như Đ, Trần
Hưng Đ, huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Phạm Thị M, sinh năm 1931; nơi cư trú: Thôn NĐ, xã Trần Hưng
Đ, huyện Lý Nh, tnh Hà Nam; vắng mặt.
- U ban nhân dân Trần Hưng Đ, huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam. Người
đại diện theo pháp luật: Ông Trần n Ng - Chủ tịch UBND xã. Người đại diện
theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Tiên Ph - Phó Chủ tịch UBND Trần Hưng Đ,
vắng mặt.
* Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Khắc S.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và bản án dân sự sư thẩmng tác tài
liệu trong hồ sơ v án, nội dung vụ án như sau:
* Ngun đơn ông Trần Khắc H trình bày: Bố mông cụ Trn Khắc T
(chết 2002), c Nguyễn Thị T (chết năm 1987). Bố mẹ ông 4 nời con gồm:
Bà Trần Thị Ng, Trần Thị O, ông Trần Khắc B và ông Trần Khắc H. Hộ gia
đình ông đang sử dụng thửa đất 1810, tờ bản đồ số 15, diện tích 635m
2
, trong đó
300m
2
đất ở, 275m
2
đất vườn, vtrí thửa đất tại Thôn NĐ, xã Trần ng
Đ, huyện Nh, tỉnh Nam được Ủy ban nn huyện Nhân cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998 đứng tên hông Trần Khắc T. Thửa
đất tứ cận phía Đông giáp đất hộ ông M, phía Tây giáp đất hộ ông S, phía
Nam giáp sông, phía Bắc giáp đường QL62.
Về nguồn gốc thửa đất: B mông nhận chuyển nhượng của ông Hoàng
Văn S vào năm 1984 đến năm 1991 nhà nước đã đo và giao lại đất, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ôngTrần Khắc T. Thửa đất có
diện tích 300m2 đất ở của bố mông, diện tích 275m2 đất vườn tiêu chun
của cụ T, O, ông B, Ch và chị Ch.
Về quá trình sử dụng đất: Việc kH đất, xác nhận mốc giới với các hộ
liền kề và xây dựng c công trình n nhà, bếp, sân trên đất đều do bông
cụ T thực hiện. Thửa đất của hgia đình ông nhn chuyển nhượng từ hông S
người cùng , thửa đất phía Bắc giáp với diện tích ao của Ủy ban nhân dân
Trần Hưng Đạo, nhưng trong quá trình sử dụng đất gia đình ông có lấn chiếm
3
san lấp ao nên khi Nhà nước đo và giao lại đất thì diện tích đất ao được xác định
đất vườn. Khoảng năm 1988, bmông y ncấp 4, bức tường nhà phía
Tây cách mốc giới với đất hộ ông Skhoảng 01 mét. Khoảng năm 1990 gia đình
ông Svẫn còn nhà tranh vách đất, phía giáp đường 62 hiện nay n ao, trong
khi phần đất trống còn lại ca gia đình ông giáp đất hộ ông S đã được san lấp
bằng mặt đường nên bố đẻ ông S cụ Đ nói với bông mượn một phần
đất cho gia đình ông S làm nđi. Việc cụ Đ nói với cụ Tvviệc mượn đất ông
cũng được chứng kiến. Từ năm 1990 đến nay, hộ gia đình ông S vẫn làm nđi
trên diện ch đất mượn của gia đình ông. Vị trí tiếp giáp giữa đất hộ c T và đất
hộ ông S từ khi bố mông nhận chuyển nhượng đến nay một đường thẳng.
Trước năm 1988 gia đình ông và gia đình ông S phía đường 62 nđi t
nhau và ngăn cách nhau bởi hàng du y cúc tần, sau khi xây nbố mông
chuyển nđi vgiữa thửa đất, một phần ngõ cũ cho hộ ông S mượn, gia đình
ông S san lấp đổ bê tông làm ngõ đi, phía bờ sông đặc điểm mốc giới như thế
nào ông không biết, ông ch biết khoảng năm 1998 ông S xây bếp và hàng ngói
bếp vẫn nằm trên đất của hộ ông S. Khi n nước giao đất và cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất thì chiều dài cạnh pa Đông và phía Tây ông không
biết, ông chỉ biết cạnh phía Nam dài 17,94m, cạnh pa Bắc dài 17,98m đây
số liệu năm 1991 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1998.
Theo hồ địa chính thửa đất của hộ cụ T từ trước đến nay 4 cạnh đều
đường thẳng, nhưng do gia đình ông S mượn đất của gia đình ông làm ngõ đi mà
không trả nên gia đình ông đang thiếu đất, cạnh tiếp giáp hộ ông S đang không
thẳng mà có hình zic zắc. Cụ thể chiều dài giáp đường 62 và chiều dài cạnh giáp
sông đủ, nhưng bị thiếu ở đoạn giữa giáp đất h ông S từ vtrí mốc giới sát mép
đường 62 vào gần sát hi bếp hộ ông S theo hình tam giác, ước chừng khoảng
09m
2
. Nay ông H đnghị Tòa án căn cứ h địa chính khi nhà nước giao đất
năm 1991 để giải quyết v án, diện tích đất và các cạnh thửa đất của bố mẹ ông
khi n ớc giao đất đã ng, cạnh tha đất của bố mông giáp với đất h
ông S từ trước đến nay luôn một đường thẳng, ông S mượn đất làm ngõ đi
nhưng khi gia đình ông sử dụng yêu cầu ông S trả thì ông S kng trả. Đề ngh
Tòa án giải quyết đúng quy định của pháp luật.
* Bị đơn ông Trần Khắc S trình bày: H gia đình ông hiện nay đang sử
dụng thửa đất 1809, tờ bản đồ số 15, diện tích 465m
2
, trong đó 300m
2
đất ,
70m
2
đất vườn và 95m
2
đất ao, vtrí thửa đất tại Thôn Như Đ, xã Trần Hưng Đ,
huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam. Thửa đất tứ cận nsau: Pa Đông giáp đất h
Ph, phía Tây giáp đất hộ ông S, phía Nam gp Sông, phía Bắc giáp đường
62. Diện tích đất này gia đình ông được nhà nước giao từ khoảng năm 1973, đến
năm 1976 ông làm 3 gian nhà tre để ở, khi sử dụng đất và làm nhà thì phần đất
H n đã người khác làm nhà. Năm 1978 bố mông vcùng với ông, do
đặc thù công việc nên ông cũng thường xuyên vắng nhà, phần đất liền kvới
4
thửa đất của hộ gia đình ông mà hiện nay c con ông T đang sử dụng là do ông
T mua lại của hông S. Khoảng năm 1990, gia đình ông nhượng lại mt
phần đất phía Đông thửa đất cho gia đình ông Đ, việc chuyển nhượng do c
Đ bố đông thực hiện nên ông không biết cụ thể diện tích và chiều dài các cạnh
phần đất này. Do thửa đất của gia đình ông phía trong ao hợp tác nên năm
1976 ông phải san lấp một phần diện tích ao để làm ngõ đi, gia đình ông sử dụng
diện tích ngõ này từ m 1976 đến nay. Trong qtrình sử dụng đất, hộ gia
đình ông T mặc dù nhận chuyển nợng t h ông S và đến sau nhưng ông T
xây nhà trước, toàn bộ tường bao phân đnh ranh giới giữa đất của gia đình ông
gia đình ông T do hông T xây m 1990, ông T y tường không báo cho
gia đình ông biết để thống nhất mốc giới, khi đi làm vthì đã thấy gia đình ông
T xây xong tường, ông phát hiện tường xây không đúng mốc giới nên đã đến Ủy
ban nhân dân xã Nhân Đạo (nay Trần Hưng Đạo) đề nghị giải quyết nhưng
không được xã giải quyết dứt điểm. Ông xác định ông T xây tường bao lấn sang
đất nhà ông, vì năm 1987 ông T xây nthì ông T sang nhà ông nói cho ông
ấy tận dụng y công trình hết đất, nên nhờ chân móng nhà trên đất của gia đình
ông còn bức ng nhà chính mốc giới thửa đất giữa đất ca ông và đất hộ
ông T. Ông T xây tường bao lấn sang đất hộ gia đình ông, đoạn tường bao cạnh
giáp đất n ông từ đường 62 vào sát mép tường nông T chưa đúng mốc mà
lấn sang đất của ông khoảng hơn 10cm, đoạn tường bao phía trong từ sát mép
tường nhà ra bờ sông thì ông T lại tạo hình gấp khúc vng góc lấn sang đất n
ông khoảng hơn mt mét chạy hết đất.
Hiện nay, vchồng ông T đã chết, anh H con trai của ông T đang trực
tiếp sử dụng diện tích đất ca hộ ông T, anh H cho rằng gia đình ông mượn diện
tích ngõ đi và lấn chiếm đất của hộ ông T không cnh xác. Ông xác định,
cạnh thửa đất của hộ gia đình ông giáp thửa đất của hộ ông T tkhi ông được
giao đất đến nay một đường thẳng, nng ông T y tường đã lấn sang đất
của gia đình ông phía bờ sông n tạo thành đường gấp khúc. toàn bộ các
công trình xây dựng như nhà ở, bếp, tường bao của gia đình ông T đều xây trước
nhà ông. Năm 2002 và 2005 ông mi xây bếp, xây nhà, diện tích ngõ đi ông tự
vượt lập từ diện ch ao của hợp tác , chính anh B con trai ông T chở gạch
xỉ vôi san lấp ngõ thuê cho gia đình ông. Gia đình ông T đã xây dựng ờng bao
từ năm 1990, nhưng không đúng mốc giới nên ông đã đề nghị y ban nhân dân
giải quyết, sau khi ông T chết anh H đã nhng lời lẽ chửi bới, xúc phạm,
đe dọa và dùng gạch ngói ném sang nhà ông. Nay anh H con trai ông T đã
khởi kiện cho rằng ông lấn đất của hộ gia đình ông Tkhông có căn cứ, ông đề
nghị Tòa án giải quyết v án theo quy định của pháp luật, căn cứ hồ sơ địa chính
để giải quyết, đất của gia đình ông được giao đến đâu tông sdụng đến đó.
Nếu ông lấn đất của ông T ông sẽ trả, nếu h ông T lấn đất nhà ông thì các con
của ông T phi d bc i sn đã y dựng để tr đất cho gia đình ông.
5
* Nời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Thị Ng, bà Trần Thị O
ô
ng Trần Khắc B tại bản tự kH trình
bày: Thửa đất 1810, t bản đ số 15, diện ch 635m
2
, trong đó 300m
2
đất ở,
275m
2
đất vườn, vtrí thửa đất tại Thôn Như Đ, Trần Hưng Đ, huyện Nh,
tỉnh Hà Nam được Ủy ban nhân dân huyện Nhân cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất năm 1998 n người sử dng đất là hộ ông Trần Khắc T di sản
của cT và cụ T chết để lại không di cc và phần đất tiêu chuẩn ca hộ gia
đình, hiện gia đình cũng chưa chia thừa kế. Sau khi cT c T chết thì v
chồng ông H và Ch quản lý, sử dụng; sau này gia đình đo đạc thấy diện tích
đất của cT bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cạnh phía
giáp danh với hộ ông S không đúng với đồ, vì vậy gia đình đã làm đơn đ
nghị UBND xã Trần Hưng Đạo giải quyết, theo hồ sơ địa chính xác định hộ ông
S đã lấn chiếm khoảng 09m
2
đất; Ng, O và ông B nhất trí vi yêu cầu khởi
kiện của ông H, đề nghị Tán buộc hông Trần Khắc S phải tháo dcông
trình đtrả lại cho gia đình cụ T diện tích đất trên.
- Chị Trần Thị Ch trình bày: Về nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất
1810, tờ bản đồ số 15, diện tích 635m
2
(trong đó 300m
2
đất ở, 275m
2
đất
vườn) vtrí tại Thôn Như Đ, Trần Hưng Đ, huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam được
y ban nhân dân huyện Nhân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm
1998 có tên người sử dụng đất hộ cụ Trần Khắc T. Chị là thế hệ cháu nội còn
nhỏ tuổi không biết vnguồn gốc, qtrình sử dụng thửa đất.vậy, đề nghị
Tòa án giải quyết v án theo quy định của pháp luật. Hiện nay chị đã lấy chồng
làm ăn sinh sống tại huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội nên việc đến Tòa án
làm việc khó khăn, chxin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc vi Tòa án.
Chị sẽ y quyền cho ông bố đẻ của chị tham gia tố tụng và quyết định tất cả
các vấn đề liên quan đến v án.
Kết quả thẩm định, định giá tài sản và đo đạc c định: Diện tích đất đang
tranh chấp là 15,7m
2
đất vườn, trị giá 15,7m
2
x 700.000 đồng = 10.990.000 đồng.
Đối với tài sản trên đất, gồm sân tông diện tích 15,5m
2
trị giá 1.170.000 đồng
một phần diện tích lán tôn.
Tại bản án dân sự thẩm số 15/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 ca Tòa án
nhân dân huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam quyết định:
Căn cứ các Điều 147, 271, 273 Bộ luật Ttụng dân sự; các Điều 175 và
Điều 176 Bộ luật n sự; các Điều 166, Điều 167, Điều 203 Luật Đất đai năm
2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường v Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Khắc H: Buộc ông Trần
Khắc S phải tháo dlán tôn, n bê tông đã xây dựng trên đất để trả lại cho
6
Trần Thị Ng, Trần ThO, ông Trần Khắc B và ông Trần Khắc H (những
người thừa kế của cTrần Khắc T cụ Nguyễn Thị T) diện tích 13m
2
đất vườn
đã lấn chiếm, thuộc thửa số 1810, tờ bản đồ số 15, vtrí thửa đất tại Tn Như
Đ, xã Trần Hưng Đ, huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam.đồ đo đạc có hiện trạng như
sau: Điểm s 6 điểm chung, từ điểm số 6 đến điểm 7 dài: 20,64m; từ điểm s
7 đến điểm 10 dài: 0,96m; tđiểm 10 đến điểm 11 dài: 6,14m; từ điểm 11 đến
điểm 12 dài: 6,22m; từ điểm 12 đến điểm 6 dài: 8,31m (có đồ kèm theo bn án).
2. V chi p tố tụng: Ông Trần Khắc S trách nhiệm thanh toán trả cho
ông Trần Khắc H số tiền chi phí xem t thẩm định, định giá và đo đạc các thửa
đất là 6.851.000 (Sáu triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn đng).
3. Về án phí dân sự thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm cho ông
Trần Khắc S.
Trả lại ông Trần Khắc H stiền 1.000.000 (Một triệu) đồng tạm ứng án
phí ông H đã nộp theo biên lai số 0001143 ngày 10/10/2022 tại Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam.
4. Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên quyền yêu cầu thi hành án quyền
kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 11 tháng 10 năm 2023, ông Trần Khắc S kháng cáo đề nghToà án
cấp phúc thẩm: Thu thập thêm tài liệu làm căn cứ giải quyết v án khách quan;
đo đạc lại thửa đất cho gia đình ông theo phía Đông giáp hông T, phía Tây
giáp hộ Ph; sửa toàn bộ bản án thẩm, không chấp nhn tn byêu cầu
khởi kiện ca nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm ông Trần Khắc S giữ nguyên đơn kháng cáo.
Nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam phát biểu về gii quyết
vụ án.
Về thủ tục t tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội
đồng xét xvà việc chấp hành pháp luật của những người tham gia t tụng đều
thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết ván: Đề nghị Hội đồng t xử áp dụng khoản 2
Điều 308 Bộ luật Ttụng dân sự, chấp kháng cáo của ông Trần Khắc S; sửa bản
án dân sự thẩm số 15/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Toà án nhân dân
huyện Lý Nh, tỉnh Hà Nam theo hướng bác toàn bộ đơn khởi kiện của ông Trần
Khắc H, ván pdân sự phúc thẩm ông Trần Khắc S kng phải chịụ và kiến
nghị HĐXX phúc thẩm cần rút kinh nghiệm đối với cấp thẩm trong việc
thông báo nộp tiền tạm ứng án pphúc thẩm cho đương sự, cụ thtrong v án
7
này Tán cấp thẩm ra thông báo cho ông Trần Khắc S nộp án phí phúc
thẩm với số tiền là 200.000 đồng là chưa chính xác với quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ v án đưc thẩm tra tại
phiên a, căn cvào kết quả tranh tng tại phiên tòa, nghe Kiểm sát viên phát
biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét x nhận đnh:
[1]. V tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Khắc S trong thời hạn lut
định. Vì vy, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp phúc thẩm theo quy
định tại Điều 293 ca Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên toà một sngười quyền lợi, nghĩa vliên quan vắng mt,
n cứ Điều 296 Bluật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo
quy định.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của ông Trần Khắc S, Hội đồng t xử phúc
thẩm thấy:
Hộ cụ T sử dụng hợp pháp thửa đất 1810, tờ bản đồ số 15, có nguồn gốc
nhận chuyển nhượng của hộ ông Hoàng Văn S tnăm 1984. Năm 1998 hộ cụ T
được UBND huyện Nhân, tỉnh Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, trong đó sử dụng riêng vi diện ch 635m
2
ất 360m
2
, đất thổ canh
275m
2
), còn 80m
2
đất ờn của HTX. m 1987 cụ T mất, năm 2002 cT mất,
v chồng ông H con trai của cụ T và c T người trực tiếp quản lý, sử dụng
thửa đất. Khi cụ T còn sống đã xây nhà cấp 4, tường bao trên đất t năm 1987
không xảy ra tranh chấp gì về mốc gii với hộ ông S.
Hộ ông Trần Khắc S sử dụng thửa đất số 1809, tờ bản đ số 15 được
UBND huyện Lý Nhân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998, trong
đó sử dụng riêng diện tích 370m
2
ất ở 300m
2
, đất vườn 70m
2
) còn 95m
2
đất ao
của HTX, năm 2007 hộ ông S được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thành thửa 178, t bản đồ số 15, diện tích đất 370m
2
.
Năm 2012 thực hiện đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dng đất,
tuy nhiên gia đình ông H và gia đình ông S tranh chấp mốc giới nên quan
thẩm quyền chưa thực hiện việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho H hộ.
Nay nguyên đơn ông Trần Khắc H khởi kiện cho rằng hộ ông S đã sử
dụng lấn chiếm sang thửa đất của cụ T vi diện tích 13m
2
đất vườn, yêu cầu Toà
án giải quyết buộc hộ ông S trả lại diện tích đất trên. Bị đơn ông S không nhất trí
vi yêu cầu của nguyên đơn và cho rằng hcT y nhà, tường bao tnhững
năm 1990, khi xây đã lấn sang đất nông S, bản thân gia đình ông S cũng đã
đề nghị chính quyền địa phương giải quyết nhưng không được giải quyết dứt
điểm. Năm 2002 ông S xây bếp và năm 2005 thì xây nhà; năm 2018 hông H
8
làm đơn gửi UBND Trần Hưng Đạo cho rằng hộ ông S đã lấn đất của cụ T.
UBND xã Trần Hưng Đạo đã tiến hành hoà giải, tại phiên hoà giải UBND đã
kết luận gia đình ông H phải trả cho gia đình ông S một đầu 1,2m và một đầu
1,8m kéo dài vphía bờ sông, tuy nhiên ông H không trả mà lại tiếp tục kiện
cho rằng gia đình ông S lấn đất của hộ cụ T.
Theo kết quđo đạc hin trạng thì thửa đt hộ cụ T do ông H đang quản
và sử dụng có diện ch 657m
2
(trong đó có 360m
2
đất ở, 275m
2
đất thổ canh
22m
2
đất BHK) đây đất do gia đình ông H vượt lấn đất UB. Đối với hiện
trạng thửa đất hộ gia đình ông S đang quản lý và sử dụng diện tích 470m
2
(trong đó có 300m
2
đất ở, 70m
2
đất vườn và 100m
2
đất BHK) do vượt lấn đất
phía bờ sông do UB qun lý. Như vy theo hiện trạng sử dụng đất thì H hộ đều
không thiếu đất ở, không thiếu đất vườn, đúng vi diện tích đất đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1998.
Tại phiên toà pc thẩm ngày 19/12/2023, ông Trần Khắc S đ nghị Hội
đồng t xử tạm ngừng phiên toà để tiến hành việc xem xét, thẩm định tại ch
lại mốc giới giữa H gia đình. Ngày 04/01/2024, Toà án cấp phúc thẩm tiến hành
việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với mốc giới giữa H thửa đất nông S và
nhà c T. Mặt khác từ năm 1987 gia đình cT bố của ông H đã xây dựng nhà
cấp 4 như hiện nay, xây nhà trước khi cụ T được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, như vy về mốc giới giữa H gia đình đã được tồn tại qua nhiều năm,
hai bên không tranh chấp vmốc giới. Tuy nhiên Toà án cấp thẩm n cứ
o bản đồ địa chính năm 1994 được thể hiện cạnh phía Tây thửa đất của h c
T giáp với thửa đất hông S gồm 02 đoạn có chiều dài lần ợt 28,64m và
10,25m. Tổng chiều dài 38,39m đbuộc hộ ông S phải tháo dỡ lán tôn, n
tông xây dựng trên diện tích 13m
2
đất vườn để trả cho ông H con của cụ T đang
quản lý và sử dụng là chưa cnh xác.
Đối với kiến ngh của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam: Đề nghị
HĐXX phúc thẩm cần rút kinh nghiệm đối với cấp thẩm trong việc thông báo
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho các đương sự, cụ thể trong v án này
Tán cấp thẩm ra thông báo cho ông Trần Khắc S np án phí dân sự pc
thm với stiền là 200.000 đồng là chưa chính xác với quy định của pháp
lut, qua xem xét kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam tại
phiên toà là căn cứ. vậy, Hội đồng xét xử đnghị Toà án cấp thm
cầnt kinh nghiệm, tránh đxảy ra sai t nêu trên.
Tnhững phân tích nêu trên, Hội đồng t xử phúc thẩm căn cchấp
nhận đơn kháng cáo của ông Trần Khắc S, sửa bản án dân sự thẩm s
15/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Nh theo hướng
không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Trần Khắc H.
3. Về án phí và chi phí tố tụng:
9
- Án pdân sự sơ thẩm: Ông Trần Khắc H phải chịu 300.00 (Ba trăm
nghìn đồng) đối trsố tiền ông H đã nộp 1.000.000 đng (Một triu đồng) nay
ông H được nhận lại số tiền 700.000 đng (Bẩy trăm nghìn đng) tiền tạm ng án
phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/0001143 ngày 10/10/2023 tại Chi cục thi
nh án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Chi phí xem t thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 07 tháng 2
năm 2023 hết 6.851.000 đng (Sáu triệu m trăm lăm mươi mốt nghìn đồng)
ông Trần Khắc H phải chịu, số tiền này ông H đã nộp và thanh toán xong. Đối
vi chi phí xemt, thẩm định tại chỗ ngày 04 tháng 01 năm 2024 hết 4.600.000
đồng (Bốn triệu u trăm nghìn đồng) ông Trần Khắc S phải chịu và đã được
thanh toán xong.
- Án pdân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông S được chấp nhận nên
không phải chịu.
[4]. Các quyết đnh khác ca n án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật T tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo
của ông Trần Khắc S; sửa bản án dân sự thẩm số 15/2023/DS-ST ny
30/9/2023 của a án nhân dân huyện Nhân, tỉnh Nam.
Áp dụng các Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 175 và
Điều 176 Bộ luật n sự; các Điều 166, Điều 167, Điều 203 Luật Đất đai năm
2013. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ny 30 tháng 12 năm 2016 ca Ủy
ban Thường v Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn kng cáo của ông Trần Khắc S đề nghị cấp pc thẩm:
Kng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn.
2. Kng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Khắc H: Buộc ông
Trần Khắc S phải tháo dỡ lán tôn, sân bê tông đã xây dựng trên đất để trả lại cho
Trần ThNg, bà Trần ThO, ông Trần Khắc B và ông Trần Khắc H (những
người thừa kế của cụ Trần Khắc T cụ Nguyễn Thị T). Giữ nguyên hiện trạng
mốc giới giữa H gia đình ông Trần Khắc H và ông Trần Khắc S cụ thể: Điểm số
6 điểm chung, từ điểm số 6 đến điểm số 7 dài 8,31m, từ đim s7 đến điểm
số 8 dài 6,22m, từ điểm số 8 đến điểm 9 dài 6,15m, từ điểm số 9 đến điểm số 10
dài 0,97m (có đồm theo bản án).
3. Về án phí và chi phí tố tụng:
- Án pdân sự sơ thẩm: Ông Trần Khắc H phải chịu 300.00 (Ba trăm
nghìn đồng) đối trsố tiền ông H đã nộp 1.000.000 đồng (Một triu đồng) nay
ông H được nhận lại số tiền 700.000 đng (Bẩy trăm nghìn đng) tin tạm ng án
10
phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/0001143 ny 10/10/2023 tại Chi cục thi
nh án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Chi phí xem t thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 07 tng 2
năm 2023 hết 6.851.000 đng (Sáu triệu tám trăm lăm mươi mốt nghìn đồng)
ông Trần Khắc H phải chịu, số tiền này ông H đã nộp và thanh toán xong. Đối
vi chi phí xemt, thẩm định tại chỗ ngày 04 tháng 01 năm 2024 hết 4.600.000
đồng (Bốn triệu u trăm nghìn đồng) ông Trần Khắc S phải chịu và đã được
thanh toán xong.
- Án pdân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông S được chấp nhận nên
không phải chịu; trả lại cho ông Trần Khắc S số tiền 200.000 đồng (H trăm
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số
AA/2021/0002886 ngày 19 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân
huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
4. Các quyết định khác của bản án thẩm kng có kng o, kháng
nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án dân sự phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- TAND huyện Lý Nh;
- Chi cục THADS huyện Lý Nh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XPHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trần Công Đoàn
Tải về
04_2024_DS-PT_ HA NAM 04_2024_DS-PT_ HA NAM

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

04_2024_DS-PT_ HA NAM 04_2024_DS-PT_ HA NAM

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất